NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Việt Nam cần gì ở Việt kiều - Chuyên gia ngân hàng và đầu tư Vũ Giản , Kiều bào Thụy Sĩ

Cũng như những Việt kiều còn có tâm huyết với đất nước, tôi đã viết những bài thảo luận về « Việt kiều có nhiều chất xanh, hay chất xám », hay vai trò của Việt kiều trong « quá trình hội nhập Kinh Tế Thế giới của Việt Nam » đăng trên chuyên-san NVX , hoặc trả lời những phỏng vấn vào dịp Việt Nam nhập WTO, của Đài Tiếng nói Việt Nam, Truyền Hình Tp.HCM, báo điện tử « Đảng CSVN », Quê-hương, v..v…và tôi cũng đi đến thắc mắc như của một số Việt kiều này đang tự hỏi là : « Việt-nam cần gì ở Việt kiều ? »

Trước hết, có lẽ nên tìm hiểu sự tham gia các kiều bào của vài nước trong khu vực trong quá trình phát triển kinh tế của những nước này.

Nhật-bản là nước Á Châu đầu tiên trở thành một cường quốc kinh tế trên Thế-giới , nhưng ít khi nghe nói về hỗ-trợ của Nhật kiều trong quá trình phát triển của nước này Mặc dầu trước chiến tranh Thế-giới thứ hai đã có hàng chục vạn Nhật kiều sinh sống ở Mỹ, vào quốc-tịch Mỹ, nhưng họ ( như ông Mineta, cựu bộ-trưởng giao-thông của chính phủ Bush, vốn là Nhật-kiều dân Mỹ ) vẫn bị chính quyền nước này « tập trung »họ vào những trại « giam lỏng » để dễ bề kiểm sóat trong những năm chiến tranh Mỹ-Nhật (cho đến 1945), Phải chăng vì vậy mà những Nhật kiều ở Mỹ ít khi « ra mặt » hỗ -trợ nước Nhật- bàn sau chiến-tranh ? Hay vì nước này đã « tự » phát triển dựa vào nguồn « trí-thức nội-lực » mà từ mhiếu thế-kỷ trước đã được triều-đình Minh-trị » (Meiji) gửi đi học hỏi, thu thập những tiến-bộ khoa-học, kỹ-thuật của Âu Mỹ ? Triều đại Minh Trị tồn tại trong 44 năm ( 1868 - 1912 ) đã chấm dứt một cách hòa bình, chế độ phong kiến Nhật, để phát triển nước Nhật thành một cường quốc. Trong khi đó ở Việt Nam, những đại thần như Phan Thanh Giản ( đã từng dâng sớ xin vua chém các tham quan, nịnh thần ), Nguyễn tường Tộ,sau những chuyến công du sang Âu tây, đã điều trần lên vua Tự Đức phải thay đổi cách cai trị để hội nhập,học hỏi vân minh tiến bộ của Âu Mỹ, như Phan thanh Giản đã từng viết :

« Từ ngày đi sứ tới Tây kinh

Thấy việc Âu châu,phải giật mình,

Kêu tỉnh Đồng bang mau kịp bước,

Hết lòng năn nỉ, chẳng ai tin »

Thật không khác gì những Việt kiều ngày nay có can đảm viết lên những điều tâm huyết có khi làm ngứa tai những người thích nghe nịnh thần ( vì «Trung ngôn, nghịch nhĩ » ) như vua Tự Đức thời xưa. Vì vậy nên Pháp đã chiếm lục tỉnh Nam Kỳ năm 1867 ( và Hànội năm 1888 ), và từ đấy đến 1975 ( - 1882 = 108 năm ) mà nghĩ cho kỹ thì thấy tư duy hẹp hòi của triều đình Tự Đức đã kìm hãm phát triển của Việt Nam chậm cả một thế-kỷ ( 2007 - 100 = 1891 mức của thời Minh trị ) so với Nhật Bản. Và thời xưa, khi Hồ Chủ-tịch còn là Việt-kiều Pháp, người đã có can đảm ra tờ báo « Những người cùng khổ » ( Les Pariats ) ngay tại Pháp,để chỉ trích chế độ thực dân Pháp ở các nước thuộc địa Á và Phi châu .

Sau đấy, Nhật-bản cũng đã tận dụng thời-gian bị quân đội Mỹ chiếm đóng khi họ phải góp phần cung cấp vật liệu thông dụng ( do các doanh-nghiệp Nhật sản xuất ) cho quân-đội Mỹ , và sau đó cả trong chiến-tranh Triều-tiên nữa. Hình như thời đó người Nhật cũng « sính đồ ngọai », nên một tỉnh nhỏ của nước này đã đổi tên thành Usa, để sản-xuất đồ « Made in Usa » ! Rồi dần dần các doanh-nghiệp Nhật mới đặt Danh-hiệu riêng cho các sản-phẩm Nhật, nhưng vẫn bằng tên Mỹ, như JVC ( Japan Victor Company ), National, Panasonic (của tổng công-ty Matsushita),cho đến khi chất lượng sản phẩm Nhật vững chắc, thì mới đặt tên Nhật như Honda,Toyota, Datsun,…

Nam-hàn ( hay Đại-Hàn ) cũng có những sản phẩm mang tên Hyundai ( nghe giống Honda ! ), Daewoo, cho nên khi xuất-khẩu thì cũng có người nhầm với tên xe Nhật! Nam-hàn là một nước vẫn bị chia đôi ( như Việt Nam ) sau chiến-tranh Nam- Bắc ( Triều-tiên ), chính-phủ nước này cũng đã bắt đầu công nghiệp hóa nền kinh-tế như « hậu cần » cho quân-đội Mỹ đóng ở đây, hay tham dự chiến-tranh Mỹ tại Việt Nam. Vào đầu thập niên 1960, tổng sản-lượng GDP của Nam-hàn chỉ là 156USD/người, thấp hơn so với Phi-luật-tân ( 257USD/người ) là 1 nước có nhiều tài-nguyên ( dầu hỏa, lâm sản, mỏ vàng, bạc, đồng ) như Việt Nam ( mà Nam-hàn hầu như không có ), và dân chúng Phi-luật-tân ( Philippines ) cũng thông ngọai ngữ ( tiếng Mỹ, và Tây Ban Nha ) vì Phi-luật-tân là thuộc- địa cũ của 2 nước này.

Nhưng trong vòng 40 năm, hai nước này đã có vị-thế phát-triển khác biệt : Nam-hàn đạt mức GDP cao hơn 10 lần so với Phi-luật-tân, và đã trở thành 1 trong những nước công nghiệp hàng đầu thế-giới, còn Phi-luật-tân vẫn ở trong nhóm các nước có thu thập khá thấp,với mức GDP khoảng 1000USD/người ( năm 2004 ). Và Phi-luật-tân vẫn phải dựa vào xuất khẩu lao-động phổ thông ( thợ thuyền lắp ráp, hay ô-sìn như Việt Nam ) như nguồn thu thập quan trọng cho nước này : năm 2004, Phi-luật-tân xuất khẩu gần 1 triệu lao-công , đưa tổng- số lao-động Phi-luật-tân xuất-khẩu khắp thế-giới lên trên 8 triệu ( nhiều nước Âu-châu có Ô-sìn Phi-luật-tân, hay Thái-lan !), gửi về nước tới 8,5 tỷ USD. Thêm vào đấy, Phi-luật-tân không từng có « nội chiến » như Nam-hàn, mà cũng được hưởng lợi của một căn cứ « hậu-cần » cho quân-đội Mỹ ngay từ chiến-tranh Triều-tiên cho đến cuộc chiến ở Việt Nam.

Quá-trình phát triển của hai nước ( tầm cỡ Việt Nam ) này cho thấy vai trò thật quan trọng của các chuyên-gia trí-thức Hàn-kiều trong sự-nghiệp phát-triền kinh-tế của nước này. Trong văn-phòng Tổng-thống Nam-hàn có treo bảng viết 4 chữ « Tam cố Thảo lư » ( nhắc tích Lưu- Bị thỉnh Gia-Cát-Lượng ra hợp tác ) không phải ví Hàn-kiều với Khổng-minh nhưng để nhắc nhở nhà lãnh-đạo nước này về ưu-thế của Hàn-kiều ( cũng như Việt-kiều ) đang sinh sống, và làm việc trong những nền kinh-tế tiên-tiến nhất thế-giới.

Nếu Việt Nam tiếp tục tăng trường GDP ở mức bình quân 8%/năm như hiện nay thì cần tới 142 năm nữa đề bắt kịp Nam hàn là nước gần gũi Việt Nam về lịch sử ( cũng bị chia cắt làm 2 vùng Nam Hàn, và Bắc hàn hay Triều tiên ) và về địa lý cũng chiếm 1 vị trí chiến thuật quan trọng ở biển Đông. Hơn nữa, Nam-hàn thành công nhờ khát vọng và nỗ lực của cả một dân tộc muốn vươn lên từ tình trạng nghèo khó ( cả chết đói trong những năm 1950 sau chiến tranh Nam-Bắc Hàn quốc ),nhưng chính phủ Nam-hàn đã họach định rõ ràng từng bước phát triển kinh tế để nước này được tham gia ( ngay từ năm 1996, hay chưa tới 40 năm từ khi Nam-hàn bắt đầu công nghiệp hóa ) tổ chức OECD ( mà Việt Nam cũng bắt đầu mơ ước trước khi vào WTO ) của những nước công nghiệp giầu nhất Thế giới. Hiện nay Nam-hàn quyết liệt thực hiện chiến lược cường quốc kinh tế với sự hỗ trợ của Hàn-kiều, nhằm đạt trình độ khoa học,công nghệ của « nhóm 7 » cường quốc (G7) đứng hàng đầu Thế giới vào năm 2025.

Trong khi đó hỗ trợ của các chuyên gia, trí thức Việt kiều cho đất nước Việt Nam rất còn hạn chế về phẩm lượng, vì hàng năm số Việt kiều về nước làm việc chỉ ước lượng khỏang 200 LƯỢT, nghĩa là nếu mỗi Việt kiều bình quân về 4 lượt, thì chỉ có 50 Việt kiều trở về, so với tổng số 300.000 đến 400.000 chuyên gia, trí thức Việt kiều ở nước ngòai.

Mà « hầu hết trí thức người Việt ở nước ngoài về nước làm việc theo hình thức ngắn ngày, tự túc, kết hợp thăm thân nhân với giảng dậy, hội thảo… » ( theo lời ông Tạ nguyên Ngọc,Vụ trưởng Vụ quan hệ kinh tế,khoa học và công nghệ.Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngòai).

Về phẩm giá của những người trở về, vẫn theo lời ông Tạ nguyên Ngọc, thì « Có rất ít chuyên gia Việt kiều đầu đàn về nước, và hầu như không có trường hợp nào được công nhận là đã thật sự làm chuyển biến rõ rệt,hoặc để lại dấu ấn trong một ngành, một lĩnh vực, một cơ sở nghiên cứu quan trọng nào » .

Thực ra cần phải thêm vào đấy số lượng đáng kể của Việt kiều được những cơ quan hay chính phủ các nước sở tại gửi về trợ giúp Việt Nam, và những Việt kiều được các doanh nghiệp hay những tổ chức quốc tế ( Liên hiệp quốc, Ngân hàng Thế giới, IMF… ) gửi về làm việc trong nhiều năm ở Việt Nam. Những người này biết là nếu họ « làm biến chuyển rõ rệt, hoặc để lại dấu ấn » ở Việt Nam, thì họ sẽ bị ganh tị, mà có thể bị buộc tội « can thiệp vào nội bộ của nước nhận trợ giúp », nên mọi người thường khuyên bảo nhau là nên có thái độ: « Low profil, hight profit » ( tạm dịch là : « Mặt càng cúi thấp, lời càng lên cao » ).Khẩu hiệu này được áp dụng đầu tiên bởi những Việt Kiều bỏ tiền về Việt Nam làm ăn kiểu « yên phận thủ thường ». Như vậy làm sao mà có đột phá được ?

Phần lớn những Việt kiều này đều đồng cảm với bài viết (« Thu hút chất xám Việt kiều : vấn đề cơ chế ») của Việt kiều Úc Nguyễn Văn đăng trên NVX ngày 20/7/2006, mà có thể tóm tắt như sau :

- Nhà nước kêu gọi Việt kiều về làm việc, nhưng câu hỏi cụ thể là làm gì? Ở đâu ? thì chưa rõ ràng.

- Ông bộ trưởng có thể mời 1 GS Việt kiều về giảng dậy ở 1 Đại Học, nhưng nếu lãnh đạo của Đại Học đó lạnh lùng, hay làm khó ( rất phổ biến ), thì lời mời cũng rót vào hư không. Đó là chưa nói đến tâm lý ganh tị ( rất Việt Nam ) của một số không nhỏ các đồng nghiệp trong nước, vẫn nhìn Việt kiều như 1 mối đe dọa đến công việc, hay chức vụ hiện tại của họ.

- Một điều đành nói là thói quen « Bụt chùa nhà không thiêng »của đồng nghiệp ở Việt Nam. Đối với 1 số Đồng Nghiệp trong nước, các chuyên gia hay GS gốc Việt ở nước ngoài không tài giỏi bằng các người TÂY phương. Thành ra trước 1 vấn đề chuyên môn, ý kiến của Việt Nam thì bỏ qua ( hay lịch sự nghe qua, rồi quên ! ). còn ý kiến của chuyên gia TÂY phương ( có khi là chuyên gia hạng bét, hay hạng học trò của GS Việt kiều !) thì được trân trọng nhắc đến như là ý kiến của Thánh sống !

- Đã hơn 1 lần, đồng nghiệp trong nước,trong những lúc vui vẻ,cho tôi biết : « TRÊN thì kêu các anh về đấy,nhưng các anh sẽ KHÔNG bao giờ đóng vai trò LÃNH ĐẠO gì cả ». Như để nhấn mạnh, anh bạn Đồng Nghiệp của tôi lặp lại câu nói « Các anh làm CHUYÊN GIA, hay làm cố vấn thì được, còn làm lãnh đạo thì tuyệt đối là không ».

- Cuối cùng, Việt kiều Nguyễn Văn hiểu vì lý do cơ chế « không là đảng viên thì không thể giữ vai trò quyết định được », nên cũng không thắc mắc gì.

Thực ra, Việt kiều có « tâm huyết »cũng không có thắc mắc gì cho « bản thân » ( vì ở đâu cũng làm ăn, sinh sống được ), mà chỉ thắc mắc khi « thấy nước người, lại nghĩ đến nước ta », như trong khi ghé thăm nước Campuchia (Cambodia) trong chuyến về Việt nam mới đây của tác giả bài viết này. Thật vậy, nước láng giềng này nhỏ, nghèo hơn nước ta, và lịch sử của họ nhiều khi cũng gắn liền với lịch sử Việt Nam. Vậy mà họ biết giữ lại những cái hay của quá khứ ( như kỷ luật, trật tự thời cách mạng, kiến trúc những khu du lịch theo dạng đền đài Angkor-Vat,v..v…),và học thêm những cái hay của nước khác, như chính sách thật sự Đại đoàn kết dân tộc Khmer ( dựa vào giai đọan lịch sử huy hòang của dân tộc này ) để phát triễn kinh tế nhanh hơn Việt Nam, và hơn cả Trung quốc trong năm 2005.

Thật vậy, trong 3 đảng tham dự chính quyền ở nước này, thì có 2 đảng đối lập với đảng của Thủ tướng Hun Sen. Đó là đảng Bảo Hòang của Vua Sihanouk thành lập, hiện do con trai nối ngôi điều khiển, và 1 đảng đối lập khác do 1 Miên kiều Pháp Sam Rainsy sáng lập cùng các Miên kiều trên Thế-giới, và nhiều thành viên ngay trong nước này Chế độ nước này không hòan hảo, nhưng chính sách Đại đoàn-kết đáng làm gương cho chúng ta, để phát triển kinh tế thực sự mạnh mẽ như Campuchia , theo thống-kê và ước lượng dưới đây của Ngân-hàng Phát triển Á châu ADB:

Tăng trưởng GDP của Việt-nam, Trung quốc và Campuchia ( Giai đọan 2004 - 2008 )

* 2004 2005 2006 2007(ước lượng) 2008(ước lượng)
Việt-nam 7,8% 8,4% 8,2% 8,3% 8,5%
Trung-quốc 10,1 10,4 10,7 10 9,8
Campuchia 10,0 13,4 10,4 9,5 9,0

Tình trạng trên có gì thay đổi từ ngày Việt Nam nhập WTO ( cũng đã được ghi dấu bằng bài « WTO : bước ngoặt của Việt Nam từ chiến trường vào thương trường thế giới » viết bởi tác giả bài này) hay không ? Tại Diễn đàn doanh nghiệp ở Hà nội trong tuần đầu tháng 6/2007 ( tổ chức 2 ngày trước Hội nghị giữa kỳ của nhóm tư vấn của các nước và tổ chức tài trợ Việt Nam ) đã có than phiền của đại diện nhiều doanh nghiệp nước ngoài về Việt Nam chậm trễ thực thi các cam kết WTO, vì phải đợi nghị định hướng dẫn ( còn trong giai đọan dự thảo ) thi hành cam kết WTO, thì doanh nghiệp nước ngoài mới được hưởng các điều khỏan, hay lợi thế mới về xụất nhập khẩu, phân phối, lập chi nhánh thương mại, hoặc mở ngân hàng 100% vốn nước ngoài,v..v…

Có những người cho rằng sau khi nhập WTO thì đừng nghĩ rằng chỉ sau 1 thời gian ngắn, Việt Nam có thể « đi tắt, đón đầu » vươn lên ngang tầm các cường quốc trên thế giới, mà đừng nói đâu xa, ngay trong tầm khu vực, vươn bằng các nước láng giềng cũng còn mệt ! Theo những người này, thì Việt Nam phải tự xác định sự thua kém của mình, tìm cách cạnh tranh trong vị thế của nước yếu, chưa bị ràng buộc bởi những định chế của nước công nghiệp, vì doanh nghiệp Việt Nam nhỏ, nên năng động làm « gia công » cho thiên hạ trong một thời gian dài , 10 hay 20 năm ,hoặc lâu hơn nữa, để tích lũy vốn,kinh nghiệm,và luồn lách vào mọi kẽ hở của thương trường WTO, ngõ hầu vươn lên để chiếm lĩnh một vị trí thích hợp,theo đúng kiểu cách làm ăn thời xưa « Lấy công làm lãi, năng nhặt, chặt bị » .

Vì vậy những người này cho rằng chậm thực hiện cam kết WTO để mở cửa thị trường Việt Nam, thì chỉ có lợi cho doanh nghiệp trong nước, giống như Trung quốc đã khéo léo trì hõan thi hành cam kết với WTO, mà các đối tác hầu như không làm gì được họ, cũng chỉ vì « họ cần ta hơn là ta cần họ » !?

Lý luận kiểu này nghe có vẻ khôn vặt, nhưng trong thực tế, nếu không dứt khoát trong quá trình điều hành kinh tế theo lộ trình cam kết, thì sẽ tạo ra những tác động ngoài ý muốn, có thể dẫn đến những hệ quả xấu cho nền kinh tế, và cho toàn thể doanh nghiệp trong nước Việt Nam.

Trong ngành đầu tư tài chính, « cơn sốt » chứng khoán hiện nay ở Việt Nam đang làm nhiều doanh nghiệp quên mất hoạt động nghề nghiệp chính thống để nâng cao sức cạnh tranh sau khi Việt Nam nhập chợ WTO, mà hàng loạt tập đoàn, công ty- phần lớn không có năng lực chuyên môn để hoạt động trên thị trường tài chính- đang có « ảo mộng» dựa vào chứng khóan, và bất động sản, để « đa dạng hóa kinh doanh », ngõ hầu trở thành 1 tập đoàn tài chính! Sự thực là để hưởng lợi nhuận trước mắt ( nhiều khi cũng để giảm bớt lỗ của doanh nghiệp ), cũng như khi trước đầu tư « vô kế hoạch », theo phong trào « ăn sổi, ở thì » đua nhau trồng Cà-phê, nuôi cá Sấu, v..v…

Ngay các ngân hàng cổ phần thương mại cũng chạy đua kiếm nhiều cổ đông chiến lược là các doanh nghiệp lớn, để tăng nhanh số khách hàng, và chiếm lĩnh thị phần mà đã lâu ngân hàng không khai thác được bằng những sản vật ( gadgets ) hiện đại hóa ( !) ngân hàng như những máy ATM đắt tiền ( thông dụng trong các nước giầu, để thay thế nhân công đắt đỏ ). Ngòai ra, sau khi liên kết với các doanh nghiệp làm cổ đông chiến lược, ngân hàng sẵn sàng cung cấp vốn cho những đối tác này, vì đã trở thành « người nhà », thì may ra tránh khỏi tăng nợ xấu tín dụng, mặc dầu nhân viên đã được học quản lý « rủi ro » do nhiều nước ngoài trợ giúp, mà nợ xấu vẫn ít giảm, chỉ còn cách nhường lại cho cơ quan hành chính quản lý dùm !

Phía doanh nghiệp khi trở thành cổ đông chiến lược của ngân hàng bằng cách mua giữ cổ phần của ngân hàng là con đường vào thị trường tài chính nhanh hơn là tự xin thành lập ngân hàng ( và bán cổ phiếu OTC trước khi được phép như mới đây ở Việt Nam ! ), hay công ty chứng khóan. Và tiền mua này ( có khi từ dịch vụ cổ phần hóa doanh nghiệp ) lại không được dùng để tăng gia sản xuất, mở rộng thị phần trước khi thị trường Việt Nam được hoàn toàn mở rộng cho hàng hóa nước ngòai, dù có thể mang lại lợi nhuận từ ngân hàng trong thời còn tạm hưởng độc quyền kinh doanh trước khi nước ngòai được mở ngân hàng 100% vốn của họ.

Tình hình này sẽ khiến doanh nghiệp gia tăng vốn, nhưng thị phần sẽ bị thu hẹp vì kém cạnh tranh, và không kịp hiện đại hóa thực sự. Khi đó không có trì hõan thực thi cam kết nào với WTO có thể cứu vãn được họ. Biến chuyển kinh tế Việt Nam sau khi nhập WTO cho thấy có nhiều thách thức và cơ hội khác những ảo vọng về cơ hội trước mắt chỉ mang lợi nhuận ngắn hạn cho những doanh nghiệp này.

Vì vậy thực thi cam kết WTO để hội nhập và phát triển kinh tế Việt Nam, chớ không phải chỉ để tuân thủ các luật lệ WTO, hay tìm cách « né, tránh », ngay cả với cạnh tranh, để sống với ảo tưởng trên thị trường tài chính !

Tóm lại, để « hội nhập thành công, phát triển bền vững », nước Việt Nam nên tự có mô hình gần với mô hình của Nam Hàn, hay Phi luật Tân ? Mô hình Nam Hàn là nhập siêu chất xám của Hàn kiều để trở thành nền kinh tế mạnh thứ 12 trên 183 nước trên thế giới ( Việt Nam : 57/183 ) theo Ngân hàng Thế giới 2005, với thu thập bình quân đầu người là 15.840 USD/năm 2005 cho Hàn quốc,và 620 USD cho Việt Nam, so với 1.344 USD/đầu người Phi Luật Tân là nước xuất siêu lao động trí thức ( du học sinh ở lại sau tốt nghiệp ) qua Bắc Mỹ,và lao động chân tay sang nhiều nước giầu trên thế giới.

Cho tới hiện nay, thì mô hình của Việt Nam gần với Phi luật Tân, vì cũng xuất siêu lao động, mà rất ít nhập siêu trí tuệ Việt kiều đã có thể đã tránh được nhiều thiệt hại cho công quỹ từ vụ « đền bù » vài trăm ngàn USD cho huấn luyện viên bóng đá Letard, cho đến Vụ Ngân hàng nhà nước bị « giảm ( hay mất !) giá trị dự trữ ngoại hối 174,1 triệu USD, vì qủan lý điều hành kém việc mua bán ngoại tệ trên thị trường quốc tế năm 2005 ». Việt kiều vẫn chỉ có 6 đối tượng được phép bỏ « chất xanh » mua giúp giảm khối lượng nhà cửa xây bởi những nhà đầu cơ bất động sản, nhưng chỉ có cở 100 Việt kiều chính thức hưởng phép này ! Vì vậy các nhà đầu cơ xin phép bán nhà thêm cho 5 đối tượng nước ngoài làm việc ở Việt Nam! Đợi xem những người này có dại hơn Việt kiều bỏ tiền mua nhà, đất ngoài cửa ngỏ Việt Nam như ở nước Singapore, Úc, Malaysia mà người của họ cũng mới qua tận Việt Nam để chào hàng !

Mới đây UBND tỉnh Long An đã mời GS.Hibino Shozo, Đại Học Nhật Chukyo đến nói chuyện ngày 26/5/07 với 150 cán bộ chủ chốt, về « Đột phá tư duy » ( Break though thinking ), mà ông này lấy thí dụ về 2 lọai ếch : những con ếch được cho vào nồi nước luộc, thì ngồi im thưởng thức cảm giác nước ấm dần lên, cho đến lúc nước sôi thì không còn cơ hội để nhẩy thóat ! Những con ếch chiên khi bỏ vào chảo thì nhanh chóng phát hiện chảo đang nóng, vội vã nhẩy ra thì thóat, nhưng cũng có con nhẩy không kịp, hay vì bị những con khác níu chân, thì cùng bị chết ». Theo GS.Shozu thì chính chúng ta là những con ếch này, nên phải « Chọn cách tiếp cận mới với tương lai trong điều kiện của xã hội có nhiều đổi thay, Qua khứ, hiện tại, và tương lai không còn nằm trên cùng 1 đường thẳng, mà con người hiện tại không thể tiến lên tương lai bằng cách chỉ dựa vào quá khứ và hiện tại. Không thể để thế kỷ 20 níu kéo thế kỷ 21 » .Vào cuối đời, nguyên Thủ tướng Phạm văn Đồng cũng đã nhận ra lọai ếch « níu kéo » là « Dù nhiệt tình, nhưng cộng với ngu dốt, dễ đẻ ra tội ác ».

Sau buổi nói chuyện, ông Dương quốc Xuân, chủ tịch UBND đã tâm tình là « Thế giới thay đổi từng ngày, từng tháng. Anh em thật sự có nhu cầu tiếp cận cái mới, nhưng quả là cơ hội không có nhiều lắm », Có người trách ông Xuân là « Cơ hội không có nhiều ! Nhất là những cơ hội mà cái giá tới vài ngàn USD cho việc thuê mướn chuyên gia nước ngoài đến 1 tỉnh lẻ thuyết trình »

Tác giả bài viết này nhận thấy bài thuyết trình về « Đột phá tư duy » của ông Shozo đáng giá hơn vài ngàn USD, và ông chủ tịch Dương quốc Xuân nên được làm Bộ trưởng tiếp cận cái mới trong cuộc cải tổ chính phủ sắp tới, mặc dầu ông hơi « thính ngoại » khi mời GS nước ngoài đến thuyết trình, nhưng GS TS Việt kiều, hay Việt Nam có làm được như vậy không ?

Chuyên gia ngân hàng và đầu tư Vũ Giản

« Vinh Danh nước Việt 2004 »