NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG - Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành , Kiều bào Mỹ

Mục tiêu và phương hướng phát triển đất nước tổng quát 5 năm : 2006 - 2010

5 năm ( 2006 - 2010 ) có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thành Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu thế kỷ 21. Mục tiêu và phương hướng tổng quát của 5 năm 2006 - 2010 là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh hơn, có chất lượng cao hơn, bền vững hơn. Ðến năm 2010 tổng sản phẩm trong nước ( GDP ) tăng gấp 2,1 lần so với năm 2000; mức tăng trưởng GDP bình quân đạt 7, 5% đến 8% /năm và phấn đấu đạt trên 8% /năm.

Từng bước phát triển vững chắc thị trường tài chính, hoàn thiện thị trường tiền tệ; lành mạnh hóa các hoạt động giao dịch vốn ngắn hạn và mua bán các giấy tờ có giá trên thị trường. Phát triển mạnh thị trường vốn, thúc đẩy mạnh hơn hoạt động của thị trường chứng khoán gắn với tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, phát triển hình thức cổ phần và huy động các nguồn vốn trong xã hội cho đầu tư phát triển. Củng cố ngân hàng nhà nước, lành mạnh hóa, cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, công ty mua bán nợ, công ty đầu tư chứng khoán.

Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, tầm cỡ khu vực, có sự tham gia cổ phần của Nhà nước, của tư nhân trong và ngoài nước. Theo đó có thể thấy phương hướng chính đã được vạch ra, vấn đề là phương thức nào phù hợp để đem lại hiệu quả cao nhất có thể. Sau đây là đề xuất để làm cơ sở cho việc nghiên cứu và xây dựng các chính sách thực tiển.

1. Về chính sách tài chính :

Trong một nền kinh tế thị trường, động cơ phát triển là các doanh nghiệp. Để có thể phát triển, điều kiện then chốt là vần đề vốn. Nếu tất cả các yếu tố khác, như sản phẩm, công nghệ, nhân sự v.v. đều được hội tụ mà không giải quyết được vấn đề cung cấp vốn thì doanh nghiệp không thể phát huy được tiềm năng sáng tạo của mình. Có thể ví tài chính như máu huyết lưu thông trong cơ thể. Không có máu thì con người không thể tồn tại, lớn lên và trưởng thành. Thiếu máu thì cơ thể suy yếu, không phát triển tốt và con người sẽ đau ốm, bệnh tật, không thể góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước, xã hội. Nếu quá thừa máu thì tim mạch, cơ thể bị áp huyết cao, nguồn gốc của nhiều chứng bệnh khác và con người cũng trở thành một gánh nặng cho xã hội. Tóm lại, cơ thể con người cần phải được cung cấp đầy đủ máu huyết để phát triển. Nền kinh tế cũng vậy, cần phải được cung cấp tài chính đầy đủ, không quá ít, không quá nhiều để phát triển được mạnh mẽ và bền vững.

Trong thuật ngữ tài chính tình trạng thiếu tài chính, thiếu vốn cho nền kinh tế phát triển được gọi là “Deflation” ( tạm dịch là khiếm phát - hay thiểu phát ), và tình trạng dư thừa tài chính gây ra hỗn loạn kinh tế được gọi là “Inflation” ( lạm phát ), cả hai đều thuộc phạm vi điều tiết của nhà nước. Trách nhiệm của một chính sách tài chính tiền tệ “tốt” là điều tiết khối lượng tiền tệ lưu hành để cung cấp đủ vốn cho kinh tế phát triển, và đồng thời khống chế không để xảy ra lạm phát.

Trong hiện tình của nền kinh tế Việt Nam công tác kiềm chế lạm phát tương đối tốt, nhưng công tác cung cấp đủ vốn để phát triển còn là một vấn đề chưa có đáp án.

Vốn tức là tiền, có nghĩa là để có thể cung cấp vốn cho các xí nghiệp phát triển nhà nước cần phải có tiền. Nhà nước có nhiều nguồn tiền :

(1) Một là từ thu thuế vào ngân sách của nhà nước.

(2) Vay của nhân dân và các tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài .

(3) Ba là phát hành tiền qua chính sách tiền tệ.

Về phương diện tài chính, Nhà nước khác với tư nhân. Muốn có tiền vốn tư nhân cần phải tiết kiệm để tích lũy. Nhà nước không cần phải tích luỹ mới có vốn mà có quyền phát hành, nôm na là “in giấy bạc” nhưng trong một hệ thống tiền tệ hiện đại Nhà nước không cần in giấy bạc để có tiền, mà chỉ cần phát hành qua hệ thống ngân hàng bằng nhiều phương thức.

2. Mục đích:

Cung cấp đầy đủ vốn cho kinh tế phát triển và đồng thời khống chế không để xảy ra lạm phát.

3. Nguyên tắc :

Không để cho một dự án nào khả thi bị thiếu vốn phát triển.

Hiện nay trong nhiều lĩnh vực, nhiều cấp bậc, từ trung ương đến địa phương, không ít dự án sáng tạo, khả thi, được giám định là có tiềm năng và có thị trường, nhưng không dược cung cấp vốn để phát triển. Đây là một sự bất cập, mất mát lớn, lãng phí tư duy sáng tạo của nhân dân. Ở các nước như Nhật trong thời đại Minh Trị hoặc Hàn Quốc trong những năm 1960-1970, nhà nước lập ra cơ chế để giám định, đánh giá, và cung cấp vốn 100% cho các dự án xét ra đủ yếu tố khả thi; chủ đầu tư được khuyến khích tập trung vào công tác phát triển sản xuất kinh doanh. Do đó chỉ cần có hai ba thập kỷ nền kinh tế Nhật cũng như Hàn Quốc vươn lên thành những nền công nghiệp, tài chính, thương mại hàng đầu thế giới.

Điều cốt lõi trong chính sách tài trợ vốn này là quyết định cho vay dựa trên chất lượng và tính khả thi của dự án, năng lực quản lý của chủ đầu tư, chứ không phải khả năng góp vốn của chủ xí nghiệp hoặc giá trị tài sản thế chấp. Do đó việc xây dựng tiêu chuẩn thẩm định dự án, và đào tạo nâng cao năng lực và trình độ của đội ngũ giám định là những yếu tố chính quyết định thành quả của chính sách

Đây là những kinh nghiệm mà Việt Nam cần nghiên cứu để rút ra những phương thức sáng tạo áp dụng cho hoàn cảnh của Việt Nam ngày nay. Trong trường hợp của Hàn Quốc, Tổng Thống Phác Chánh Hy (Park Chung Hee) hội lại các lãnh đạo kinh doanh Hàn Quốc để thông báo quyết định của Nhà nước, và chỉ thị cho các nhà chức trách liên quan đến tài chính tiền tệ xây dựng chính sách và cơ chế phù hợp để triển khai. Các chuyên gia nước ngoài được thuê làm tư vấn. Các tổ chức tài chính quốc tế được mời tham gia.

4. Giải pháp :

Nhà nước là nguồn vốn cuối cùng .

Giải pháp tạo nguồn vốn được áp dụng là tận dụng mọi khả năng huy động vốn trong nhân dân và trên thị trường tài chính quốc tế. Phần còn lại được nhà nước cung cấp qua chính sách tiền tệ và hệ thống ngân hàng.

Các ngân hàng thương mại và đầu tư được khuyến khích cho vay, và chiết khấu “các giấy nợ” cho Ngân hàng nhà nước. Nói một cách khác, các ngân hàng thương mại đóng vai trò nghiên cứu, giám định các dự án, và cho vay; và sau đó “bán lại giấy nợ” cho Ngân hàng nhà nước qua hệ thống chiết khấu các “chứng từ thương mại”. Tóm lại Ngân hàng nhà nước là nguồn tài chính để hỗ trợ phát triển.

Song song với việc áp dụng chính sách tài trợ 100% vốn cho xí nghiệp, nhà nước thực hiện viêc củng cố ngân hàng nhà nước, lành mạnh hóa, cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, công ty mua bán nợ, công ty đầu tư chứng khoán, như đã đề ra trong dự thảo Báo Cáo Chính Trị được trích dẫn trên đây.

Chính sách tài trợ 100% vốn cho các dự án là chính sách căn bản nhất của Hàn Quốc để nhanh chóng đưa các tập đoàn như DAEWOO, HUYNDAI, SAMSUNG v.v... trở thành những tập đoàn công nghệ, tài chính, thương mại hàng đầu. Việc xây dựng các tập đoàn mạnh cũng là mục tiêu của Báo Cáo Chính Trị : Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, tầm cỡ khu vực, có sự tham gia cổ phần của Nhà nước, của tư nhân trong và ngoài nước.

5. Triển khai :

(a) Chuẩn bị :

Để thực hiện một chính sách như trên cần phải được chuẩn bị chu đáo. Trong khi Việt Nam chưa có đủ khả năng tri thức và kinh nghiệm, việc thuê tư vấn nước ngoài và Việt Kiều là cần thiết. Nếu xét cần, có thể kêu gọi Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB) tài trợ trong khung khổ các hạng mục “Phát triển nguồn năng lực” ( Capacity Building ). Ngoài ra còn có thể kêu gọi viện trợ song phương tư các nước như Hoa kỳ, Nhật, Đức, Hàn Quốc v.v.. những quốc gia có khả năng viện trợ kỹ thuật trực tiếp, gửi các đoàn chuyên gia có kinh nghiệm thực tiển về xây dựng một hệ thống tài chính, tiền tệ, ngân hàng để phục vụ phát triển.

(b) Lập tiêu chuẩn :

Qua công trình nghiên cứu, góp ý của các chuyên gia trong nước, và tư vấn của các chuyên gia kinh tế tài chính quốc tế, kể cả các chuyên gia Việt Kiều, nhà nước thiết lập những tiêu chuẩn giám định chất lượng và tính chất khả thi của các dự án, đáp ứng đươc hai điều kiện cốt yếu là phát triển bền vững và không gây ra lạm phát.

(c) Giám định và Chiết khấu :

Một trong những cơ cấu tổ chức cần được sớm hình thành trong hệ thống ngân hàng là “Thị trường chiết khấu giấy nợ” do Ngân hàng nhà nước vận hành. Trong hệ thống ngân hàng của Mỹ, thuật ngữ tiếng Anh gọi hoạt động này là “Open Market Operations” qua đó “Cục dự trữ Liên bang” chiết khấu các giấy nợ của các ngân hàng thương mại, và điều tiết lưu lượng tiền tệ trên thị trường tài chính.

Để thực hiện việc này Ngân hàng nhà nước cần nhanh chóng xây dựng một Vụ Giám định để đánh giá tiêu chí và chất lượng của những dự án cần được cấp vốn, những giấy nợ do các ngân hàng thương mại đề nghị chiết khấu

(d) Tham gia của các ngân hàng nước ngoài :

Trong tình trạng các ngân hàng Việt Nam chưa có đủ kinh nghiêm quản lí, đội ngũ cán bộ có đủ trình độ và năng lực giám định đánh giá các dự án, nhà nước nên mở rộng phạm vi hoạt động của các ngân hàng nước ngoài và cho phép các ngân hàng nước ngoài được tham gia thực hiện chính sách này.

6. Nguồn vốn từ thị trường tài chính quốc tế :

Để có nguồn vốn từ nước ngoài nhằm phục vụ phát triển, các nước lớn nhỏ, kể cả Hoa kỳ, ngoài việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp, đều huy dộng vốn trên thị trường tài chính quốc tế qua phát hành trái phiếu. Có ba loại trái phiếu chính: (1) Trái phiếu nhà nước, (2) Trái phiếu của các thành phố (3) Trái phiếu công ty.

Vừa qua Việt Nam đã phát hành thành công một đợt 750 triệu USD trái phiếu nhà nước, qua trung gian một ngân hàng đầu tư nước ngoài. Lãi suất trung bình là 7,25% với thời hạn vay lên đến 15 năm. Khả năng cung cấp vốn từ thị trường tài chính quốc tế là rất lớn, lên đến hàng nghìn tỷ USD mổi năm. Vấn đề là Việt Nam cần bao nhiêu và sử dụng thế nào cho có hiệu quả nguồn vốn này.

Từ trước đến nay nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm đến nguồn vốn ODA làm nguồn vốn chính để phát triển, vì cho rằng lãi suất của nguồn vốn này thấp, phù hợp với tình trạng tài chính của Việt Nam. Nhưng khi phân tích sâu về nguồn vốn ODA, thì mới lộ ra những bất lợi căn bản, ví dụ như những quy định buộc Việt Nam phải mua trang thiết bị và cung ứng dịch vụ từ các quốc gia cung cấp vốn, với những điều kiện giá cả cao hơn giá của thị trường, và các thể thức lập dự án giải ngân rất phức tạp. Mặt khác, số lượng vốn ODA có hạn mà nhu cầu vốn phát triển là rất lớn, Việt Nam cần phải tiếp cận các nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế, với lãi suất thương mại bình thường chứ không thể tiếp tục trông nhờ mãi nơi tiền viện trợ.

7. Thí điểm :

Để có thể trắc nghiệm chính sách Nhà nước có thể lựa chọn Thành Phố Hồ Chí Minh làm thí điểm. Thành Phố Hồ Chí Minh là địa bàn có nền kinh tế phát triển nhất trong cả nước, về quy mô vốn, trình độ công nghê, kinh nghiệm quản lí, để có thể nhanh chóng tiếp thu và triển khai những phương thức mới của chính sách.

Trong những năm qua, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành nghiên cứu cơ sở pháp lí và kỹ thuật của việc huy động vốn do Thành phố thực hiện, kể cả huy động vốn bằng phát hành trái phiếu của Thành phố.

Kết luận :

Trên dây là phác hoạ các điểm đầu giòng của một chính sách có tính chất đột phá cần thiết cho tăng tốc phát triển kinh tế xã hội hầu rút ngắn khoảng cách so với các nền kinh tế trong khu vực, chuẩn bị cho hội nhập kinh tế thế giới.

Dự thảo Báo Cáo Chính Trị đưa ra mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5% đến 8% /năm và phấn đấu đạt trên 8%/năm. Với mức tăng trưởng này Việt Nam khó có thể đuổi kịp các đối thủ, khoảng cách không những sẽ không được rút ngắn mà sẽ còn kéo giãn thêm ra. Việt Nam cần có một chính sách thích ứng cung cấp đủ vốn cho phát triển để GDP tăng tốc lên 10% đến 11% /năm thì mới có khả năng tránh được nguy cơ tiếp tục tụt hậu.