NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Kinh tế nông thôn và sứ mệnh giải cứu - TS Đặng Kim Sơn

Trong các giai đoạn kinh tế khó khăn, nếu chính sách thích hợp được ban hành, đầu tư tăng thì đóng góp của lĩnh vực nông nghiệp cho tăng trưởng GDP thường tăng lên, bù đắp đáng kể duy trì tăng trưởng kinh tế. Đây được xem là gợi ý quan trọng để Nhà nước ban hành các chính sách tái cấu trúc kinh tế trong hoàn cảnh suy thoái.

Giới học giả khuyến cáo, trong những thời điểm đất nước trải qua các tác động của khủng hoảng kinh tế quốc tế, nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển luôn là nhân tố tạo sự bình ổn cho kinh tế, xã hội nước nhà.

Tuần Việt Nam xin lược đăng Bản kiến nghị chính sách số 1 của Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn (IPSARD).

Phần 1 : Sứ mệnh giải cứu kinh tế của lĩnh vực nông nghiệp

Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn là giải pháp tốt để duy trì ổn định xã hội và phát triển kinh tế chung trong các giai đoạn suy thoái. Trong những thời điểm đất nước trải qua các tác động của khủng hoảng kinh tế quốc tế như khi phe XHCN sụp đổ cuối thập kỷ 80, cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á cuối thập kỷ 90 và cuộc khủng hoảng tài chính thế giới hiện nay, nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển luôn là nhân tố tạo sự bình ổn cho kinh tế, xã hội nước nhà.

Dẫn chứng là năm 1989, khi công nghiệp tăng trưởng âm, chính sách đổi mới của chỉ thị 100 của Bộ Chính trị (Khóa 6) tạo đột phá trong phát triển sản xuất nông nghiệp đã lần đầu tiên giúp đất nước đủ gạo ăn và chuyển sang xuất khẩu.

Tiếp đó, năm 1999, chính sách mới của nghị quyết 6 Bộ Chính trị (Khóa 8) và vốn đầu tư cho nông nghiệp tăng cao tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho lao động gặp khó khăn của khủng hoảng kinh tế châu Á.

Và trong thời điểm hiện nay, rất có thể các chính sách mới của Nghị quyết TW 7 (Khóa 10) sẽ đem lại sức bật mới cho nông nghiệp Việt Nam vượt qua thách thức của suy thoái kinh tế thế giới.

Có thể khẳng định, vào những giai đoạn kinh tế khó khăn, nếu chính sách thích hợp được ban hành, đầu tư tăng thì đóng góp của lĩnh vực nông nghiệp cho tăng trưởng GDP thường tăng lên, bù đắp đáng kể duy trì tăng trưởng kinh tế. Đây được xem là gợi ý quan trọng để Nhà nước ban hành các chính sách tái cấu trúc kinh tế trong hoàn cảnh suy thoái.

ICOR thấp nhưng không thu hút được đầu tư xã hội.

Do tốc độ đầu tư suy giảm, kết cấu đầu tư thay đổi nhanh chóng, trở nên mất cân đối so với đóng góp quan trọng của lĩnh vực nông, lâm, thủy sản (NLTS) cho nền kinh tế. Đầu tư xã hội năm 2007 cho NLTS cũng chỉ chiếm 6,7% so với tổng đầu tư cho các ngành kinh tế và chỉ bằng 1/3 so với tỷ trọng GDP do ngành này tạo ra.

Vậy đầu tư vào lĩnh vực NLTS có hiệu quả không ?

Để trả lời câu hỏi này, hệ số ICOR giữa các ngành kinh tế đã được xem xét. Hệ số ICOR đo lượng vốn cần thêm để tăng thêm 1 đơn vị giá trị sản lượng. Một cách ước tính nhanh ICOR là lấy tỷ lệ đầu tư/GDP trung bình chia cho tốc độ tăng trưởng GDP trung bình.

Giai đoạn 1996-2007, hệ số ICOR của toàn nền kinh tế Việt Nam ở mức 6,8[1]. Đây là tỷ lệ khá cao so với mức trung bình của các nước đang phát triển là 3. Điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam đang phải đổ quá nhiều vốn cho tăng trưởng.

Trong khi các ngành như CN-XD và dịch vụ đang bị chỉ trích có tỷ lệ ICOR cao thì ngành NLTS đang duy trì hệ số ICOR tương đối thấp.

Như vậy, xét về góc độ sử dụng vốn, đầu tư vào lĩnh vực NLTS so với các lĩnh vực khác đem lại hiệu quả cao. Vậy tại sao lĩnh vực này không thu hút được đầu tư xã hội ?

Chi 1 đồng cho nghiên cứu Khoa Học nông nghiệp sẽ thu được 11 đồng từ sản xuất

Vấn đề là, mặc dù hiệu quả đồng vốn tương đối khá trong lĩnh vực này nhưng không đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước vượt qua những khó khăn to lớn về kết cấu hạ tầng yếu kém, dịch vụ kém phát triển, thiếu lao động tay nghề cao và các thủ tục phức tạp trong cấp đất, đăng ký và quản lý doanh nghiệp hoạt động…

Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy đầu tư công vào giáo dục có tác động rõ rệt thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, các đầu tư công khác như thuỷ lợi, đường nông thôn, và nghiên cứu nông nghiệp cũng đóng góp vào tăng trưởng của ngành nông nghiệp Việt Nam.

Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, xét về vai trò tạo việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn, đầu tư công vào giáo dục, đường giao thông và sử dụng điện thoại và điện đều có tác dụng tốt. Về hiệu quả đầu tư, hoạt động nghiên cứu nông nghiệp đem lợi ích lớn nhất, cứ mỗi một đồng chi tiêu thì sẽ tạo ra được khoảng 11 đồng giá trị sản lượng nông nghiệp.

Một đồng đầu tư vào điện thoại và giáo dục cũng đem lại lợi ích 5-7 đồng giá trị sản lượng nông nghiệp. Đường giao thông và điện có tỷ lệ lợi ích/chi phí là 2 - 3,5, cao hơn tỷ lệ với thủy lợi. Về tác động xóa đói giảm nghèo, khi Chính phủ đầu tư 1 tỷ đồng nghiên cứu nông nghiệp có 246 người thoát khỏi nghèo đói, mỗi tỉ đồng chi tiêu vào đường sá sẽ có 207 người thoát nghèo. Đầu tư vào giáo dục, điện thoại và điện cũng mang lại lợi ích lớn cho việc giảm nghèo. [2]

Nghiên cứu của Viện Chính sách Chiến lược Nông nghiệp Phát triển Nông thôn (IPSARD) 2008 cũng chỉ ra rằng, các dự án mở rộng thủy lợi và kiên cố hóa kênh mương có tác động tốt đến hiệu quả kinh tế và tăng trưởng của các doanh nghiệp NLTS. Đối với các hộ NLTS chỉ có các dự án kiên cố hóa kênh mương đem lại tác động tích cực. Khối doanh nghiệp nhà nước đóng góp cho giá trị sản xuất NLTS còn ít. [3]

Hiện nay, trong khi đầu tư công tạo ra những tác động tích cực cho sản xuất nông nghiệp và xóa đói giảm nghèo thì hiệu quả còn thấp và chưa đồng đều trên nhiều lĩnh vực quan trọng, chưa tạo ra đột phá về thu nhập của cư dân nông thôn và phát triển kinh tế nông thôn. Do đó, một mặt cần tăng tổng đầu tư cho NLTS, mặt khác cần điều chỉnh hợp lý tỷ trọng đầu tư từ thủy lợi sang nông nghiệp, thủy sản và lâm nghiệp. Tăng tỷ trọng đầu tư cho khoa học công nghệ, giáo dục, cho thông tin liên lạc và giao thông nông thôn...

“Ma trận hạch toán xã hội” và liên kết kinh tế

Có thể sử dụng “Ma trận hạch toán xã hội” (Social Accounting Matrix - SAM) 2005 của Tổng cục Thống kê xây dựng năm 2007 theo giá sản xuất 2005, để tìm hiểu khả năng lan tỏa kết quả khi đầu tư tập trung cho NLTS.

Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các khu vực kinh tế và giữa các nhóm tác nhân tham gia vào hoạt động kinh tế của toàn xã hội bao gồm quan hệ chi tiêu - thu nhập, quan hệ sử dụng - cung cấp. Tác động liên kết giữa các ngành thể hiện dưới dạng liên kết ngược và liên kết xuôi.

Chỉ số liên kết ngành của các khu vực

Ngành Liên kết ngược Liên kết xuôi Số nhân (Hệ số biên tiêu dùng cuối cùng)
Nông nghiệp 1,08 1,26 2,35
Công nghiệp - XD 0,92 0,83 2,00
CN Chế biến TP 1,28 0,93 2,77
Dịch vụ 1,02 0,82 2,22

Nguồn: Tính toán dựa trên SAM 2005

Kết quả phân tích cho thấy: khu vực nông nghiệp có mức liên kết ngược rất khá. Mặc dù không sử dụng nhiều đầu vào từ các ngành khác, nhưng trên tổng thể, tăng trưởng của nông nghiệp ảnh hưởng rất mạnh đến tòan kinh tế thông qua tăng thu nhập và chi tiêu gia đình. Trong khu vực công nghiệp thì ngành công nghiệp chế biến thực phẩm có liên kết ngược khá mạnh đối với nền kinh tế. Đây là ngành có triển vọng lớn có thể giúp tăng mạnh giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp và đem lại hiệu quả cao cho nền kinh tế. Tuy nhiên, ở Việt Nam ngành này chưa phát triển đáng kể.

Đối với liên kết xuôi, khu vực nông nghiệp cũng có tác động liên kết trên mức trung bình chung. Do phần lớn sản phẩm trồng trọt được xuất khẩu trực tiếp không qua chế biến nên ngành trồng trọt ngoài lúa có chỉ số liên kết xuôi chỉ là 0.9. Ngành sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu… cung cấp sản phẩm cho khu vực nông nghiệp nên có mức liên kết xuôi lớn hơn 1. Phát triển các ngành này sẽ thúc đẩy mạnh khu vực nông nghiệp tăng trưởng và thông qua đó kích thích nền kinh tế phát triển. Đáng tiếc là các lĩnh vực này ở nước ta hiện nay còn rất yếu kém.

Bảng 3 trình bày “số nhân” của các ngành sản xuất tính từ bảng SAM 2005. Chỉ số này cho thấy tác động tổng hợp của việc tăng cầu của một ngành tác động tới tổng sản lượng của các ngành khác. Vì các ngành có mức độ liên kết khác nhau nên tác động của từng ngành lên các ngành khác cũng khác nhau. Kết quả phân tích số nhân tổng hợp cho thấy: các ngành sản xuất thuộc khu vực nông nghiệp có số nhân khá lớn, kế đến là các ngành thuộc khu vực dịch vụ. Trong khi đó, trong lĩnh vực công nghiệp chỉ có ngành công nghiệp chế biến thực phẩm là có số nhân tương đối lớn.

Do vậy, tăng cầu sản phẩm các ngành khu vực nông nghiệp và công nghiệp chế biết thực phẩm sẽ tạo nên tác động mạnh mẽ, kích thích tăng sản lượng toàn nền kinh tế. Nếu xét theo ngành chi tiết, thì xếp hạng số nhân từ cao xuống thấp cho thấy ba ngành quan trọng nhất là chế biến thực phẩm, sản xuất lúa, và chăn nuôi, và nếu tính năm ngành hàng đầu thì thêm dịch vụ nông nghiệp và khoa học kỹ thuật.

Số nhân liên kết của các ngành chính

STT Ngành Số nhân Xếp hạng
* Khu vực nông nghiệp 2,35 *
1 Lúa 2,72 2
2 Trồng trọt khác 2,25 6
3 Chăn nuôi 2,60 3
4 Dịch vụ NN 2,40 4
5 Lâm nghiệp 1,95 10
6 Ngư nghiệp 2,16 7
* Khu vực công nghiệp 2,00 *
7 Khai thác mỏ 1,71 14
8 CN Chế biến TP 2,77 1
9 Phân bón,… 1,91 13
10 Vật liệu xây dựng 2,16 8
11 Sắt thép 1,61 15
12 CN chế biến khác 1,91 12
13 Điện nước-Xây dựng 1,93 11
* Khu vực dịch vụ 2,22 *
14 Khoa học công nghệ 2,35 5
15 Dịch vụ khác 2,09 9

Nguồn : Tính toán dựa trên SAM 2005

[1] Đây là tỷ lệ khá cao so với các nước đang phát triển và có thể gây nhiều tranh cãi. IPSARD ước lượng chỉ số ICOR của Việt Nam dựa trên số liệu của Tổng cục Thống kê và có so sánh với ước lượng của các nhóm tác giả khác. Theo Bùi Bá Cường, Vụ trưởng Vụ Thống kê tài khoản Quốc gia thì chỉ số ICOR năm 2008 phải trên 7. Một số nguồn khác cho rằng ICOR xoay quanh 6,9. Điều đó chứng tỏ các kết quả ước lượng đều thống nhất ICOR Việt Nam cao và có xu hướng ngày càng tăng lên (Theo Thời báo Kinh tế Việt Nam 1/2009).

[2] Shenggen Fan, Phạm Lan Hương và Trịnh Quang Long (2003).

[3] Để so sánh, số liệu được IMF (2006) cập nhật nhất đến năm 2004 cho thấy kinh tế nhà nước chỉ đóng góp dưới 4% vào tổng giá trị sản xuất của NLTS.

TS Đặng Kim Sơn ( Viện trưởng Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn (IPSARD) )