NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Vẫn thiếu điện, nếu chậm xây dựng mới

Bộ trưởng Bộ Công nghiệp Hoàng Trung Hải giải thích chi tiết vì sao việc chậm tiến độ xây dựng các nhà máy điện vẫn tiếp diễn.

Thưa Bộ trưởng, tình trạng thiếu điện lại được đặt ra và đang có xu hướng ngày càng cấp thiết. Tiến độ thực hiện các dự án mới hình như chưa đáp ứng yêu cầu và gặp nhiều vướng mắc?

Các dự án đầu tư vào ngành điện đang được triển khai rất nhiều, hiện có trên 30 nhà máy lớn, không kể hàng chục nhà máy nhỏ cũng đang tham gia phát điện.

Cái quan trọng là việc tiến độ triển khai các nhà máy điện chậm, đặc biệt đối với dự án thuỷ điện nhỏ. Vướng mắc là do việc thu xếp vốn.

Gần đây thị trường vốn phát triển nên việc thu xếp vốn để đầu tư vào các nhà máy điện đỡ khó khăn hơn, nhưng khi triển khai vẫn vướng về đền bù, giải phóng mặt bằng; khớp các tiến độ thi công lại với nhau như tiến độ thi công nhà máy phải phù hợp với tiến độ đấu thầu mua sắm vật tư thiết bị.

Thực tế một công trình rất cần sự điều hành đồng bộ, trên thực tế các chủ đầu tư vẫn còn bị vướng tính đồng bộ. Qua kinh nghiệm xây dựng một số dự án lớn, kể cả Dung Quất, Khí điện đạm... chúng ta thấy rõ thiếu năng lực quản lý.

Số công trình triển khai đang rất nhiều, nếu thực hiện đúng như dự kiến ban đầu thì chúng ta đã có đủ lượng điện dự phòng. Ví dụ như năm nay, chúng ta rất mong mỏi Uông Bí, Cà Mau, và nếu tính riêng 2 nhà máy này mà chậm tiến độ thì đã thiếu 400 triệu kwh điện.

Việc tiến độ công trình chậm có phải do tính kỷ luật, kỷ cương thấp? Việc mở cửa thị trường điện thời gian tới có được đẩy nhanh hơn lên?

Hiện đang thí điểm. Bộ Công nghiệp đã phê duyệt về thị trường thí điểm. EVN đang thực hiện thị trường thí điểm, chúng ta thực hiện đến năm 2009. Trong giai đoạn này, sẽ chạy thí điểm các nhà máy trong nội bộ EVN để hoàn thiện các quy định.

Thị trường điện có làm được hay không đòi hỏi phải hoàn thiện đồng bộ thể chế, hệ thống pháp luật. Đây là điều lớn nhất. Khi thị trường điện phát triển có điều hết sức quan trọng nữa, ngoài hệ thống pháp luật là cung cầu phải đáp ứng. Bởi nếu thiếu điện (cầu lớn hơn cung) thì làm gì có cạnh tranh.

Đồng thời với việc này, chúng ta phải thực hiện rất tốt quy hoạch phát triển điện lực. Phải đủ điện mới có thị trường, mới có cạnh tranh, ngược lại chỉ có thị trường, có cạnh tranh thì mới có đủ điện.

Thị trường điện của chúng ta cũng có thể ví như con gà và quả trứng. Điều hành giữa con gà và quả trứng không đơn giản.

Vậy chúng ta đang thiếu một tầm nhìn dài hơi cũng như những phương án dự phòng trong việc xây dựng các nhà máy điện?

Thực tế vấn đề này cũng đã có trong quy hoạch. Ví dụ dự phòng công suất các nước chỉ tính 10 - 15%, nếu hệ thống tốt, dự phòng càng thấp thì càng kinh tế.

Vấn đề là nền kinh tế có chịu được không. Trong các quy hoạch, đã nâng tỷ lệ dự phòng lên 30 - 40%, nhưng có nhiều yếu tố khiến yếu tố này chỉ tồn tại trên giấy: thứ nhất, phụ tải có thể tăng cao hơn mức dự kiến.

Câu hỏi đặt ra là tại sao không dự báo cao nữa lên, nếu dự báo cao nữa lên thì nền kinh tế có thích ứng được không. Có nghĩa là phải điều chỉnh các chương trình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội. Khi thẩm định dự án người ta phải xem đến tính khả thi của dự án, nếu nhà hoạch định cứ đẩy lên thật cao thì cân đối nguồn lực ở đâu để đạt mục tiêu đưa ra? Tất cả các vấn đề phải mang tính thực tế.

Mặt khác, cần phải hiểu biến động về thời tiết là điều nằm ngoài ý muốn chủ quan. Tổng dung lượng nước về hồ Hoà Bình bình quân trong nhiều năm vào khoảng 56 - 47 tỷ m3/năm, nhưng trong những năm gần đây tổng lượng nước về hồ Hoà Bình không đạt, thực tế chỉ vào khoảng 47 - 50 tỷ m3/năm.

Những biến động về thời tiết ta không dự báo hết được.

Vấn đề hết sức lớn nữa là vấn đề quản lý, người ta nói mãi về quản lý kém nhưng làm thế nào để giải quyết?

Vấn đề này liên quan đến cải cách, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước. Nhiều người cho rằng do quy hoạch sai nên mới dẫn tới tình trạng thiếu điện. Vậy nếu tất cả các dự án nằm trong quy hoạch đều được đầu tư xây dựng mà điện vẫn không đủ thì có thể nhận định như vậy, nhưng các dự án trong quy hoạch không thực hiện hết được.

Giả sử tốc độ tăng trưởng của ngành điện là 15- 17%/năm mà đưa lên 30%/năm, nhưng nếu công trình xây dựng khởi công chậm tiến độ thì vẫn không thực hiện được. Quy hoạch phát triển kinh tế là 8%/năm thì quy hoạch điện lực phải lấy tốc độ phát triển kinh tế là 8% làm cơ sở để tính toán, chứ không thể dựa vào tốc độ phát triển kinh tế 10%/năm để quy hoạch ngành điện.

Đây là khoa học. Đã là quy hoạch, đã là dự báo phải dựa vào rất nhiều yếu tố bất định trong vòng 15 - 20 năm sau. Đối với quy hoạch xa như vậy thì trở thành dự báo, mà dự báo luôn có xác xuất không chính xác. Chính vì vậy, trong tất cả các quy hoạch từ trước đến nay vẫn phải điều chỉnh thường xuyên.

Có ý kiến cho rằng, nếu dự án điện phụ thuộc nhiều vào biến động thời tiết thì sao không đưa ra mức thiết kế công suất dôi ra. Ý kiến của ông ra sao?

Điều này liên quan đến giá bán điện, nếu thiết kế dôi ra thì giá thành điện sẽ bị đội lên, trong khi việc điều hành giá điện hiện nay vốn đã rất khó vì khả năng chịu đựng của người dân dù rằng thu nhập bình quân của người dân đã được cải thiện, khả năng chịu đựng có khá lên.

Ông đánh giá thế nào về nhận định ngành điện lúc dựa quá nhiều vào thuỷ điện, lúc lại dựa vào khí trong khi nhiệt điện chưa được quan tâm đúng mức?

Không phải chúng ta dựa quá nhiều vào một lĩnh vực nào đó. Trong một thời điểm tạm thời nào đó, tỷ trọng đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn.

Theo Bộ trưởng, khả năng huy động vốn cho ngành điện hiện là bao nhiêu?

Cần khoảng 4 tỉ USD. Chúng ta đã mở cửa cho các nhà đầu tư tư nhân và nước ngoài nên hoàn toàn có khả năng huy động nguồn vốn này.

Tuy nhiên, nó còn liên quan đến hiệu quả hoạt động. Hiện ngành điện chỉ đạt hiệu quả 1-2%. Đó là lý do việc đàm phán mua điện của các nhà đầu tư rất khó khăn. Giá điện hiện nay khiến việc thu hút đầu tư rất khó. Người đầu tư vẫn xô vào nhiều nhưng nhà đầu tư muốn có lãi, đẩy bù giá cho Nhà nước nên đây là điều khó khăn.

Khó khăn lớn nhất khi đàm phán với các nhà đầu tư là gì, có phải là giá?

Đúng, tất cả là giá. Song như tôi đã nói, giá của chúng ta còn cao nên khó thu hút đầu tư.

Vậy chúng ta phải làm thế nào để khắc phục khó khăn này?

Chúng ta phải đảm bảo nguyên tắc thị trường, đó là đàm phán để đạt được thoả thuận, bên mua bên bán phải thoả thuận. Đó là giai đoạn hiện nay, là giai đoạn tạm thời còn khi đã hình thành thị trường thì các nhà đầu tư xây dựng nhà máy điện, nếu giá “ngon” thì được huy động còn không thì đắp chiếu để đấy. Đã có quy định bắt buộc, các nhà đầu tư trước khi xây dựng nhà máy phải có thoả thuận với bên mua.

Việc đẩy mạnh cổ phần hoá các doanh nghiệp ngành điện có tầm quan trọng thế nào đến việc đầu tư nguồn điện?

Đó là lộ trình hình thành và phát triển thị trường điện để tạo cạnh tranh và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, ngành điện không giống các ngành khác nên trong quá trình cổ phần hoá cần phải xem xét, có bước đi phù hợp để đảm bảo việc cung cấp điện không bị ảnh hưởng. Ở đây đang có mâu thuẫn giữa việc sắp xếp, đổi mói doanh nghiệp với việc thực hiện nghĩa vụ công ích của doanh nghiệp ngành điện. Vì doanh nghiệp ngành điện không thể thấy lãi thì làm, thấy lỗ thì thôi.

Theo Bộ trưởng, chúng ta sẽ còn thiếu điện đến bao giờ?

Điều này rất khó khẳng định. Hiện nước ta mới đạt mức bình quân 600kwh/đầu người và để đạt mức 10.000 kwh/đầu người là một con đường rất chông gai. Chúng ta cũng đã dự kiến đến 2020 sẽ đạt mức 3000 kwh/đầu người.

Nguyên Linh - Đức Thọ