NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam có thể đạt 10% trong một thời gian dài nếu có chiến lược, chính sách phù hợp - GS TS Trần Văn Thọ , Kiều bào Nhật Bản

Theo Giáo sư kinh tế học Trần Văn Thọ, tốc độ tăng trưởng kinh tế trên dưới 7,5% / năm của Việt Nam chưa ấn tượng và không tương xứng với các tiềm năng hiện có. Kinh tế Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được mức tăng trung bình 9 - 10 % trong một thời gian dài nếu có chiến lược, chính sách phù hợp.

Ông đánh giá thế nào về tốc độ phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay ?

Kinh tế của Việt Nam phát triển trên dưới 7,5 % / năm trong 2 năm gần đây, con số đó cao hay thấp có thể có nhiều ý kiến khác nhau. So với tốc độ phát triển gần đây của các nước xung quanh thì không phải là thấp. Tuy nhiên, với một nước mà thu nhập đầu người mới hơn 650 USD/năm, lao động dư thừa còn rất nhiều thì Việt Nam hiện nay có nhu cầu phải tăng trưởng cao hơn. Mặt khác, tiềm năng của Việt Nam rất lớn, cho phép phát triển 9 - 10 % / năm trong một thời gian dài. Chính vì tiềm năng to lớn này mà các công ty đa quốc gia, nhất là các công ty của Nhật Bản, đã xem Việt Nam là một môi trường đầu tư hấp dẫn trong tương lai. Điều tra của Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) tháng 11 năm ngoái liên quan đến sự đánh giá của các công ty đa quốc gia Nhật về những thị trường đầu tư mà họ xem là có triển vọng, cho thấy Việt Nam được xếp thứ 4, chỉ sau Trung Quốc, Ấn Độ và Thái Lan. -

Theo đánh giá của ông, Việt Nam hiện đang đứng ở đâu trong nền kinh tế thế giới nói chung và châu Á nói riêng ?

Quy mô kinh tế của Việt Nam hiện nay còn nhỏ. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) trong năm 2006 chỉ khoảng 55 tỷ USD, chỉ xấp xỉ bằng một nửa Philippines, một phần ba Malaysia và một phần tư Thái Lan. Mặc dù một số mặt hàng xuất khẩu như quần áo, cà phê, gạo... đã có ảnh hưởng nhất định trên thị trường thế giới, nhưng quy mô kinh tế của Việt Nam còn quá nhỏ bé nên ít được thế giới chú trọng. Những dự báo kinh tế ngắn hạn của nhiều viện nghiên cứu nước ngoài thường không kể đến Việt Nam trong mục phân tích tình hình kinh tế từng nước. Khi thảo luận về ASEAN, người ta cũng có khuynh hướng xếp Việt Nam chung với Campuchia, Lào, Myanmar và gọi là nhóm CLVM để chỉ những thành viên mới của ASEAN mà trình độ phát triển còn thấp, cần được cộng đồng thế giới giúp đỡ.

Nhưng nếu tiềm năng được phát huy thì sau 10 hoặc 15 năm, vị trí của Việt Nam sẽ khác hẳn.

Theo ông, Việt Nam có những tiềm năng gì ?

Hiện Việt Nam có nhiều lợi thế và tiềm năng lớn chưa được khai phá hiệu quả. Trước hết là lợi thế về quy mô dân số. Với 85 triệu dân, Việt Nam xếp thứ 13 trong gần 200 nước trên thế giới. Quy mô này cho phép phát triển đồng loạt nhiều ngành công nghiệp và dịch vụ.

Nhiều công ty đa quốc gia đánh giá lao động của Việt Nam là rất khéo tay, cầu tiến và có khả năng hấp thụ nhanh tri thức về công nghệ và quản lý. Liên quan đến đội ngũ lao động trí thức, một tiềm năng rất lớn là số lượng khá đông người Việt Nam ở nước ngoài có khả năng lãnh đạo về công nghệ, quản lý, và kinh doanh, nếu được tạo điều kiện để họ đóng góp vào việc xây dựng đất nước thì sẽ tạo ra một lực lượng sản xuất lớn. Ước tính, có tới 500.000 người có trình độ đại học hoặc trên đại học trong số hơn 3 triệu người Việt Nam sống ở nước ngoài.

Việt Nam có nhiều tài nguyên nông sản, thủy sản, khoáng sản, có vị trí địa lý thuận lợi. Thêm vào đó, sự ổn định chính trị, xã hội của Việt Nam cũng được đánh giá là một tiềm năng lớn. Văn hóa Việt Nam rất dễ hòa đồng với các văn hóa khác. Việt Nam có dân số đông nhưng giữa người Việt Nam không có khác biệt lớn về tôn giáo, ngôn ngữ.

Vậy cản trở lớn nhất ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của Việt Nam là gì, thưa giáo sư?

Có thể kể ra 2 nhóm vấn đề lớn :

- Thứ nhất, các nguồn lực trong nước chưa được phân bổ và sử dụng có hiệu quả. Điều này phản ánh ở nhiều mặt, như nhiều công trình, dự án đầu tư chưa thực sự bám sát theo nhu cầu thực tế và hiệu quả kinh tế.

- Thứ hai, chiến lược, chính sách hiện chưa thu hút mạnh mẽ công nghệ, vốn và tri thức kinh doanh, quản lý từ nước ngoài. Bên cạnh đó, quá trình hoạch định chính sách, chiến lược ở Việt Nam quá chậm chạp, khi đi vào thực hiện cũng mất nhiều thời gian, đặc biệt là với những quốc sách quan trọng. Sự chồng chéo giữa các bộ, ngành trong việc triển khai các chính sách chưa được giải quyết. Hành lang pháp lý chậm được cải thiện hoặc triển khai. Chính sách về kinh tế cũng hay thay đổi làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài.

Nếu hai nhóm vấn đề nói trên được giải quyết thì kinh tế Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng trên dưới 10% mỗi năm và kéo dài trong nhiều năm, tạo nên một thời đại hay một giai đoạn phát triển cao.

Việt Nam hiện đang trong quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, vậy áp lực lớn nhất hiện nay là gì?

Theo như dự kiến, cuối năm nay hoặc chậm lắm là năm sau, Việt Nam sẽ gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Nhiều quan điểm cho rằng, Việt Nam sẽ gặp rất nhiều thách thức. Tuy nhiên do Việt Nam không cần thiết phải mở cửa hoàn toàn tất cả các lĩnh vực, mà sẽ mở cửa dần dần với những lộ trình cụ thể, cho nên, theo tôi áp lực cạnh tranh là có nhưng không phải quá lớn.

Tôi cho rằng, thách thức trực tiếp và lớn hơn đối với Việt Nam hiện nay là việc thực hiện lộ trình tham gia Khu mậu dịch tự do ASEAN (tức AFTA) và sau đó là thực hiện Hiệp định tự do mậu dịch (FTA) giữa ASEAN với Trung Quốc. Theo kế hoạch thực hiện AFTA, từ năm 2006 Việt Nam phải cắt giảm thuế quan xuống dưới 5% đối với hầu hết các mặt hàng nhập khẩu từ ASEAN. Trong thị trường chung này, các công ty đa quốc gia đang triển khai việc tái cấu trúc các cơ sở sản xuất công nghiệp. Việt Nam phải có chính sách tạo môi trường đầu tư thuận lợi để giữ chân các công ty đa quốc gia, đối phó hữu hiệu với hàng nhập từ ASEAN cũng như tận dụng được cơ hội mà thị trường này mang lại.

Với FTA, Việt Nam sẽ phải xóa bỏ dần quan thuế đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc để tiến tới tự do hóa hoàn toàn vào năm 2015. Có lẽ từ năm 2010, việc cắt giảm thuế quan bắt đầu có tác động đối với sản xuất công nghiệp của VN. Hiện nay thuế của VN đối với nhiều mặt hàng công nghiệp đang rất cao mà hàng Trung Quốc vẫn thâm nhập được, có thể dự đoán rằng khi cắt giảm thuế, hàng công nghiệp nước này sẽ ào ạt vào VN. Dĩ nhiên trong khuôn khổ FTA, thị trường của họ cũng mở rộng hơn đối với hàng hóa VN, nhưng nếu năng lực cung cấp của VN vẫn như hiện nay thì khó có thể tận dụng cơ hội của FTA.

Biện pháp nào để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, thưa ông?

Bên cạnh việc khai thác tốt tiềm năng hiện có, trước hết, phải tạo một môi trường đầu tư thông thoáng với những chính sách ổn định để thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Đó là con đường ngắn nhất để tăng năng lực cạnh tranh. Thứ hai, VN cần tạo điều kiện để tư nhân tham gia nhiều hơn vào nền kinh tế. Hiện nay, doanh nghiệp tư nhân đang gặp một số trở ngại lớn như khả năng tiếp cận với các nguồn vốn không cao, khó khăn trong vay vốn dài hạn. Việc thuê đất để kinh doanh đối với doanh nghiệp tư nhân cũng gặp nhiều khó khăn bởi ưu tiên thường dành nhiều hơn cho các doanh nghiệp nhà nước. Thứ ba, bộ máy hành chính phải có hiệu suất hơn nữa nhằm tiết kiệm thời gian và các nguồn lực khác của nhà đầu tư.

Giáo sư Trần Văn Thọ sinh năm 1949 tại Quảng Nam, hiện đang định cư tại Nhật Bản.

Tại Việt Nam, ông từng là thành viên Tổ tư vấn cải cách kinh tế của Thủ tướng Võ Văn Kiệt (1993-1997) và đang cộng tác trong Ban nghiên cứu chính sách của Thủ tướng Phan Văn Khải. Ông khởi xướng và vận động thành lập Trung tâm kinh tế châu Á Thái Bình dương (VAPEC) đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành Phố HCM (hiện là Chủ tịch Hội đồng điều hành trung ương của tổ chức này). Giáo sư nhiều lần được mời làm giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP HCM và Đại học Đà Nẵng.

Tại Nhật Bản, ông từng là Ủy viên chuyên môn trong Hội đồng tư vấn kinh tế của nhiều Thủ tướng Nhật, làm cố vấn cho nhiều cơ quan của chính phủ Nhật như Viện nghiên cứu đầu tư quốc tế và phát triển kinh tế thuộc Ngân hàng xuất nhập khẩu nhà nước, Viện nghiên cứu tài chính và phát triển kinh tế thuộc Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC)... Từ năm 1998, ông được mời làm Ủy viên nghiên cứu chính sách của Diễn đàn Nhật Bản về quan hệ quốc tế, và được bầu làm Chủ nhiệm nhóm nghiên cứu chính sách cho năm 1999 của Diễn đàn này. Từ năm 2000 đến nay ông là Giáo sư Kinh tế học tại Đại học Waseda, Nhật Bản.

Hà Vy