NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Việt Nam không thiếu sinh viên đẳng cấp quốc tế - GS Thomas Vallely

“Trong vòng 10 năm tới , Việt Nam hoàn toàn có thể có trường lọt vào Top 200 trường Đại Học hàng đầu thế giới. Tuy chưa xây dựng được trường đẳng cấp quốc tế nhưng Việt Nam không thiếu Sinh Viên đẳng cấp quốc tế.” – Đó là nhận định của ông Thomas Vallely, Giám đốc Chương trình Việt Nam của Đại Học Harvard ( Hoa Kỳ ).

Phân loại “hệ sinh thái” Đại Học để trao quyền tự chủ

Theo bảng xếp hạng mới nhất của Webometrics, Việt Nam chỉ có 7 trường nằm trong Top 100 trường Đại Học hàng đầu Đông Nam Á. Các bảng xếp hạng Châu Á và thế giới thì hoàn toàn vắng bóng các trường Đại Học Việt Nam. Trong khi đó, theo chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2020, Việt Nam đặt mục tiêu có 1 trường nằm trong Top 100 và 1 số trường nằm trong Top 500 của thế giới. Theo ông, mục tiêu này có thể thành hiện thực được không ?

Trước hết, tôi phải nói rằng mục tiêu này hoàn toàn có thể thực hiện được, thậm chí còn có thể thực hiện được trong khoảng thời gian ngắn hơn. Vấn đề là làm thế nào để thiết lập một loạt chính sách tạo điều kiện cho trường Đại Học đẳng cấp quốc tế ở Việt Nam ra đời.

Tôi còn nhớ Nghị quyết 14 của Chính phủ Việt Nam ban hành tháng 11/2005 đã đưa ra những tiêu chuẩn cơ bản để Việt Nam xây dựng 1 trường Đại Học đẳng cấp quốc tế. Có thể hình dung Nghị quyết 14 như là một lộ trình chung. Và bây giờ công việc mà Việt Nam phải làm là đưa Nghị quyết này vào các công việc cụ thể.

Nghị quyết 14 ghi rõ rằng Việt Nam sẽ cần “hệ sinh thái” các trường Đại Học bao gồm nhiều loại hình Đại Học khác nhau, cả trường Đại Học nghiên cứu, trường đẳng cấp quốc tế và cả những trường dạy nghề, trường chuyên ngành, trường cấp vùng cung cấp nhân lực cho địa phương.

Chỉ có một môi trường như thế mới có thể đào tạo được những người có đủ kiến thức và kỹ năng cũng như tạo ra những sáng tạo mà Việt Nam cần trong tương lai.

Tôi cũng lưu ý rằng, nhiều khi dư luận tập trung nhiều vào các trường Đại Học tinh hoa nhưng thực chất nhu cầu của Việt Nam rộng hơn nhiều. Và tôi tin rằng Bộ Giáo Dục - Đào Tạo Việt Nam hoàn toàn nhận thức được điều đó.

Với 1 “hệ sinh thái” giáo dục đa dạng như vậy, liệu có thể trao quyền tự chủ cho tất cả các trường không ?

Trong hệ sinh thái với những trường được phân định rõ ràng thì mỗi trường sẽ được trao quyền tự chủ khác nhau tùy vào sứ mệnh.

Việt Nam đang thúc đẩy quá trình trao quyền tự chủ cho các trường Đại Học nhưng trước khi đẩy mạnh quá trình đó thì cần thiết phải phân loại các trường.

Quyền tự chủ là yếu tố tối quan trọng đối với các trường Đại Học nghiên cứu, Đại Học hàng đầu nhưng các trường dạy nghề, trường cấp vùng không cần mức độ tự chủ cao như vậy. Khả năng quản lý của các trường này vẫn còn hạn chế nên việc trao nhiều quyền tự chủ cho các trường đó chưa chắc đã mang lại hiệu quả. Tôi xin nhấn mạnh rằng, cần có chính sách khác nhau cho những loại trường khác nhau.

Với hệ thống giáo dục còn nhiều bất cập như hiện nay, Chính phủ Việt Nam cần phải chuẩn bị kỹ cho quá trình nới lỏng các chính sách, nếu không có thể sẽ không mang lại hiệu quả như mong muốn.

Trong quá trình nới lỏng quy định để tạo ra không gian cho các trường thì phải tăng cường trách nhiệm giải trình của trường. Đó là trách nhiệm trước Chính phủ, trước đội ngũ giảng viên, Sinh Viên, và đặc biệt là thị trường lao động nơi sẽ sử dụng sản phẩm đầu ra của trường.

Song hành với quá trình trao thêm quyền tự chủ cũng cần tạo môi trường cạnh tranh giữa các trường. Đây có thể là một công cụ hữu hiệu để tăng cường chất lượng của hệ thống giáo dục. Trong 20 năm trở lại đây, Việt Nam đã sử dụng công cụ cạnh tranh rất thành công trong nhiều lĩnh vực, mà Internet là một ví dụ điển hình..

Trong môi trường có thêm cạnh tranh thì các trường phải chịu trách nhiệm nhiều hơn. Tất cả vì mục đích cao nhất là tăng cường chất lượng.

Tuy nhiên, ở đây tôi cũng muốn nói thêm rằng việc nới lỏng các chính sách, việc trao quyền tự chủ cho các trường đại học, việc để cho các trường cạnh tranh với nhau hoàn toàn khác với việc thương mại hoá giáo dục hay nói theo cách của Việt Nam là “xã hội hoá giáo dục” mà nó được hiểu rằng có thể coi giáo dục như là một lĩnh vực kinh doanh vì mục đích lợi nhuận.

Hiện đang có một quan niệm hết sức sai lầm rằng để có thể có một hệ thống giáo dục tốt Việt Nam cần phải mở cửa kêu gọi nước ngoài đầu tư vào các trường đại học. Trên thực tế, chưa có một hệ thống giáo dục nào thành công mà nhà nước không đóng vai trò chính. Tôi lấy ví dụ như trường Harvard, trường đại học được xem là giàu có nhất thế giới và sinh viên học ở đây phải trả một mức học phí rất cao, nhưng ngay cả ở mức như vậy họ cũng đang được chính phủ Hoa Kỳ trợ cấp ( một cách gian tiếp ) một tỉ lệ phần trăm học phí đáng kể.

Kiểm định chất lượng “có răng”

Bộ Giáo Dục - Đào Tạo vừa công bố 1 loạt chính sách mới liên quan tới kiểm định chất lượng như phân bổ kinh phí nghiên cứu, đào tạo dựa trên chất lượng, cho phép các trường qua kiểm định chất lượng tự quyết định khung học phí. Theo ông, liệu đây có thể là đòn bẩy để nâng cao chất lượng giáo dục Đại Học ở Việt Nam ?

Trước hết, tôi khẳng định rằng kiểm định chất lượng là 1 công cụ rất quan trọng để Bộ Giáo Dục - Đào Tạo điều tiết được quá trình nới lỏng và trao thêm quyền tự chủ cho các trường. Việt Nam cần thiết xây dựng cơ chế kiểm định chất lượng mới có thể tiếp tục cải cách hệ thống giáo dục Đại Học.

Nhưng chúng ta phải nhớ rằng cơ chế kiểm định chất lượng chỉ là một công cụ chứ không phải là loại thuốc có thể chữa bách bệnh. Riêng kiểm định thôi thì không giải quyết được vấn đề chất lượng.

Cơ chế kiểm định chất lượng chỉ hiệu quả khi các trường phải chịu trách nhiệm. Nói theo lối của người Mỹ là quá trình kiểm định chất lượng “có răng”. Tức là kiểm định phải kèm việc xử lý chứ không chỉ đưa ra rồi kiểm định xong mọi việc vẫn như cũ.

Giả sử trường hợp trường A có sứ mệnh là giảng dạy và nghiên cứu khoa học nhưng đội ngũ giảng viên của trường này không xuất bản nhiều bài nghiên cứu có giá trị. Nếu trong quá trình kiểm định chất lượng thực thụ thì trường đó sẽ bị đánh giá thấp về hiệu quả và sẽ phải chịu các chế tài.

Chẳng hạn ở Mỹ có trường Đại Học qua kiểm định không đảm bảo chất lượng thì hiệu trưởng phải từ chức hoặc nếu là trường công thì chính quyền tiểu bang sẽ cắt giảm ngân sách hoặc có chế tài phù hợp.

Việt Nam không thiếu Sinh Viên đẳng cấp quốc tế

Cùng với Đại Học đẳng cấp quốc tế, Việt Nam cần cả những Sinh Viên đẳng cấp quốc tế. Theo ông, làm thế nào để đào tạo được Sinh Viên đẳng cấp quốc tế trong điều kiện Việt Nam hiện nay ?

Việt Nam không thiếu Sinh Viên đẳng cấp quốc tế. Tôi rất thích trò chuyện với các Sinh Viên Việt Nam vì họ rất giỏi, rất thông minh. Nói một cách công bằng, Sinh Viên ở đâu cũng na ná như nhau thôi, Sinh Viên Việt Nam cũng giống như Sinh Viên Mỹ thôi. Sinh Viên Việt Nam không nên nghĩ rằng họ là “trường hợp đặc biệt” so với Sinh Viên các nước khác.

Xã hội Việt Nam là một xã hội hiếu học và đặt giá trị của giáo dục rất thiêng liêng. Đó là một sức mạnh của giáo dục Việt Nam. Khi Sinh Viên Việt Nam được học trong những trường tốt, trong điều kiện thuận lợi luôn rất thành công.

Vì thế, cần tạo môi trường thuận lợi học tập thuận lợi cho họ, trong đó phải có tự do học thuật, cởi mở về tư tưởng và rất lành mạnh, mỗi người được đánh giá chính xác theo khả năng của mình.

Tôi đánh giá rất cao nỗ lực của Bộ Giáo Dục - Đào Tạo Việt Nam loại bỏ tiêu cực trong giáo dục và khoa học : những hoạt động khoa học không mang lại kết quả mà chỉ là nơi chia chác thứ này thứ khác, gian lận thi cử… Đó là điều kiện tiên quyết để có môi trường cho Sinh Viên Việt Nam tiếp tục phát triển và trưởng thành.

Tuy nhiên, chúng ta biết rằng, với thực trạng giáo dục đại học nói riêng, giáo dục Việt Nam nói chung như hiện nay, việc đưa ra các chính sách mới vừa để sửa chữa những bất cập hiện tại, vừa có thể lường đón và giảm thiểu hết các tác dụng phụ không phải là điều dễ dàng. Đây chính là một trong những khó khăn nhất đối với những người phải trực tiếp làm cái công việc khó khăn này.

Do vậy, việc có nhiều ý kiến trái chiều đối với những chính sách mới là điều dễ hiểu. Trong những trường hợp như vậy cần phải quyết đoán và chấp nhận đương đầu. Những nhà cải cách thường thành công nhờ tố chất này.

Việt Nam có nhiều nhà khoa học trẻ rất giỏi. Nhiều người đã rất thành công trong nước và nước ngoài. Nhưng cũng không nên đề cao quá nhiều những thành tựu cá nhân như thành tích trong kỳ thi Toán quốc tế vì đó chỉ là các trường hợp cá biệt. Điều đáng quan tâm hơn cả là khả năng đào tạo được nhiều người đáp ứng nhu cầu của các nhà tuyển dụng hay nói một cách đơn giản là những người có thể làm việc được.

Tôi xin đưa ra một con số sẽ làm những ai quan tâm phải suy nghĩ rất nhiều. Vừa qua khoảng 2000 sinh viên được xem là ưu tú tại các trường của Việt Nam tham dự kỳ thi tuyển dụng của Intel. Bài thi gồm 50 câu hỏi với mức yêu cầu để vượt qua là phải đúng tối thiểu 60%. Kết quả chỉ có khoảng 90 bạn làm được điều này.

Một thực tế đáng buồn là với cơ chế quản lý hiện tại của Việt Nam thì khó có khả năng cử Sinh Viên đi du học trong các chương trình đào tạo tiến sỹ quốc tế uy tín nhất, trong khi cơ hội trong nước dường như không có.

Tất nhiên luôn có những cá nhân tài năng có thể vượt qua những hạn chế của hệ thống để tự tìm đường cho mình. Nhưng đó chỉ là thiểu số. Chúng ta cần tìm ra cơ chế để tạo điều kiện cho đa số Sinh Viên có cơ hội này.

Đó là lý do tại sao Việt Nam cần cải tổ toàn bộ hệ sinh thái giáo dục.

Một Sinh Viên đẳng cấp quốc tế có nghĩa là sau khi tốt nghiệp có thể làm ở bất cứ đâu trên thế giới, tại bất kỳ tập đoàn lớn nào. Nhưng đại diện các tập đoàn như Microsoft, Boeing hay Intel đều nhấn mạnh rằng Sinh Viên Việt Nam rất kém tiếng Anh và thiếu kỹ năng mềm như kỹ năng giao tiếp, lãnh đạo, làm việc nhóm… Theo ông, các trường Đại Học của Việt Nam nên làm gì để tăng cường kỹ năng mềm cho Sinh Viên ?

Theo tôi, khi đề cập đến “phần mềm”, ý của các nhà tuyển dụng chính là muốn thay đổi hệ thống, chính sách, đặc biệt là cơ chế quản trị. Tôi cho rằng chìa khóa quan trọng nhất là giáo dục đại cương ( general education ). Mục đích là trang bị cho người học những kỹ năng cơ bản để tiếp tục học hỏi cả đời.

Nguyên Hiệu trưởng Đại Học Harvard Lawrence H. Summers từng phát biểu trong chuyến thăm của Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải tới Harvard năm 2005 rằng: “Sinh Viên phải được phép “thử thách” ( challenge ) giáo viên của mình.” SV nên được khuyến khích trao đổi, đặt câu hỏi, tranh luận với giảng viên.

Tôi cũng rất tâm đắc với ý kiến của TS. Nguyễn Sỹ Dũng trên một tờ báo Việt Nam cách đây vài ngày rằng Sinh Viên Việt Nam không nên xưng “em” mà nên xưng “tôi” với giáo viên. Họ không nên ngồi yên nghe giảng mà phải trực tiếp tham gia bài giảng.

Lan Hương

Ông Thomas Vallely : Tôi chưa bao giờ định từ bỏ Việt Nam

Ông Thomas Vallely chia sẻ về hành trình dài hơn 20 năm gắn bó với VN trên cương vị Giám đốc Chương trình VN tại ĐH Harvard, "cha đẻ" của trường Fulbright tại TP.HCM.

Đầu năm 1989, Thomas Vallely, Giám đốc Chương trình VN tại ĐH Harvard, cựu lính thủy đánh bộ trong chiến tranh VN cùng GS Dwight Perkins, sau này là Giám đốc Viện Phát triển Quốc tế Harvard có chuyến thăm Việt Nam. Khi đó, đất nước mới bắt đầu tiến trình Đổi Mới và hầu hết các nhà lãnh đạo VN khi ấy vẫn còn rất mơ hồ về những khái niệm kinh tế thị trường.

Những vết thương chiến tranh vẫn còn hiện diện trên khắp đất nước. Vậy mà ngược với dự đoán ban đầu, nhóm tư vấn của Harvard thấy mình được chào đón ở VN, được nghiên cứu bất kỳ vấn đề kinh tế quan trọng nào.

"Ngay từ những ngày tháng ban đầu, còn nhiều khó khăn khi ấy, các lãnh đạo VN và TPHCM đã quan tâm, thậm chí đặt hàng cụ thể với Viện Đại học Harvard. Với chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã mời, tạo điều kiện cho công việc của nhóm nghiên cứu. Các nhà lãnh đạo VN mong muốn VN không chỉ thoát nghèo nàn, mà còn sớm công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sánh vài các cường quốc năm châu như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh", Thứ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung nhớ lại.

Trong những năm 1990 và 1991, Vallely và GS David Dapice, một nhà nghiên cứu về kinh tế VN đã tổ chức nhiều chuyến tham quan, khảo sát cho các nhà hoạch định chính sách, các bộ trưởng phụ trách kinh tế và nhiều quan chức cấp cao khác ở Indonesia, Hàn Quốc, Đài Loan và Thái Lan. Đối với nhiều thành viên, đó là chuyến đi đầu tiên của họ đến các nước láng giềng đang phát triển rất nhanh chóng khi ấy, và là cơ hội ban đầu để gặp gỡ những đồng sự chịu trách nhiệm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện mức sống người dân. Trong các thành viên khi ấy, có ông Phan Văn Khải, người một thập niên sau trở thành Thủ tướng của VN.

Đấy cũng là lúc mà Chương trình VN của ĐH Harvard do Thomas Vallely sáng lập bắt đầu ghi dấu ấn sâu đậm của mình, với sáng kiến thành lập Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại TP.HCM (FETP hay còn gọi là trường Fulbright) vào năm 1994, trước cả khi hai nước bình thường hoá quan hệ.

Nhờ những hậu thuẫn chính trị quan trọng từ các nhà lãnh đạo VN cũng như Mỹ, từ một chương trình một năm đào tạo các khoá học về kinh tế học cổ điển theo chương trình giảng dạy của Harvard, giờ đây, sau 20 năm, FETP đã có hơn 1000 cựu sinh viên nắm giữ các trọng trách trong các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương, trong khu vực công cũng như lãnh đạo doanh nghiệp.

Hoàn tất một chặng đường 20 năm, chương trình khởi đầu cho lộ trình xây dựng một mối quan hệ mới giữa hai cựu thù Việt – Mỹ đang đứng trước cơ hội lớn để trở thành một trường đại học lớn mang đẳng cấp quốc tế. Tháng 6 năm ngoái, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chấp thuận chủ trương thành lập trường Đại học Fulbright Việt Nam (FUV) và tháng 12 mới đây, Quốc hội Mỹ đã phê chuẩn thành luật cho phép Chính phủ Mỹ tài trợ khoảng 20 triệu USD để xây dựng FUV.

Cuộc trò chuyện của VietNamNet với ông Thomas Vallely, Giám đốc Chương trình VN tại ĐH Harvard và Chủ tịch Quỹ Tín thác Sáng kiến Đại học Việt Nam, người tiên phong cho các nỗ lực thành lập FUV bắt đầu với lễ kỷ niệm 20 năm trường Fulbright ở Dinh Thống Nhất, TP.HCM tuần trước.

Tuần trước, chúng ta đã kỉ niệm 20 năm ngày thành lập Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, hay còn gọi là trường Fulbright tại Dinh Thống Nhất TP.HCM. Đó là một sự kiện đầy ý nghĩa với nhiều người, không chỉ với các thành viên của gia đình Fulbright, mà còn đối với những người ủng hộ cho cải cách giáo dục đại học ở Việt Nam. Khi ngồi ở trong hội trường rộng lớn đó, lắng nghe mỗi người chia sẻ câu chuyện riêng của họ, ông, người sáng lập chương trình cảm thấy thế nào ?

Trước hết, tôi muốn cảm ơn VietNamNet vì cơ hội được trò chuyện với độc giả Việt Nam. Tôi rất cảm kích bởi VietNamNet thực sự đã đóng vai trò quan trọng trong tiến trình chuyển đổi mà trường Fubright đã khởi xướng. Ngày nay, hầu hết mọi người đều đồng ý rằng Internet đã hiện diện mạnh mẽ và sâu sắc trong các ngóc ngách của xã hội VN. Vì thế, có thể ít ai biết rằng cách đây chưa lâu, ngay ở trường Fulbright giữa trung tâm TP.HCM, chúng tôi đã phải làm mọi cách để kết nối với thế giới. Đó là giai đoạn mà 50 sinh viên của trường được tiếp cận Internet nhiều hơn tất cả các sinh viên trong toàn hệ thống giáo dục đại học, nhờ có VietNamNet.

Khi chúng tôi bắt đầu chương trình, chúng tôi xây một khuôn viên nhỏ ở TP.HCM. Khi đến đó, chúng tôi đã nghĩ rằng "ồ, đây là một trong những kiến trúc đẹp nhất VN mà tôi đã từng thấy ở TP.HCM". Lúc đó, kế hoạch của chúng tôi là mua một khuôn viên thật đẹp để thu hút mọi người đến đó không chỉ vì chương trình khoá học mà còn vì họ thích đến đó thưởng ngoạn nữa. Có thể điều đó bây giờ là bình thường ở VN khi mà nhiều người VN ngày càng thích đến những nơi đẹp đẽ.

Khi mới bắt đầu, chúng tôi không giảng dạy ở mức độ mà chúng tôi thực hiện được như ngày nay. Tôi nghĩ đây là một điểm rất đặc biệt. Khi đó, chúng tôi dạy các khoá kinh tế học tân cổ điển theo đúng cách mà bạn sẽ học ở trường Georgetown, Arizona State, California Irvine hay Harvard. Chúng tôi sử dụng sách giáo khoa Mỹ và không thực sự kết nối những gì chúng tôi giảng dạy với các vấn đề chính sách công ở VN khi đó. Có thể nói trong vài năm đầu tiên, chúng tôi chỉ học hỏi làm sao để triển khai được chương trình và chủ yếu là các giáo sư nước ngoài đến giảng dạy với sự trợ giúp của các trợ giảng người Việt.

Bởi thế, điều khiến tôi ấn tượng nhất tại lễ kỷ niệm 20 năm thành lập trường là làm thế nào mà chúng tôi đã hoàn tất một quá trình mang tính cải biến như vậy. Giờ đây, tất cả các giảng viên là người Việt Nam, trừ một vài ngoại lệ là một số giáo sư nước ngoài được mời đến giảng theo học kỳ. Hầu hết các giảng viên VN đó đều được đào tạo từ các trường đại học nghiên cứu hàng đầu ở nước ngoài. Sự cải biến trong nguồn lực con người, theo tôi chính là thành tựu lớn nhất mà một sự thay đổi nhỏ mang tính thể chế đã đem lại cho trường. Chúng tôi đã xây dựng được một đội ngũ giảng viên nhỏ nhưng rất tài năng. Đầu tư cho nguồn nhân lực là phần đầu tư chiếm tỷ trọng lớn nhất của trường. Và được chứng kiến những giảng viên VN trẻ đó trưởng thành thực sự là khoảnh khắc đáng tự hào và xúc động.

Vấn đề của VN là chỉ so mình với chính mình

Tôi nhớ cách đây chừng mươi năm thì những cái tên như Vũ Thành Tự Anh, Nguyễn Xuân Thành, Huỳnh Thế Du ...( các giảng viên VN của FETP ) vẫn còn rất xa lạ. Giờ đây, họ là những chuyên gia kinh tế có tiếng nói và ảnh hưởng trong cộng đồng. Các tờ báo uy tín, trong đó có VietNamNet thường xuyên trích đăng các ý kiến, bài viết của họ.

Tôi nhớ trong lễ kỷ niệm 20 năm trường Fulbright, một ai đó đã hỏi tôi một câu hỏi có liên quan gián tiếp đến 3 giảng viên mà bạn vừa đề cập. Câu hỏi đó là "ông định nghĩa thế nào về đẳng cấp thế giới". Đẳng cấp quốc tế, theo tôi là các giảng viên của trường phải biết rõ những người khác trên thế giới đang dạy những gì họ dạy và nghiên cứu những gì họ nghiên cứu. Những giảng viên hàng đầu không chỉ là những người xuất sắc nhất ở VN mà họ còn phải có khả năng cạnh tranh với những bộ óc giỏi nhất trên thế giới trong lĩnh vực kinh tế phát triển, kinh tế chính trị, hay kinh doanh. Đấy là điểm khác biệt trong cách tiếp cận của Fulbright so với các cơ sở đào tạo nghiên cứu khác. Và những giảng viên mà bạn vừa nhắc tới là những người kết nối được với thế giới.

Tôi rất tâm đắc một phát biểu của Giáo sư Hoàng Tuỵ rằng vấn đề của hệ thống giáo dục là VN chỉ kết nối VN với VN, so sánh mình với chính mình chứ không kết nối được VN với thế giới. Nếu bạn chỉ so ta với ta, kết nối ta với ta thôi thì bạn không có đủ áp lực để trở thành một nhà hoá học, sinh học hay kỹ sư xuất chúng. Điều đó không có nghĩa là bạn yếu kém, không có nghĩa là bạn không có giá trị gì nhưng bởi vì bạn không thể trở nên xuất sắc bởi vì bạn không có sự cạnh tranh hay tái tạo tri thức từ sự kết nối với thế giới bên ngoài.

Khi chúng tôi thành lập trường Fulbright, chúng tôi chưa có được các giảng viên người Việt đủ năng lực làm điều này. Nhưng giờ đây, sau 20 năm, trường hoàn toàn được quản trị bởi các giảng viên Việt. Cơ chế quản trị có lẽ là thành tố chính làm nên sự khác biệt của trường Fulbright so với các cuộc thử nghiệm có yếu tố nước ngoài khác mà VN đã triển khai. Hầu hết các tổ chức nước ngoài khi đến VN đều nói rằng người VN biết điều gì là tốt nhất. Thực ra thì người VN không hẳn biết được điều gì là tốt nhất mà là họ hiểu hệ thống của họ và hệ thống đó không cho phép một cơ cấu quản trị có đủ minh bạch, trách nhiệm giải trình hay tính sáng tạo. Và do đó, nên bắt đầu bằng một tiến trình cải cách thể chế trong các tổ chức VN hay các tổ chức có đầu tư nước ngoài.

Nghiên cứu chính sách là để các nhà lãnh đạo có thể thực hiện được

Ông gợi tôi nhớ đến slogan của trường Fulbright là "địa phương hoá tri thức toàn cầu". Nói cách khác là đưa những ý tưởng mới, từ những hệ thống có thể nói là rất khác biệt so với VN áp dụng cho một hoàn cảnh rất đặc thù của riêng VN. Các ông đã vượt qua những rào cản về chính trị, về xã hội như thế nào để đưa được những ý tưởng mới vào quá trình hoạch định chính sách của VN ?

Một trong những nhân tố khác biệt nữa của trường Fulbright so với các chương trình đào tạo khác trong hệ thống là trước hết, chúng tôi đầu tư mạnh vào nghiên cứu chất lượng cao. Và các nghiên cứu về kinh tế chính trị là nhằm để gây ảnh hưởng vào các dự thảo chính sách đúng đắn và khả thi. Chúng không được viết để đăng trên tạp chí kinh tế học. Nếu bạn viết cho một tạp chí kinh tế học, không ai ở VN có thể hiểu được bạn đang nói về cái gì bởi vì nó không khác gì một bài toán. Bạn phải viết và phân tích vấn đề để làm sao dễ hiểu nhất với đại chúng. Bạn phải hiểu vấn đề và viết thành một cái gì đó có thể thực hiện được cho một quan chức chính phủ, cán bộ đảng để họ có thể nắm bắt rõ vấn đề và thực thi các giải pháp.

Có rất nhiều ví dụ như thế. Chẳng hạn như chúng tôi đã viết những bài phân tích đầu tiên về nhu cầu phải nới lỏng các quy định đối với hệ thống viễn thông. Ngày nay, các bạn trẻ có thể dễ dàng nhấc điện thoại lên, vào facebook, và họ nghĩ rằng chúng hoạt động một cách tự động. Nhưng thực ra không phải thế. Các bạn có thể dễ dàng tiếp cận với Internet là bởi vì VN đã quyết định thực hiện điều mà chúng tôi đã nghiên cứu rất kỹ. Chính phủ VN thực sự đã cân nhắc kiến nghị ấy một cách nghiêm túc. Khuyến nghị của chúng tôi sau các nghiên cứu ấy là: Hãy để hệ thống viễn thông vẫn do nhà nước sở hữu nhưng phải có cạnh tranh. Tôi nhớ là nghiên cứu ấy ra đời khi mà chỉ có trường Fulbright được tiếp cận với Internet và lúc ấy thì chính phủ đang đắn đo không muốn cho Internet phổ cập ở VN. Nó cũng tương tự như việc VN cân nhắc chỉ kết nối các trường đại học trong nước với nhau chứ không phải với thế giới vậy.

Cuối cùng thì điều đã thực sự xảy ra là quân đội quyết định thành lập Viettel để cạnh tranh với VNPT trong lĩnh vực viễn thông. Cuộc cạnh tranh này đã giúp cho Internet trở nên rẻ hơn, dễ tiếp cận và được kết nối rộng rãi trên khắp đất nước. Điều này đã góp phần quan trọng cải biến không chỉ hệ thống giáo dục đại học mà còn là nền chính trị của VN nữa. Tôi nghĩ chính phủ đã đưa ra một quyết định mang tính cải biến lớn lao khi cho phép cạnh tranh trong hệ thống viễn thông, điều làm VN khác biệt so với Trung Quốc và nhiều nước khác. Giờ đây, VN có độ phủ Internet cao nhất ở khu vực Đông Nam Á.

VN thích chúng tôi phản biện

Có lẽ chính nhờ cách tiếp cận theo hướng nghiên cứu sâu sắc nhưng phải dễ hiểu và khả thi với VN như vậy nên trường Fulbright được biết đến rộng rãi trong chính giới, các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu và công chúng với các bài nghiên cứu chính sách, từ cuốn "Theo hướng rồng bay" những năm đầu thập kỷ 90 cho tới "Lựa chọn thành công" năm 2008 và "Các nút thắt thể chế" mới đây. Nhưng nhìn lại 20 năm qua, một chặng đường dài như vậy, rất nhiều người nói với tôi rằng, ông phải kiên nhẫn và nhiệt huyết lắm mới có thể vượt qua những rào cản ban đầu để xây dựng được trường Fulbright như ngày nay. Ông lấy đâu ra nguồn năng lượng đó vậy ?

Ồ, nhận xét này có hơi phóng đại một chút nhưng tôi thực sự cảm kích trước những lời tốt đẹp mà các bạn dành cho tôi. Tôi nghĩ rằng có hai nhân tố quan trọng trong thành công của trường Fulbright. Đó là chúng tôi thực hiện những nghiên cứu theo hướng phải khả thi và triển khai được ở VN, đồng thời chúng tôi cũng đề cao tinh thần phê bình, phản biện.

Tôi biết lý do mà chúng tôi có được một vị trí khá là đặc quyền ở VN có thể bởi vì trường Fulbright có Harvard. Nhưng đó còn bởi vì ngay từ ban đầu, trường Fulbright đã thực hiện những nghiên cứu có tính chất phản biện đối với các chính sách của chính phủ và nền quản trị chính trị. Đó là sự phản biện mang tính xây dựng. Nhưng bởi vì tính phản biện từ buổi đầu đã tạo nên sự khác biệt. Không phải bởi vì chúng tôi dũng cảm hơn ai, mà bởi vì chúng tôi có lá chắn trên đầu để bảo vệ.

Thực ra có 3 lá chắn. Lá chắn thứ nhất là một nhóm người ở VN muốn có phản biện. Ngay từ ban đầu, nhiều nhà lãnh đạo cấp cao của VN mà chúng tôi có dịp gặp gỡ, làm việc đều mong muốn chúng tôi phản biện. Hai là, trường Harvard cũng có một vị thế tương đối để phản biện hơn các nơi khác. Cuối cùng là trường Fulbright nhận tài trợ chính từ chính phủ Mỹ và do chính TNS John Kerry và John McCain tham gia sáng lập. Vào thời điểm đó, VN và Mỹ đang cùng nhau xây dựng mối quan hệ. Tôi nghĩ trường Fulbrigh đã hưởng lợi khá nhiều. Nhờ thế, chúng tôi có nhiều khoảng không tự do hơn những người khác.

Không lẽ ông chưa bao giờ vấp phải sự phản đối mạnh mẽ hay thái độ khó chịu từ ai đó vì đã phản biện quá thẳng thắn không ?

Ồ, nếu điều đó xảy ra thì có nghĩa là chúng tôi đã phản biện không đủ (cười). Không, điều đó không phải là vấn đề gì to tát cả. Chúng tôi tạo dựng uy tín nhờ phản biện và uy tín đó trở nên giá trị bởi vì bạn đã làm việc một cách tích cực, xây dựng chứ việc phê bình tự thân nó không làm nên giá trị. Phản biện một cách xây dựng mang đến cho bạn sức mạnh trong tranh luận. Và chúng tôi đã theo đuổi điều đó ngay từ ban đầu.

Tôi còn nhớ cuốn sách đầu tiên chúng tôi viết về VN là cuốn "Theo hướng rồng bay". Đó là một bản phân tích được viết bởi một trong những người sáng lập trường Fulbright, giáo sư Dwight Perkins. Ông ấy là người đã đi tiên phong nghiên cứu về kinh tế Trung Quốc ở Harvard, một lĩnh vực gây nhiều tranh cãi ở Mỹ thời điểm đó đến nỗi mà ai đó nghiên cứu về nó có thể gặp phiền nhiễu. Hồi đó, GS Dwight cũng dạy một khoá ở Harvard về tiến trình phát triển của Đài Loan, Singapore, Hongkong, Hàn Quốc, về việc họ đã làm thế nào để vươn dậy và quá trình công nghiệp hoá đã diễn ra như thế nào. Chúng tôi viết một phân tích tương tự về VN, về việc VN có thể làm gì để công nghiệp hoá thành công như những nước này.

Thế rồi thế giới thay đổi. Chúng ta có toàn cầu hoá, rồi khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998. Bây giờ trường Fulbright không còn khoá học đó nữa nhưng nó đã khởi nguồn cho cuộc đối thoại chính sách trong hệ thống kinh tế chính trị của VN. Chúng tôi cũng biết rằng không phải lúc nào góp ý của mình cũng được tiếp thu nhưng chí ít chúng tôi đã đóng vai trò nhất định trong cuộc tranh luận về chính sách. Và điều tuyệt vời về VN chính là họ thích chúng tôi làm việc đó.

Thế có bao giờ ông muốn bỏ cuộc không ?

Không, không bao giờ. Chưa từng có ai yêu cầu chúng tôi từ bỏ. Và chúng tôi đã đầu tư mạnh mẽ vào rất nhiều người trẻ VN. Nhiều người VN đã làm việc cho chúng tôi, làm việc cùng chúng tôi và chúng tôi đã trở thành những người bạn thân thiết. Chúng tôi không bao giờ nghĩ đến việc rời khỏi nơi này.

Chúng tôi phải làm việc với Harvard, với Bộ Giáo dục và chính quyền TP.HCM. Và bạn biết không, phần lớn vấn đề lại nằm ở phía Harvard, ý tôi là các vấn đề liên quan đến hành chính lại không đến từ VN mà từ Harvard.

Tôi nghĩ chúng tôi có được sự đầu tư mạnh vào nguồn lực con người là bởi vì trường Fulbright đã vận hành từ trước khi có Đại sứ quán Mỹ. Nhờ thế mà chúng tôi có được tiếng nói ngay từ buổi ban đầu.

Ở VN, giấy phép/sự cho phép là gì? Giấy phép ở VN chính là khi bạn gặp rắc rối, sẽ có nhiều người muốn giúp bạn hơn là muốn làm hại bạn. Đó chính là cái gọi là giấy phép ở VN và đó là cách mà trường Fulbright đã vượt qua được các thách thức để phát triển.