NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Cần Tăng Hiệu Suất Để Phát Triển Có Chất Lượng - GS Trần Văn Thọ , Kiều bào Nhật Bản

Phát triển kinh tế phải gắn liền với bảo vệ môi trường và phải tăng đầu tư cho hạ tầng xã hội, giáo dục văn hóa... Hai vấn đề cần được quan tâm giải quyết để tạo ra sự phát triển bền vững trong giai đoạn tới. Một là phải phát triển với chất lượng tốt hơn, hai là phải phát triển với hiệu suất cao hơn.

Kinh tế Việt Nam trong giai đoạn qua phát triển khá cao, thu nhập đầu người tăng nhanh liên tục. Vị thế của Việt Nam trên thế giới được nâng cao đáng kể. Khuynh hướng này đặc biệt rõ nét trong năm 2006 và tiếp tục trong nửa năm đầu 2007. Tuy nhiên có hai vấn đề cần được quan tâm giải quyết để tạo ra sự phát triển bền vững trong giai đoạn tới. Một là phải phát triển với chất lượng tốt hơn, hai là phải phát triển với hiệu suất cao hơn.

Hai vấn đề này có liên quan mật thiết với nhau. Để tăng chất lượng phát triển, ngoài việc định hướng đầu tư theo phương châm bảo vệ môi trường, bảo vệ cảnh quan văn hóa và thiên nhiên, còn phải tăng tỷ lệ đầu tư (trong tổng ngân sách đầu tư) cho hạ tầng xã hội, giáo dục và văn hóa. Nhưng giảm tỷ lệ đầu tư cho hạ tầng kinh tế phải đi đôi với việc tăng hiệu suất để duy trì một tốc độ tăng trưởng nhất định.

Chất lượng phát triển phải được quan tâm hơn

Về sự giảm sút chất lượng phát triển trong thời gian qua, ta có thể nêu vài ví dụ như sau:

- Thứ nhất, cùng với nhịp độ phát triển của nền kinh tế, đô thị hóa tiến hành khá nhanh nhưng môi trường sống ở đô thị nhìn chung chậm được cải thiện, một số mặt đang xuống cấp. Không khí bẩn, đường sá bụi bặm, chật hẹp, tai nạn giao thông ngày càng trầm trọng. Đô thị thiếu công viên, cây xanh, tiện nghi công cộng chưa tốt. Không gian cho người đi bộ trong thành phố quá ít và thường không an toàn vì khả năng gặp tai nạn giao thông cao. Đặc biệt sự xuống cấp của môi trường ảnh hưởng nhiều đến giai tầng có thu nhập thấp.

- Thứ hai, quy hoạch ở các đô thị và nhiều địa phương có khuynh hướng ưu tiên phát triển kinh tế và ít chú trọng đến việc bảo vệ cảnh quan, môi trường, và có trường hợp ảnh hưởng xấu đến việc bảo vệ các di sản văn hóa. Nhiều bờ biển, sông hồ bị ô nhiễm trầm trọng.

- Thứ ba, sự bất cập trong giáo dục, đào tạo và đời sống người lao động chậm được cải thiện, gần đây gây ra sự khập khiễng (mis-matching) cung cầu trong thị trường lao động. Một mặt, tỷ lệ của nông nghiệp trong tổng lao động có việc làm đã giảm đáng kể nhưng hiện nay vẫn còn gần 55% lực lượng lao động đang ở nông thôn, chủ yếu hoạt động trong nông lâm ngư nghiệp với năng suất thấp. Số người thất nghiệp và bán thất nghiệp ở các đô thị cũng không ít. Nhưng mặt khác, ở các khu chế xuất, khu công nghiệp tại các thành phố lớn có tình trạng thiếu lao động. Vấn đề thiếu lao động cấp quản lý, kỹ sư đã được nói đến nhiều từ trước nhưng gần đây tại nhiều cơ sở sản xuất, lao động giản đơn cũng thiếu. Hiện tượng khập khiễng về cung cầu kéo theo nhiều vấn đề khác như tranh chấp về tiền lương và điều kiện lao động, đình công bất hợp pháp... làm mất ổn định thị trường lao động, ảnh hưởng nhiều mặt đến kinh tế, xã hội.

Hiệu suất phát triển đang ở mức thấp

Về vấn đề phát triển hiệu suất, có nhiều cách phân tích. Cách đơn giản và phổ biến nhất là tính hiệu quả của đồng vốn đầu tư bằng cách tính hệ số ICOR (hệ số của lượng tư bản cần tăng để tăng một đơn vị GDP) hoặc tính độ lớn của năng suất toàn yếu tố (total factor productivity - TFP). Phát triển có hiệu suất khi hệ số ICOR thấp hoặc có khuynh hướng giảm, hoặc TFP có khuynh hướng tăng. Trước và sau năm 2000, tỷ lệ đầu tư (trên GDP) của Việt Nam độ 35% (tính theo vốn đầu tư đã được thực hiện) và GDP tăng trên dưới 7%. Mấy năm gần đây tỷ lệ đầu tư tăng lên trên 40% (năm 2006 là 41%), và GDP tăng khoảng 8% (năm 2006 là 8,2%). Tính toán sơ bộ cho thấy hệ số ICOR từ năm 2000 đến nay không thay đổi và dừng ở số 5, một mức tương đối cao. Tuy đây là con số ở dạng thô cần nhiều phân tích bổ sung nhưng nhiều thông tin khác cũng cho thấy đầu tư của ta trong thời gian qua kém hiệu suất. Chẳng hạn thông tin về sự thất thoát trong xây dựng cơ bản (chiếm tới 30% vốn đầu tư), hoặc nhiều thông tin cho thấy những công trình xây dựng lên nhưng không được sử dụng hoặc chỉ được sử dụng một phần...

Để kinh tế phát triển nhanh và bền vững, hiệu suất đóng vai trò quan trọng nhất. Hiệu suất cao là động lực làm cho kinh tế tăng trưởng cao hoặc/và tiết kiệm được nguồn lực đầu tư cho tư bản cố định, dành nhiều nguồn lực hơn cho đầu tư hạ tầng xã hội và giáo dục, văn hóa. Phát triển chú trọng hiệu suất theo nghĩa đó cũng làm giảm áp lực đối với môi trường. Dĩ nhiên không ai không thấy sự quan trọng của hiệu suất. Nhưng nguồn gốc của hiệu suất ở đâu và làm thế nào để tăng hiệu suất thì không phải là vấn đề dễ thấy.

Như trên đã nói, hiệu suất được tính bằng hệ số ICOR hoặc TFP. TFP cho đến nay được hiểu là kết quả của sự tiến bộ công nghệ, kỹ thuật. Nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy nhiều yếu tố khác nữa cũng ảnh hưởng đến TFP, chẳng hạn:

- Thứ nhất, các cơ chế, chính sách tạo ra động cơ cho cá nhân và doanh nghiệp chuyển các nguồn lực vào những nơi, những ngành có hiệu suất nhất. Điển hình nhất là nguồn nhân lực, nhất là nhân tài, phải được sử dụng đúng chỗ, và không có hiện tượng nhiều cơ quan, nhiều doanh nghiệp phải cưu mang số lượng lao động nhiều hơn số lượng cần thiết.

- Thứ hai, các cơ chế, chính sách bảo đảm cho những nỗ lực tăng năng suất của cá nhân và doanh nghiệp được hưởng đầy đủ thành quả của những nỗ lực đó. Những lãnh đạo công ty có tinh thần doanh nghiệp sẵn sàng chịu rủi ro, tích cực đầu tư đưa công nghệ mới vào sản xuất, hoặc khám phá thị trường mới, áp dụng vật liệu mới, được bảo đảm lợi nhuận chính đáng. Nỗ lực của cá nhân trong cơ quan, trong doanh nghiệp được đãi ngộ xứng đáng, tránh hiện tượng thành quả của cá nhân phải được chia cho mọi người trong cùng tổ chức.

- Thứ ba, các cơ chế, chính sách tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, tạo ra quá trình rút lui của các doanh nghiệp năng suất thấp và sự trỗi dậy của các doanh nghiệp năng suất cao. Kết quả là những lãng phí về vốn, về nguồn nhân lực, về tài nguyên được hạn chế tối đa.

- Thứ tư, thị trường các yếu tố sản xuất (lao động, tư bản, đất đai...) phải được hoạt động lành mạnh, khắc phục tình trạng bất cân xứng về thông tin, thiếu minh bạch trong việc vận dụng luật lệ... để khai thông các nguồn lực, tạo sự luân lưu (mobility) của các yếu tố sản xuất để đưa lao động, tư bản... đến những nơi, những ngành có hiệu quả nhất.

Hiểu hết các yếu tố này sẽ thấy được nhiều gợi ý về mặt chính sách để làm tăng TFP. Thực trạng ở Việt Nam cho thấy còn rất nhiều dư địa để tăng hiệu suất phát triển.

Trong ba loại hạ tầng (kinh tế, xã hội, văn hóa/giáo dục), đã đến lúc phải quan tâm nhiều hơn đến hạ tầng xã hội và văn hóa/giáo dục. Cần phân bổ đầu tư công nhiều hơn cho việc bảo vệ và cải thiện môi trường sống, nhất là ở đô thị, và dành ngân sách nhiều hơn cho hạ tầng giáo dục và văn hóa. Con đường duy nhất để tăng chất lượng theo hướng đó mà không làm giảm tốc độ phát triển là phải tăng hiệu suất.

Lấy một thí dụ để thấy sự quan trọng của hiệu suất. Các nền kinh tế ở Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan từ giữa thập niên 1960 và Trung Quốc từ thập niên 1980 đã cho thấy một sự phát triển kỳ diệu. Tuy nhiên nếu so với thời đại phát triển thần kỳ của Nhật (1950-1973) thì Nhật hiệu suất hơn nhiều. Nhật dùng lượng tư bản ít hơn và phát triển với tốc độ cao hơn. Chẳng hạn, trường hợp Hàn Quốc trong giai đoạn 1960-1994, kinh tế tăng trưởng bình quân năm là 8,3%, trong đó tư bản đóng góp 4,3%, lao động 2,5% và hiệu suất 1,5%, trong khi Nhật trong giai đoạn 1950-1973, kinh tế tăng trưởng tới 9,2% nhưng tư bản chỉ đóng góp 3,4% (nhỏ hơn Hàn Quốc) vì hiệu suất đóng góp tới 3,6%.

GS Trần Văn Thọ - Đại học Waseda ( Tokyo )