NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Hãy tạo dựng niềm tin và khơi nguồn dòng chảy Việt Kiều - KTS Nguyễn Hữu Thái , Kiều bào Canada

Tôi đã từng được đọc những bài tham luận rất tâm huyết, rất thuyết phục, nêu những vấn đề bức xúc về Đồng bằng sông Cửu Long của Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái ( Việt Kiều Canada ), thế nên tôi đã tranh thủ gặp gỡ để phỏng vấn ông ngay sau cuộc Hội thảo của Ban Tuyên giáo Trung ương về “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh Công Nghiệp Hóa , Hiện Đại Hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế” vừa tổ chức tại TPHCM ngày 5/4.

Trước tiên, xin ông vui lòng tự giới thiệu đôi chút về bản thân cùng với những công việc hiện nay của ông?

Những năm 1963 - 1964 tôi là Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn. Chuyên môn của tôi là Kiến trúc sư - Quy hoạch gia. Tôi từng tham gia những hoạt động của công tác thanh niên, thiết kế kiến trúc và viết sách báo. Tôi nhận được Học bổng Trung tâm William Joiner, Đại học Massachusetts Boston, Hoa Kỳ ( 2004 - 2005 ). Từ 2005, tôi hợp tác nghiên cứu tại Trung tâm Triết học, Văn hóa & Xã hội Việt Nam, Đại học Temple (Philadelphia), Hoa Kỳ. Hiện làm nghiên cứu, giảng dạy và tư vấn kiến trúc - xây dựng, thường đi lại giữa Bắc Mỹ, Tây Âu và Đông Á.

Hãy khơi nguồn dòng chảy chuyên gia Việt về quê hương

Nhiều người đã nhận thấy nguồn lực chuyên gia người Việt mình ở nước ngoài là rất lớn. Nhiều người kỳ vọng đội ngũ chuyên gia người Việt hùng hậu cả về lượng lẫn chất đó sẽ đóng góp mạnh mẽ cho nỗ lực vươn lên của đất nước. Còn ông, ông nhận định thế nào ?

Phải nhìn nhận một sự kiện kỳ lạ là tuy Việt Nam nghèo mà lại hơn hẳn các nước láng giềng về mặt đa dạng trí tuệ, do hiện đang có một đội ngũ chuyên gia khá hùng hậu. Ở trong nước là hàng vạn người từ Nga, Đông Âu, và cũ mới từ Âu Mỹ, ở ngòai nước là lực lượng hàng chục vạn chuyên gia Việt thành tài tại phương Tây. Ít thấy một dân tộc nào trên thế giới mà có được một đội ngũ đông đảo, đủ ngành đủ nghề, giỏi đủ mọi thứ tiếng, thông thạo các nền văn hóa, lối sống, cách làm ăn của hơn 80 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới, như dân tộc Việt Nam ngày nay.

Phải chăng từ một trong các nước vào hàng nghèo nhất thế giới, muốn tiến nhanh theo kịp các nước láng giềng, ta không thể mãi phát triển theo bài bản cổ điển, làm chậm chạp tuần tự từng bước mà phải dám nhảy vọt, đi mũi nhọn, chạy đường tắt vào nền kinh tế tri thức của thời đại. Nếu sử dụng tốt nguồn lực chuyên gia trong nước và đặc biệt là lôi cuốn được chuyên gia gốc Việt được đào tạo tại nước ngòai thì ta có thể nhanh chóng rút ngắn khoảng cách đó. Phải chăng đó là vấn đề hàng đầu, cấp bách nhất của đất nước ta vào giai đoạn này.

Tôi cũng hãnh diện về đội ngũ khoa học - kỹ thuật gốc Việt, nhưng thú thật chưa dám vội lạc quan về sự đóng góp của họ như nhiều người từng mong đợi.

Ông có thể nói rõ lý do về sự chưa lạc quan của ông ? Ông cho rằng đội ngũ chuyên gia Việt Kiều chưa thật sự mạnh như nhiều người vẫn nghĩ ? Hay là họ chỉ như nguồn năng lượng mặt trời, như sức nước, sức gió mà đất nước chưa nắm bắt được, chưa vận hành và chưa phát huy được ?

Tiềm năng của đội ngũ chuyên gia Việt Nam ở nước ngòai thực sự ra sao, đâu là những thế mạnh cũng như những hạn chế của họ ? Có thể chia số đó ra 3 thành phần: (1) thành tài trước 1975, (2) tốt nghiệp sau 1975 và (3) lớp lớn lên tại nước ngoài.

Số người trước năm 1975 hầu hết đã thành danh, công việc ổn định, tích lũy nhiều kinh nghiệm và nay đã luống tuổi. Họ quan tâm đến tình hình đất nước, phần lớn muốn về an hưởng tuổi già nới quê hương và đóng góp những kinh nghiệm, nhưng cũng còn một số do nhiều khúc mắc quá khứ, thường dè dặt trong việc quay lại Việt Nam.

Đội ngũ trí thức được đào tạo và thành tài sau năm 1975 là thành phần hùng hậu nhất, cả về số lượng lẫn kiến thức. Con số có thể 300.000 - 400.000 người nằm trong lứa tuổi năng động 30 - 50. Họ thường nằm trong “đa số thầm lặng”, nhưng điều quan trọng nhất vẫn nghĩ mình là người Việt Nam.

Thế hệ sinh ra và lớn lên sau 1975 ở trong lẫn ngòai nước sẽ là tiềm năng lớn nhất của đất nước. Ở nước ngòai, đây là thế hệ di dân, họ hấp thu văn hoá nước ngoài - ứng xử theo lối phương Tây, ít kiên nhẫn với môi trường xã hội Châu Á, kiểu như nước ta. Vì vậy họ ít quan tâm đến Việt Nam - "quê cha đất tổ" không sâu nặng trong lòng. Sự đóng góp của họ nếu có sẽ còn tùy thuộc nhiều yếu tố cộng đồng và gia đình bên đó và cả tình hình đổi mới trong nước.

Từ thực tế mấy năm qua, phải nhìn nhận rằng sự đóng góp về mặt kinh tế lẫn trí tuệ của người Việt ở nước ngoài vào sự phát triển đất nước tuy có ngày càng nhiều hơn nhưng so với tiềm năng thực sự của cộng đồng người Việt ở bên ngòai thì vô cùng hạn hẹp và nhỏ nhoi. Phải chăng còn có quá nhiều khỏang cách về tình cảm và niềm tin giữa trong và ngòai nước, không thể một sớm một chiều xóa đi được ?

Tuy vậy, tôi nghĩ, nếu quả thật ta đã xem kiều bào là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc, đội ngũ chuyên gia gốc Việt là một tiềm năng quan trọng trong việc phát triển đất nước, thì sự khuyến khích và đưa họ về với đất nước phải nằm trong một chính sách dài hạn của Nhà nước.

Ông có đề xuất những giải pháp nào nhằm tăng cường thu hút và phát huy vai trò Trí thức người Việt Nam ở nước ngoài cho công cuộc phát triển đất nước ?

Tôi có đề xuất một vài chương trình mở đường, xem như bước đầu làm quen và giúp chuyên gia Việt hội nhập lại vào môi trường Việt Nam thời mới. Chẳng hạn như: "Trại hè tham quan tìm hiểu văn hóa, lịch sử": xem như các bước đầu cần thiết và cụ thể nhất để tiếp cận hoàn cảnh đất nước cho cả 3 thế hệ chuyên gia - từ đó sẽ mở ra những khả năng đóng góp cụ thể.

"Gặp gỡ chuyên môn": thăm viếng chuyên ngành, hội thảo nghề nghiệp - chuyên gia Việt trong lẫn ngòai nước đều có lợi.

Với chương trình "Đóng góp tuổi hưu" thì các chuyên gia Việt giàu kinh nghiệm thế hệ trước 1975 có thể đóng góp cụ thể khi tạo được điều kiện thuận lợi quay về đất nước.

Tạo "mạng tin chuyên gia" để họ không cần phải về nước công tác mà có thể trao đổi thông tin, chuyển giao công nghệ, hợp tác chuyên môn cụ thể giữa trong, ngoài.

Hoạt động "Bảo trợ giới trẻ" : bắt đầu cụ thể cho sinh viên, chuyên gia trong nước đi du học, tu nghiệp, rồi mở rộng thêm ra cho giới trẻ ra nước ngòai học hành, bồi dưỡng qua các chương trình NGO ( tổ chức phi chính phủ ), vận động cấp học bổng của đại học nước ngòai cho con em Việt Nam trong nước.

"Trao đổi nhân sự tu nghiệp" : trong khung cảnh hợp tác giữa các nước, công ty lớn mà có chuyên gia Việt kiều công tác, thúc đẩy trao đổi chuyên gia hai chiều.

Tôi nghĩ, sẽ còn nhiều phương cách mới khác bằng sự tâm huyết với vận mệnh của đất nước của các anh chị Việt kiều đã tiên phong về nước, bằng sự quan tâm thật sự từ trung ương đến các cơ quan liên quan muốn kết nối với kiều bào, thì chúng ta sẽ khơi nguồn và tạo được được dòng chảy trí tuệ Việt về quê hương, như hầu hết các nước châu Á đang tích cực thực hiện.

Là người có điều kiện đi nhiều nước, hiểu biết nhiều, ông có thể giới thiệu một kinh nghiệm nào đó trong việc thu hút kiều bào của các nước mà ông cảm thấy tâm đắc ?

Chuyện "săn lùng nhân tài" của Trung Quốc. Có anh bạn Việt kiều là chuyên gia hàng đầu giảng dạy tại một Viện Công nghệ cao ở Đức nhưng đồng thời cũng có chân trong một Viện Hàn lâm Khoa học khá nổi tiếng tại New York kể lại rằng: khi anh tham luận ở Mỹ thì có mấy Hoa kiều tiếp cận và vận động anh về đóng góp cho Trung Quốc. Thì ra họ nghĩ anh là người Hoa nên vội đến tranh thủ anh. Dò hỏi ra mới biết các hội Hoa kiều và Sứ quán Trung Quốc ở phương Tây rất tích cực trong công tác “săn lùng” nhân tài này. Họ lục lạo, lên danh sách, lập hồ sơ các chuyên gia đầu ngành người gốc Hoa ở nước ngoài, thường xuyên quan hệ và kiên trì vận động. Một khi trong nước có yêu cầu, họ tìm cách tiếp cận ngay để mời tham gia đóng góp. Hoặc trực tiếp bằng cách mời quay về đất nước công tác ở vị thế ưu đãi. Hoặc gián tiếp ở nước ngoài qua chuyển giao công nghệ cụ thể theo yêu cầu trong nước.

Các chuyên gia và giáo sư phương Tây công tác lâu năm ở Thượng Hải tôi gặp gỡ hồi năm ngoái đều cho rằng nền khoa học kỹ thuật Trung Quốc sở dĩ tiến nhanh như vậy là do kết quả công cuộc “săn lùng” và vận động tích cực suốt cả chục năm qua. Vừa qua, trong bài phỏng vấn giáo sư J. A. Fernandez đang giảng dạy ở Thượng Hải và tác giả cuốn sách nổi tiếng China CEO, tôi có đề cập vấn đề này. Ông khuyên ta nên tích cực tranh thủ nguồn lực tri thức người Việt ở nước ngoài để lấp vào khoảng thiếu hụt trầm trọng lớp chuyên gia khoa học kỹ thuật và quản lý doanh nghiệp cấp cao ở Việt Nam thời "hậu WTO".

Trong nước đã có các cuộc thảo luận nhằm tìm cách thu hút nguồn chuyên gia người mình ở nước ngoài hỗ trợ phát triển trong nước, nhiều anh chị Việt kiều đã đề xuất nhiều giải pháp: Nào tiến hành lập website hồ sơ nguồn nhân sự cao cấp Việt kiều các nước, lập bộ phận chuyên trách tại các sứ quán tiếp cận và vận động chuyên gia Việt kiều hàng đầu, đề ra chính sách thu hút cụ thể chuyên gia Việt kiều,... Nhưng phải chăng cho đến thời điểm này, ta vẫn chưa chuyển động gì mấy về các hướng này, ngoài những lời hô hào chung chung!

Có lẽ trước đây do ta chưa thực sự có yêu cầu cấp thiết về nguồn nhân lực chuyên gia Việt kiều, nhưng nay thì công tác “săn lùng” và vận động này không thể cứ mãi dậm chân tại chỗ được.

Cùng xoá đi khoảng cách về tình cảm và niềm tin giữa trong và ngoài nước.

Ông đã nói rằng "Phải chăng còn có quá nhiều khoảng cách về tình cảm và niềm tin giữa trong và ngoài nước, không thể một sớm một chiều xóa đi được ?". Theo tôi hiểu, đây không phải là một câu nghi vấn mà là một câu khẳng định. Theo ông, để rút ngắn hoặc là xoá đi khoảng cách về tình cảm và niềm tin giữa trong và ngoài nước, chúng ta cần làm gì và với những điều kiện như thế nào ?

Phía trong nước, những năm 2005-2006 này phải chăng đang mở ra một giai đoạn mới về hòa hợp hòa giải dân tộc. Giữa lúc một số nước phương Tây và giới người Việt ở nước ngoài tố giác chính quyền Hà Nội đàn áp Phật giáo và vi phạm nhân quyền, sự kiện Thiền sư Nhất Hạnh về nước sau 40 năm xa quê hương đã đánh dấu một cái mốc mới trong hướng tích cực này. Thiền sư Nhất Hạnh cho rằng mọi người Việt Nam có lòng của cả các phía "hãy ngồi lại với nhau như những người anh em", giống như điều mong ước của nhà văn Nhật Tiến: "Tôi tin rằng cả trong lẫn ngoài nước, sự có mặt của những con người thực lòng yêu nước, thực lòng quan tâm đến thân phận xót xa của quần chúng nghèo khó, bao giờ cũng là thành phần chiếm đa số. Vì thế, chỉ có sự khơi mạch yêu thương và chủ trương hoá giải hận thù mới có thể tập hợp được hết sức mạnh của toàn dân, cả trong lẫn ngoài nước và mới mong làm cho những vấn đề khẩn thiết của quê hương có cơ hội giải quyết".

Như vậy, công cuộc hòa giải mới phải đặt trên cơ sở đượm tình “dân tộc” ( quyền lợi tối thượng của dân tộc ), đầy tính “nhân văn” ( có tính nhân bản, mới nhìn ra cái đúng sai của người khác ), và nhất là phải thấm nhuần tinh thần “dân chủ” ( chấp nhận sự khác biệt trong suy nghĩ và hành động của người khác ). Nhà nước Việt Nam phải thật tâm đề ra và áp dụng chính sách hòa hợp hòa giải dân tộc như một “quốc sách”, thành lập Hội đồng hòa giải dân tộc, chấm dứt ngay sự phân biệt “cách mạng/ngụy” trong nội bộ nhân dân cả nước, chấm dứt việc kích động hận thù, thực hiện đường lối giáo dục thế hệ trẻ trong tinh thần nhân đạo, không bạo lực, chấp nhận tranh luận.

Với người Việt lưu tán ở nước ngoài, các giải pháp cụ thể về hòa giải phải phát xuất từ sự hợp tác thực hiện của những người thiện chí của cả hai phía, cả trên mặt trận văn hóa lẫn ý hướng hòa hợp hòa giải. Thông thường, nỗ lực nuôi dưỡng văn hóa, tình cảm dân tộc do chính cộng đồng hải ngoại và cả quốc gia gốc thực hiện. Triển khai công cuộc hòa giải đó gồm nhiều công tác: chấm dứt khiêu khích, kích động hận thù, bạo lực, tích cực đối thoại trong tinh thần dân chủ và nhất là triển khai tích cực giao lưu văn hóa, văn học nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, kinh tế hai chiều.

Khơi mạch yêu thương và hoá giải hận thù là điều ai cũng mong muốn, nhưng thực tế thì vẫn còn nhiều trở ngại

- Trong thực tế, trở ngại chính yếu của công cuộc hòa giải dân tộc hiện nay là lớp người bảo thủ lớn tuổi ( chiếm gần một nửa của cả hai phía ), một số người còn mang nặng quá khứ đau buồn và thành kiến, đầu óc đã “lão hóa” xơ cứng. Cho nên công cuộc hòa giải mới cần phải được trao lại cho lớp người mới ( thế hệ sinh ra hoặc lớn lên sau năm 1975, chiếm trên một nửa dân số, trẻ trung, trong trắng, lành mạnh, tiến bộ, không ràng buộc quá khứ ). Chính lớp người trẻ này phải ngồi lại với nhau và nhìn thẳng vào nhu cầu cấp bách của nhân dân và đất nước hiện nay :

- Tạo ý thức không ỷ lại vào nước ngoài, cậy nhờ cường quốc giải quyết vấn đề của nước mình,

- Ý thức được nỗi nhục tụt hậu, nghèo khó và kém phát triển của đất nước,

- Khơi mạch yêu thương, hóa giải hận thù, tập trung sức mạnh toàn dân trong và ngoài nước, thay đổi não trạng góp phần phục hưng xứ sở.

Có như vậy thì may ra mới xuất hiện giữa người Việt sự hòa hợp hòa giải dân tộc thật sự và nhìn xa hơn là Việt Nam tiến tới một chế độ tiến bộ : xã hội công dân, nền dân chủ, nhà nước pháp quyền, nền kinh tế công-nông nghiệp cùng với thị trường tự do, nền văn hóa đa dạng ( mang tính dân tộc và hòa nhập thế giới ).

Quỳnh Lệ