NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Gầy dựng di sản cho thế hệ mai sau - GS TS Nguyễn Văn Tuấn , Kiều bào Úc

Sáng nay lên mạng đọc báo tôi được biết buổi lễ Vinh danh nước Việt đã được diễn ra tại Văn miếu vào tối qua. Là một trong 15 người được vinh dự trao giải thưởng tinh thần này, nhưng vì công việc tôi rất tiếc không thể về tham dự buổi lễ. Tuy vậy tôi cảm thấy có “nhiệm vụ” nói lên vài ba suy nghĩ chợt hiện.

Trước hết tôi muốn bày tỏ lòng cám ơn chân thành đến Người Viễn Xứ và VietNamNet đã có nhã ý tiến cử và hội đồng bình duyệt đã chọn tôi trao giải thưởng, một hình thức ghi nhận mà tôi cho là rất có ý nghĩa tinh thần. Tôi đã có lần nói riêng với các anh chị rằng tôi tự thấy mình không phải là ứng viên lí tưởng, bởi vì việc làm của mình, đóng góp của mình cho quê hương còn khiêm tốn quá. Với những ai còn mang nặng tư duy của “chủ nghĩa lí lịch” (tôi biết tư duy này vẫn đây đó tồn tại ở trong nước) thì, với một quá khứ “vượt biên”, tôi có lẽ không phải là một ứng viên lí tưởng. Là người từng phục vụ trong một vài hội đồng bình duyệt khoa học ở nước ngoài, tôi rất biết những khó khăn và những lời ra tiếng vào trong bất cứ cuộc bình chọn nào.

Ấy thế mà ban tổ chức đã bình chọn tôi! Điều đó làm cho tôi không chỉ làm tôi cảm động, mà thấy tin tưởng hơn vào tư duy đổi mới. Và, tôi thấy việc làm vinh danh là một minh chứng, một thể hiện cho định hướng “khép lại quá khứ, hướng về tương lai, cùng nhau xây dựng đất nước” mà chính phủ đã vạch ra từ khoảng 10 năm trước. Tôi muốn nhân dịp này bày tỏ sự đồng cảm và thông cảm với ban tổ chức Vinh danh nước Việt, và muốn nói rằng các anh chị đã làm một việc có thể nói là vừa mang tính đột phá vừa có ý nghĩa lớn

Tôi cảm thấy hai chữ “vinh danh” lớn quá; tôi thích chữ “ghi nhận” hơn. Là nhà khoa học, là nghệ sĩ, là doanh nhân, ai mà không hạnh phúc khi thấy việc làm của mình, công trình của mình được công chúng ghi nhận, và tôi cũng không thoát ra ngoài cái lệ thường ấy. Tôi tự thấy được ghi nhận hay được vinh danh là “được” mang trên mình một sứ mệnh - không phải hôm qua, mà là hôm nay và ngày mai - cho xứng đáng với danh hiệu “Sứ giả Lạc Hồng”.

Theo tôi hiểu, sứ giả là người có nhiệm vụ đại diện cho đất nước mình, quảng bá cái tinh túy của dân tộc, phô trương những giá trị thẩm mĩ của văn hóa Việt Nam, phát truyền những cống hiến khoa học đến cộng đồng thế giới. Nếu cách hiểu đó đúng thì sứ giả Lạc Hồng không phải chỉ là chúng tôi - những người được ghi nhận ngày hôm nay - mà là tất cả người Việt Nam, trong và ngoài nước. Trong môi trường lí tưởng, mỗi người Việt chúng ta có thể đã, đang và sẽ là sứ giả của Việt Nam qua việc làm tốt, qua thái độ cư xử có văn hóa, và qua cách sống đậm đà nhân bản hàng ngày

Đối với người trí thức, sứ mệnh Lạc Hồng còn bao gồm cả việc đóng vai trò nói lên sự thật liên quan đến Việt Nam cho thế giới biết. Những bất công và tàn bạo mà các thế lực gây chiến tranh đã để lại trên mảnh đất và con người Việt Nam cần phải được ghi lại và giải bày cho thế giới cảm nhận được. Ở Việt Nam, còn biết bao người, kể cả nạn nhân chất độc da cam, vẫn còn chịu nhiều đau khổ và bất công. Là người làm khoa học, tôi thấy mình phải có bổn phận nói lên sự thật này, phải nói lên cái mâu thuẫn là tiến bộ khoa học và công nghệ giúp cho chiến tranh càng ngày càng có sức tàn phá khủng khiếp, và chúng ta hi vọng qua bài học Việt Nam thế giới sẽ không còn chiến tranh nữa.

Có lẽ nói ra cũng bằng thừa, nhưng phải nhắc lại ở đây rằng vì những biến động lịch sử lớn trong thời gian qua, một cộng đồng người Việt lên đến con số 3 triệu đã hình thành ở nước ngoài. Hình như trong lịch sử nước nhà chưa bao giờ có một tập thể người Việt sống xa quê hương đông đảo như hiện nay. Có người nhìn sự hiện diện của người Việt ở nước ngoài là một dấu ấn không đẹp của lịch sử dân tộc, nhưng tôi muốn nhìn sự kiện bằng một lăng kính tích cực hơn. Sự có mặt của người Việt khắp thế giới đã dần dà làm giàu cho văn hóa bản địa mà người Việt định cư. Thế giới Tây phương đã bắt đầu biết và cảm được Tết, đã khâm phục món phở, đã say mê với nghệ thuật cải lương, v.v… Nhưng quan trọng hơn nữa, sự có mặt của người Việt trên khắp thế giới đã chứng minh hùng hồn cho thế giới thấy bản lĩnh Việt, những người mà nếu có cơ hội công bằng, cũng có thể - trong bất cứ lĩnh vực nào - đứng ngang hàng với bất cứ dân tộc nào trên thế giới.

Nhưng phải nhìn nhận một thực tế rằng sự thành đạt của một số trí thức người Việt ở nước ngoài, kể cả những người được vinh danh hôm nay, không phải chỉ nhờ vào nội lực của mình, mà một phần lớn nhờ vào nền tảng mà những người đi trước ở các nước mình định cư đã dày công xây dựng nên. Nói cách khác, chúng ta thành đạt - dù còn khiêm tốn - một phần lớn là thừa hưởng từ di sản của người bản xứ đã để lại. Cũng như cây cối, nếu không có môi trường tốt thì không thể nào sinh sôi nẩy nở được dù có gien tốt; người Việt ở nước ngoài chưa chắc đã có được một cuộc sống ổn định hay một sự nghiệp tích cực như hiện nay nếu không có được sự hiếu khách của các nước như Mĩ, Pháp, Đức, Nga, Úc hay Canada. Họ đã mở rộng cửa đón chúng ta, cho chúng ta cơ hội bình đẳng với công dân của họ hầu như trong mọi lĩnh vực, kể cả được giúp đỡ để theo học ở những trường mà tổ tiên của họ đã từng bỏ ra hàng trăm năm để gầy dựng. Họ khen ngợi khi chúng ta gặt hái chút thành quả. Họ chịu đựng và thông cảm khi chúng ta bất đồng ý kiến với họ. Thành ra, nhân dịp vinh danh này, tôi muốn nghiêng mình thành thật cám ơn nước Úc và Mĩ cũng như người Úc và người Mĩ, những người đã khuyến khích, giúp đỡ để tôi theo đuổi sự nghiệp cho đến ngày hôm nay.

Một bầu không khí vui mừng dễ làm cho người ta say men. Nhưng tôi thấy chúng ta cũng không nên quá tự phụ cho rằng lực lượng trí thức người Việt ở nước ngoài hợp lực với anh em trong nước có thể chấp cánh cho Việt Nam “bay” cao hơn, xa hơn các nước khác. Tôi thấy cần phải cảnh giác những bình phẩm có tính cách tự cao, tự đại như người Việt ta hơn người về tính hiếu học, học giỏi, thông minh, v.v… Trong thực tế, chúng ta phải nhìn nhận rằng đất nước chúng ta vẫn còn rất nghèo, nền khoa học của chúng ta còn rất thô sơ, và trình độ học vấn của cả nước, tính trung bình, cũng không cao hơn ai. Tôi đọc đâu đó họ có viết đại khái rằng con người ta học bằng ba phương pháp: kí ức, bắt chước, và kinh nghiệm. Hai phương pháp đầu thì rất dễ thực hiện, nhưng phương pháp thứ ba lại rất cay đắng. Nhìn lại quãng đường đời mình đã đi qua tôi thấy những nỗi nhục nhã, xấu hổ, những kinh nghiệm đắng cay thường là những đòn bẩy để tự mình vươn lên. Có bị chê dốt thì mới học thêm cho bớt dốt. Có lẽ phải nhận thức rằng chúng ta còn thua kém các dân tộc khác rất nhiều, và vì lí do sinh tồn, vì danh dự dân tộc, mỗi chúng ta phải có nhiệm vụ học hỏi thêm, phấn đấu hơn nữa để mai này con em chúng ta còn có thể ngẩng cao nhìn các dân tộc chung quanh.

Ngày nay chiến tranh đã đi vào dĩ vãng, chúng ta không phải dồn sức lực để đương đầu với kẻ thù quân sự nữa; kẻ thù mà chúng ta đang đương đầu còn nguy hiểm hơn nhiều: đó là nguy cơ tụt hậu, nghèo đói, và bất công xã hội. Trong lịch sử nước nhà, chưa bao giờ chúng ta có một thời gian hòa bình dài như 30 năm qua, và hi vọng là trong thời gian tới. Giữ vững hòa bình lâu dài trong một thế giới đầy bất trắc và thù nghịch như thế thiết tưởng là một thành công lớn. Nhưng cũng có thách thức. Thách thức đặt ra cho tất cả người Việt, kể cả giới trí thức, là trong thời gian hòa bình này chúng ta phải làm sao cùng nhau hợp lực giúp cho đất nước giàu hơn, hùng mạnh hơn, và xã hội công bằng hơn.

Tôi vừa nói rằng người Việt chúng ta thành đạt ở nước ngoài là một phần do may mắn thừa hưởng di sản của người bản xứ. Nhìn lại đất nước chúng ta, tôi thấy tổ tiên đã để lại cho chúng ta một vốn liếng vô cùng quí báu, đó là đất nước Việt Nam và văn hóa Việt. Nhưng tổ tiên chúng ta không để lại một nền tảng khoa học để chúng ta thừa kế. Lịch sử nước ta từ các triều đại Đinh, Lý, Lê, Trần và Nguyễn có nhiều anh hùng quân sự, nhà thơ thiên tài, nhà sử học lỗi lạc, nhưng rất ít nhà khoa học, kĩ sư hay nhà kinh tế. Hệ thống giáo dục phong kiến ca ngợi, tuyên dương những người thuộc làu những điều răn dạy của Khổng Tử, và coi thường những ai làm nghề tay chân. Hệ thống giáo dục thực dân có mục tiêu đào tạo ra những thầy thông, thầy phán, hay quan chức để thực thi đường lối chính sách của thực dân. Gần đây thì hệ thống giáo dục đòi hỏi người học sinh phải tuân theo sách vở một cách máy móc, và không khuyến khích sự tự do tìm tòi, thử nghiệm, hay chất vấn. Hệ quả cuối cùng là nhiều thế hệ học sinh không có cơ hội nghiên cứu khoa học, và quan trọng hơn nữa, một phần lớn không nhỏ kiến thức về Việt Nam, dân tộc Việt Nam và tài nguyên Việt Nam lại nằm trong tay các nhà khoa học ngoại quốc, thay vì trong tay các nhà khoa học Việt Nam. Do đó, vấn đề đặt ra cho thế hệ chúng ta ngày nay là làm sao gầy dựng được một nền tảng vững chãi, tạo ra được cơ hội công bằng để lại cho thế hệ mai sau thừa hưởng.

Rất nhiều người Tây phương khi đến nước ta đều ghi nhận một điều rằng chúng ta có một nguồn nội lực rất lớn chưa được khai thác: đó là con người Việt Nam. Tiêu biểu cho nhận xét này, nhà báo Seth Mydans của tờ New York Times từng viết rằng nếu nguồn nội lực này được khai thác, Việt Nam sẽ làm cho các nước Á châu khác hỗ thẹn! Tôi thì không quá chủ quan như thế, nhưng tôi có lí do để tin rằng nếu chúng ta cùng chung lưng, hợp sức với nhau, chúng ta có thể tạo ra một môi trường khoa học để chúng ta phát triển nhanh hơn và để cho thế hệ sau kế tiếp sự nghiệp phát triển nước nhà.

Cái chữ then chốt vẫn là “nếu”: Nếu đa số trí thức từ nước ngoài sẵn sàng dấn thân về nước giúp đỡ; nếu đồng nghiệp trong nước sẵn sàng và có thực tâm tiếp nhận và cùng làm việc với đồng nghiệp Việt từ nước ngoài; nếu Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho giới khoa học nước ngoài góp một tay vào việc phát triển quê hương. Theo tôi thấy thì hiện nay Nhà nước đã sẵn sàng, nhưng đây đó ở cấp hạ tầng, địa phương, vẫn còn nhiều khó khăn, thậm chí cản trở.

Thế hệ người Việt ở nước ngoài còn gắn bó với quê hương xứ sở và sẵn sàng dấn thân cho Việt Nam là thế hệ tôi, nhưng thế hệ con cháu tôi thì tình cảm của chúng cho Việt Nam không giống và chắc cũng không gắn bó như tôi. Có thể chúng nhìn về Việt Nam như là một mảnh đất quê cha đất tổ xa xăm, thời xửa thời xưa, chúng chưa chắc có nhu cầu thực tế để dấn thân cho Việt Nam. Mà oái ăm thay, những người cùng thế hệ tôi còn gắn bó và trăn trở với quê hương đều đã ở độ tuổi “xế chiều”. Với thời gian còn lại quá ngắn không biết mình sẽ làm được gì cho quê hương. Đó là nỗi khổ tâm của những người như tôi.

Sau cùng tôi muốn quay lại nói đôi lời về cái quá khứ vượt biên của tôi mà chắc có người còn thắc mắc. Một triết gia nào đó từng nói con người chỉ là một chủ thể luôn phải gắn mình với một nơi chốn nào đó, luôn phải chứng kiến sự hiện hữu của mình bằng một gắn bó với một địa điểm cụ thể. Bao nhiêu năm lênh đênh ra khỏi quê hương tôi mới phát hiện một sự thực hiển nhiên rằng sự ra đi của tôi không phải để tìm cái quên hay sự chối bỏ quê hương, mà có lẽ là bắt đầu cho một lần trở về tốt hơn. Một lần lênh đênh nguồn cội, tôi mới nghiệm ra rằng tôi là ai, nơi chốn của tôi là chỗ nào. Với tôi, cái địa điểm cụ thể đó là Việt Nam.

GS TS Nguyễn Văn Tuấn

Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan, Sydney, Australia