NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Nhìn thẳng vào sự thật để không lạc hậu

Trên chặng đường đất nước đi vào thời kỳ phát triển mới, bài học của Đại hội VI càng có ý nghĩa. Bởi vì nhìn thẳng vào sự thật thì tránh được lạc hậu với sự thật, hơn thế nữa đó là cách nhìn, là tiền đề không thể thiếu cho mỗi quyết định đúng nhất thiết phải có.

Chuyển sang con đường phát triển theo chiều sâu

Sau 22 năm đổi mới, đất nước đã tạo ra được tình hình: thực lực của bản thân cho phép nắm lấy thời cơ bên trong và bên ngoài để bước sang thời kỳ phát triển mới: Phát huy yếu tố con người và hội nhập. Trước đây 22 năm không thể có tình hình này. Thậm chí cách đây 5 năm cũng chưa thể tạo ra tình hình này, nguyên nhân hàng đầu là vì chưa hội đủ những yếu tố bên trong.

Nhưng nắm bắt lấy bằng cách nào?

Bằng cách tiếp tục kéo dài con đường của 22 năm phát triển theo chiều rộng như vừa qua?

Hiển nhiên các giới hạn không được phép vượt qua sự phát triển theo chiều rộng đã ở ngay sát chân chúng ta - nhìn về bất kể phương diện nào cũng thấy như vậy: đất đai, tài nguyên, môi trường, lao động giá rẻ và trình độ phát triển thấp của nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng, trình độ quản trị quốc gia...

Hiện nay đã xuất hiện những ách tắc, những mâu thuẫn cục bộ không dễ gì khắc phục được về nhiều phương diện. Đi tiếp con đường phát triển như 22 năm vừa qua, sẽ tích tụ thêm mãi những mâu thuẫn nội tại phát sinh ngay trong lòng bản thân quá trình phát triển của đất nước.

Có thể nói dứt khoát, không một diễn biến hòa bình của thế lực nào thù địch với Việt Nam có thể đảo ngược được thành quả độc lập thống nhất đất nước đã giành được của dân tộc ta. Nhưng để cho bất cập và tha hóa đẻ thêm mãi các mâu thuẫn nội tại và ách tắc hiện nay, thì tới một lúc nào đó là hoàn toàn có thể! Độc lập quốc gia trong trường hợp này sẽ biến dạng thành lệ thuộc.

Có thể nói hình ảnh thế này: Sau 22 năm đổi mới, sự phát triển bên trong của nước ta và thời cuộc quốc tế đang đặt nước ta trước ngã ba đường của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa:

Sẽ tiến tới một nước “NIC” trong tương lai không xa lắm - ví dụ dưới dạng một Việt Nam Hàn Quốc?

Hay là để cho quán tính tiếp tục chi phối, cuối cùng sẽ đưa nước ta trở thành một quốc gia vẫn là lạc hậu - ví dụ một Việt Nam kiểu như Philippines?

Bạn bè trên thế giới của nước ta cũng mong mỏi như vậy.

Là người Việt Nam xin đừng lúc nào quên nước ta từ bao thế kỷ nay có vị trí địa lý, kinh tế, chính trị thuận lợi số 1 và thách thức số 1 - trong thế giới hôm nay và trong tương lai cũng vậy. Vì thế không được phép để cho quốc gia đi tới viễn cảnh trở thành kẻ làm thuê về kinh tế và vong quốc vì lệ thuộc! Như một mệnh lệnh của đất nước: Đứng trước ngã ba này, phải tìm đường đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển, hiện đại!

Cũng phải nói ngay, lựa chọn đúng và thực hiện đúng sự lựa chọn là hai chuyện khác nhau. Đã 6 thập kỷ trôi qua, cả thế giới thứ ba mới chỉ xuất hiện được vài ba “con rồng”, còn lại hàng chục nước đang phát triển khác tuy đã giành được những bước tiến rất xa, nhưng vẫn chưa thoát hẳn tình trạng các nước nghèo và lệ thuộc, không ít nước vẫn còn ở thời kỳ phát triển hoang dã.

Ngay trong ASEAN, các nước như Indonesia, Thái Lan... đã phát triển năng động trong 3 thập kỷ liên tiếp, nhưng từ hai thập kỷ trở lại đây, nhất là từ 10 năm nay đang giẫm chân tại chỗ; Philippines cũng vậy, và ngày nay chủ yếu vẫn là một quốc gia làm thuê. Là nước đi sau, nước ta phải ngẫm nghĩ rất nhiều về thực tế lịch sử này. Trước sau bí quyết của các nước thành công vẫn là phát huy yếu tố con người - do xây dựng được hệ thống kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội dựa trên yếu tố phát huy con người.

Một thành tựu quan trọng khác của năm 2007 - tuy còn rất khiêm tốn - nhưng nếu được tiếp tục phát huy sẽ có ý nghĩa sâu xa đối với toàn bộ sự phát triển của đất nước trong tương lai, đó là một số tiến bộ mới trong quá trình dân chủ hóa đời sống mọi mặt của đất nước – trước hết là trên lĩnh vực kinh tế. Có thể đo những tiến bộ mới này qua nhiều giác độ khác nhau, từ giảm bớt một chút thủ tục hành chính phiền hà, cải tiến hệ thống luật pháp theo hướng thân thiện hơn với kinh tế thị trường và phù hợp với những cam kết quốc tế và khu vực, tiến thêm một bước trong tự do hóa thương mại và đầu tư, môi trường kinh doanh năm 2007 được World Bank xếp cao lên 13 bậc, riêng thuận lợi về cấp tín dụng 2006 xếp thứ 80/104 năm 2007 xếp thứ 48/104; có một số biện pháp mới khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân và thực hiện một số biện pháp đẩy mạnh kinh tế quốc doanh ra thị trường, cải thiện một số chính sách đối với cộng đồng người Việt ở nước ngoài, tiếng nói của báo chí ngày càng giữ vai trò quan trọng hơn trong sự nghiệp phát triển đất nước... Thực tế này càng rõ: Chỉ có thể thông qua phát huy dân chủ để khơi dậy mọi ý chí và nguồn lực chuyển hướng nền kinh tế sang phát triển theo chiều sâu.

Khắc phục tình trạng "thắt cổ chai"

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và nhiều lãnh đạo khác của Đảng và Nhà nước thẳng thắn nêu ra sự bất cập của kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực kém phát triển và năng lực quản trị quốc gia hẫng hụt. 3 yếu kém này tạo nên tình trạng “thắt cổ chai” kìm hãm sự phát triển năng động của quốc gia. Chiến lược nào hay kế hoạch gì cho trước mắt và cho nhiều năm tới cũng phải bắt đầu từ khắc phục tình trạng “thắt cổ chai” này - đòi hỏi ưu tiên số 1.

Rất đáng huy động trí tuệ cả nước mổ xẻ nguyên nhân mọi mặt để nhận dạng chính xác thực trạng cái “thắt cổ chai” này. Huy động trí tuệ khắc phục cái “thắt cổ chai” này là thực hiện dân chủ có thực chất nhất.

Thực hiện dân chủ ở đây trước hết là thực hiện quyền nói của người dân, của trí tuệ về những vấn đề hệ trọng liên quan đến xóa bỏ cái “thắt cổ chai”. Đứng trước yêu cầu phải thực hiện ưu tiên số 1 này, dân chủ có nội dung vô cùng đơn giản và rõ ràng, có một sức mạnh giải phóng không thể lường hết được!

Tuy nhiên, thực hiện quyền này lại đang là việc khó, và chỉ có thể khả thi hơn trên cơ sở thực hiện công khai minh bạch, nâng cao dân trí và thường xuyên nâng cao những quyền khác của công dân, trước hết là quyền được thông tin, quyền được nói - để cả nước cùng nhìn thẳng vào sự thật, cùng sẵn sàng chia sẻ mọi khó khăn thử thách, cùng chung một quyết tâm đưa đất nước đi lên.

Yêu cầu khắc phục tình trạng “thắt cổ chai” này đòi hỏi trong năm 2008 cần hình thành được các chiến lược phát triển cho từng vấn đề: (1) kết cấu hạ tầng, (2) nguồn nhân lực, (3) quản trị quốc gia, với những quy hoạch và kế hoạch cụ thể. Có thể nói trong vòng 5-10 năm tới và đến năm 2020 phải tiến hành những cải cách lớn cho 3 vấn đề nêu trên, có như vậy mới hy vọng chuyển mạnh sang một thời kỳ phát triển cao hơn và mới có điều kiện thực hiện lộ trình của những cam kết trong khung khổ WTO, tạo ra động lực thực hiện thành công chiến lược phát triển đến năm 2020.

Về kết cấu hạ tầng:

Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng cho cả nước là điều kiện hàng đầu để quy hoạch phát triển các vùng kinh tế, quy hoạch phát triển đô thị và nông thôn, tạo điều kiện chuyển nền kinh tế sang chiến lược mới phát triển theo chiều sâu. Một vấn đề bức xúc mới là thiên tai ngày càng gay gắt, những dự báo về thay đổi môi trường tự nhiên do tổn thất tầng ô-zôn của bầu khí quyển liên quan đến nước ta đầy lo ngại, có thể kiểm chứng qua 3 năm gần đây có sự gia tăng rõ rệt của lũ lụt miền Trung và triều cường. Riêng lũ lụt miền Trung năm nay cướp đi 70 sinh mạng và gây thiệt hại ước khoảng 30 nghìn tỷ đồng, tương đương 3% GDP; nếu tính gộp cả thiệt hại năm 2007 do kẹt xe ở hai thành phố lớn và triều cường, tổng thiệt hại lến tới khoảng 4% GDP. Thực tế này đặt ra bài toán nên chăng phải dồn lực trong một số năm tới cho việc phát triển kết cấu hạ tầng, những công trình phòng chống thiên tai, những dự án bố trí lại các khu dân cư... Đây là những vấn đề từ năm 2007 trở đi không thể trì hoãn được nữa.

Ngay trước mắt, những ách tắc về giao thông - đặc biệt là ở TP.HCM và Hà Nội phải cần tới 2-3 năm mới giải quyết được nếu có phương án xử lý đúng đắn.

Việc khắc phục những yếu kém hiện tại trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo và phát triển nguồn nhân lực:

Nếu làm giỏi mọi việc, dự báo chúng ta có lẽ cũng phải cần tới khoảng 10 năm mới có thể cải cách xong hệ thống giáo dục và đào tạo hiện nay để đi vào một hướng phát triển mới của nguồn nhân lực đáp ứng được những đòi hỏi của đất nước. Nhiệm vụ này chỉ có thể thực hiện thành công với sự vận động rộng lớn toàn xã hội tham gia gìn giữ, xây dựng những giá trị nền tảng của đất nước; gắn với việc đổi mới nhiều vấn đề, nhiều chính sách trong hệ thống chính trị theo những kỷ cương của nhà nước pháp quyền - nhất là chính sách dùng người và phát huy con người. Ví dụ: Mọi nỗ lực cải cách hay đổi mới giáo dục – đào tạo và phát triển nguồn nhân lực sẽ trở nên vô nghĩa nếu xã hội và hệ thống chính trị còn dung tha chuyện chạy ghế, còn tồn tại chuyện dùng người theo các mối quan hệ, những thủ đoạn học giả bằng thật vẫn còn đất dụng võ... Nói một cách khác, nhiệm vụ này thành hay bại gắn hữu cơ với những đổi mới sâu xa trong xã hội và trong đời sống chính trị của đất nước – và hiển nhiên đây không thể là câu chuyện ngày một ngày hai.

Việc nâng cao được năng lực quản trị quốc gia theo kịp nhịp độ phát triển của đất nước:

Lâu nay nhiều nghị quyết của Đảng nhấn mạnh sự cần thiết đổi mới hệ thống chính trị phải theo kịp đổi mới kinh tế. Song nhận thức đúng đắn này khi biến thành hành động cụ thể lại chỉ khuôn vào vấn đề cải cách hành chính, mà đúng ra phải là nhiệm vụ nâng cao năng lực quản trị quốc gia.

Cuộc sống cho thấy chỉ có thể nâng cao năng lực quản trị quốc gia thông qua đổi mới hệ thống chính trị – đây là một tồn tại lớn, đã đến lúc phải đặt lên bàn nghị sự. Rõ ràng việc tiến hành cải cách hành chính với nội dung hạn hẹp như hiện nay và tách rời khỏi hệ thống chính trị nói chung và hệ thống nhà nước nói riêng như đang làm không thể mang lại hiệu quả mong muốn.

Các đại hội Đảng, các dịp tổng kết kết thúc nhiệm kỳ đã đánh giá: nhiệm vụ cải cách hành chính tiến hành chậm, ít hiệu quả, không theo kịp đòi hỏi tình hình... Trong những văn kiện này không hiếm sự phê phán nghiêm khắc những bất cập của bộ máy hành chính quốc gia, có ý kiến nêu rõ cải cách hành chính chỉ có khả năng thành công nếu xuất phát từ đổi mới toàn diện vai trò lãnh đạo của Đảng. Đó là những đánh giá xác đáng.

Chỉ cần dựng lên một sơ đồ sự vận hành của hệ thống chính trị, bao gồm cả hệ thống nhà nước, sẽ càng thấy rõ việc nâng cao năng lực quản trị quốc gia cần bắt đầu từ việc đổi mới và nâng cao chất lượng vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền.

Việc đổi mới hệ thống quản trị đất nước đòi hỏi bao nhiêu năm, nhanh hay chậm, thành hay bại, tất cả phụ thuộc vào việc đổi mới làm cho Đảng CSVN trở thành lực lượng tinh hoa của dân tộc để có khả năng thực hiện được vai trò lãnh đạo đất nước; toàn bộ sự vận động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước phải nằm trong khung khổ kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự ngày càng phát triển.

Sau 22 năm đổi mới, tình hình phát triển mọi mặt ở nước ta hiện nay đã đến mức cho phép kết luận: Không xây dựng được một hệ thống quản trị quốc gia hiện đại, sẽ không thể có một Việt Nam công nghiệp hóa theo hướng hiện đại. Đây thực sự là thách thức lớn nhất đối với đảng cầm quyền.

Tình hình và mọi điều kiện đất nước đang có trong tay cho phép nhiệm vụ khắc phục tình trạng “thắt cổ chai” trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển năng động và bền vững của đất nước về mọi mặt, thực hiện được với chất lượng tốt hơn những mục tiêu tăng trưởng và phát triển đã đề ra cho đến năm 2010. Đấy cũng là sự phản ứng quyết liệt và dứt khoát nhất cần phải có trước những vấn đề năm 2007 đặt ra cho đất nước, là hướng phấn đấu đúng nhất, để đất nước ta sẽ không ngoặt vào hướng đi dẫn tới một quốc gia lạc hậu.

Trí tuệ, ý chí chính trị và thời gian là quyết định

Chuyển sang thời kỳ phát triển mới như thế nào?

Trước khi tìm câu trả lời cho câu hỏi này, có lẽ nên đặt thêm một câu hỏi khác: Nước ta – ở đây xin được hiểu với nghĩa bao trùm là nhân dân ta, nhà nước ta, đảng lãnh đạo... có nghèo về trí tuệ không?

Hy vọng phần I của bài này đã lý giải được như thế. Song sẽ phải bàn cãi rất nhiều: Huy động chúng bằng trí tuệ nào, với ý chí được thống nhất ra sao? Cũng có nghĩa là nhằm vào mục tiêu nào? Đã có sự lựa chọn? Tất cả - ở đây là nhân dân, nhà nước, đảng lãnh đạo – đã thống nhất trong một sự lựa chọn?

Còn thời gian? Chúng ta nhận thức nó đang là thúc bách, là đang ở ngã 3 "hoặc là... hay là..," hay là chỉ là sự tiếp nối bình thường muôn thuở giữa ngày hôm qua, hôm nay và ngày mai? Chúng ta nghĩ gì cảnh trâu chậm uống nước đục? Nhận thức nào, sẽ hệ lụy ấy. Chúng ta đã đi tới một nhận thức thống nhất?

Làm thế nào khắc phục được những điều này? – đấy phải là câu hỏi của mỗi người và của tất cả mọi người, chỉ có thể tìm được câu trả lời một khi cùng nhau chia sẻ nỗi bức xúc: Làm gì để đất nước trở thành một quốc gia phát triển?

Hỏi như thế, sẽ phải rà soát lại và xác định lại tất cả cho phù hợp với tình hình mới, yêu cầu mới.

Ví dụ: Than phát triển mạnh và xuất khẩu nhiều như hiện nay đang phát sinh hệ quả gì? Hàng loạt các mỏ khoáng sản trong các tỉnh biên giới phía Bắc đang được triển khai, sắp tới sẽ là quặng bauxite ở Tây Nguyên, sẽ tiếp tục khai thác để xuất khẩu dầu thô?... Như thế có phải là sự lựa chọn tối ưu không cho một quốc gia đất hẹp người đông với một vị thế đầy thách thức hay không? Tiếp tục hay không việc có thêm những công trình kinh tế gây ô nhiễm môi trường đến nỗi báo chí đã phải tặng cho cái tên “kẻ giết người thầm lặng” (Tuổi trẻ ngày 29/10/2007 và các số tiếp theo), trong khi đất nước đang xuất hiện những dòng sông “chết”, các làng ung thư? Chúng ta lựa chọn ngành đóng tàu biển, ngành bột giấy, ngành khai khoáng... là chiến lược dài hạn, hay “giải pháp tình thế”? Là nước đi sau có nhất thiết phải chấp nhận tất cả những gì các nước đi trước đang thải loại không?

Tư duy “nhiệm kỳ” đang là nguyên nhân của nhiều căn bệnh trong chiến lược và quy hoạch phát triển, trong phát huy sức mạnh của nền kinh tế thống nhất, trong công tác tổ chức cán bộ... Lối tư duy này đối kháng với lợi ích phát triển chiến lược của quốc gia. Ai không muốn khắc phục tư duy này? Trí tuệ và ý chí nào để cho nó kéo dài sự tồn tại?

Vân... vân...

Không chủ quan tự mãn, thì còn rất nhiều câu hỏi như thế phải đặt ra. Giả thử tìm được câu trả lời đúng, song có gan vượt lên sức ép tâm lý nhiều bề và của chính mình để lựa chọn quyết định đúng không?

Chỉ có cách bám chắc vào thực tế khắc nghiệt của bối cảnh thế giới để quyết định: Là một quốc gia đất hẹp, người đông, có vị trí địa lý kinh tế và chính trị thuận lợi số 1, đồng thời cũng chịu thách thức số 1, nước ta lựa chọn gì cho mình – từ sản phẩm kinh tế cho đến vị thế chính trị quốc tế? Phải làm gì để thực hiện được sự lựa chọn ấy?

Đất nước này là của dân, do dân, vì dân, sẽ có câu trả lời.

Lời kết : Bài học của Đại hội VI

Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đi vào lịch sử là mở đầu thời kỳ đổi mới. Nội dung cách mạng nhất của Đại hội này là ý chí nhìn thẳng vào sự thật, nhờ vậy đã xác lập được con đường đổi mới, nhờ vậy đã dẫn tới thành quả đất nước giành được như hôm nay. Vì lý do này, bài học quan trọng của Đại hội VI thường được nhắc tới là thái độ nhìn thẳng vào sự thật. Trên chặng đường đất nước đi vào thời kỳ phát triển mới, bài học này càng có ý nghĩa. Bởi vì nhìn thẳng vào sự thật thì tránh được lạc hậu với sự thật, hơn thế nữa đó là cách nhìn, là tiền đề không thể thiếu cho mỗi quyết định đúng nhất thiết phải có.

Đại hội VI còn một bài học khác quan trọng không kém, cần được nhấn mạnh trong năm 2007: Đừng bao giờ lặp lại tình hình bị dồn đến chân tường mới quyết định đổi mới.

Xin lưu ý, trong 22 năm đổi mới vừa qua có không ít trường hợp đã để cho cơ hội tuột tay hoặc không được tận dụng được.

Ví dụ, mỗi một lần đại hội Đảng, mỗi lần bầu Quốc hội mới đều là một cơ hội cực kỳ lớn để giải phóng nghị lực sáng tạo của toàn dân mang lại sức mạnh mới cho đất nước, để đổi mới Đảng, để nâng cao năng lực, phẩm chất của hệ thống nhà nước..; mỗi lần đại hội cấp tỉnh và bầu cử hội đồng nhân dân tỉnh cũng mang lại những cơ hội như vậy cho mỗi tỉnh... Nếu mỗi lá phiếu bầu trong những dịp như thế có chất lượng và sức nặng đích thực của nó! Song tiếc rằng những gì đạt được qua những lá phiếu như thế chưa đủ sức nâng hệ thống chính trị lên ngang tầm đòi hỏi của nhiệm vụ. Chẳng lẽ lại chờ đợi nước đến chân mới nhảy?

Đàm phán để gia nhập WTO kéo dài một thập kỷ, song chuẩn bị cho hậu WTO không được bao nhiêu; thị trường vốn trong nước và quan hệ kinh tế đối ngoại phát triển đột phá, nhưng thiếu vắng sự sẵn sàng cần thiết – nổi cộm nhất hiện nay là nguồn nhân lực, dự án khả thi, kết cấu hạ tầng, năng lực quản trị...

Còn bao nhiêu cơ hội khác nữa đang có trong tay không đủ kiên nhẫn chờ đợi sự chậm chạp của chúng ta?

Nhớ lại, tình hình khủng hoảng kinh tế xã hội của nước ta vào giữa những năm 1980 đã lên tới đỉnh điểm, tác động của bối cảnh quốc tế càng làm gay gắt thêm đến tột độ. Song may mắn thay cuộc sống đã đi trước những bước quyết định: từ hiện tượng Kim Ngọc, đến khoán chui, khoán 10, khoán 100... Khi công cuộc đổi mới được tiến hành, ngay lập tức một sức sống mới được giải phóng. Yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh quốc tế mới đặt ra cho Đảng tình hình và nhiệm vụ hoàn toàn khác hẳn trước. Không ý thức sâu sắc điều này sẽ là thảm họa.

Lịch sử không nhất thiết lúc nào cũng lặp lại may mắn như thế, cũng không có chữ “nếu”. Song lịch sử nhắc nhở: Đừng bao giờ lại để xảy ra tình trạng bị dồn vào chân tường mới quyết!

Đấy cũng là lời gửi gắm của năm 2007 cho năm 2008, tất cả cho một quốc gia Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại!

Nguyễn Trung