NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Xâm nhập thị trường nội địa không thể theo phong trào - TS Nguyễn Quang A

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Quang A quả quyết rằng : “Bối cảnh nước sôi lửa bỏng như thế này mới rõ "chất" của từng doanh nghiệp. Cứ có thị trường là phải nhanh chóng chớp lấy, cả trong và ngoài nước. Chính trong thời điểm khó khăn như thế này mới là lúc dễ nhất để đẩy bật đối thủ cạnh tranh ra khỏi cuộc chơi. Và đây cũng cơ hội để những doanh nghiệp giỏi thực sự bứt phá.

Việc thị trường xuất khẩu bị thu hẹp do kinh tế thế giới khó khăn buộc nhiều doanh nghiệp Việt Nam phải rốt ráo tìm kiếm thị trường mới. Ông có cho rằng đây chính là lúc tốt nhất doanh nghiệp nên nhảy vào khai phá thị trường nội địa mà bấy lâu nay họ đã rất thờ ơ ?

Việc lưu ý đến thị trường trong nước, chiếm lĩnh thị trường nội địa là một quyết định quan trọng. Trong bối cảnh khó khăn như thế này, khơi gợi cho các doanh nghiệp hướng đi này là một ý rất hay. Đã một thời, một số ngành không để ý đến thị trường nội địa, đấy là một điều rất dở. Và bây giờ rất nên nghĩ lại.

Tuy nhiên, việc này không có nghĩa là tất cả mọi người phải làm như nhau. Không có công thức nào chung cho tất cả mọi người. Xâm nhập thị trường nội địa không có nghĩa làm theo kiểu phong trào, tất cả cùng tập trung vào thị trường nội địa để rồi lơ là việc xuất khẩu.

Từ chỗ lâu nay không để ý gì đến thị trường nội địa, giờ đây thấy thị trường bên ngoài khó quá liền tập trung mọi nỗ lực vào trong nước rồi bỏ bê những thị trường khác lại là một quyết định hết sức thiển cận. Làm ăn, buôn bán theo kiểu thấy khó một chút thì tìm cách nhảy sang một thị trường khác là tư duy hết sức sai lầm.

Trong lúc “nước sôi lửa bỏng”, mỗi doanh nghiệp phải tùy theo lợi thế để mà có hướng đi cho đúng. Có những doanh nghiệp trong thời gian này vẫn phải rất tập trung vào việc khai phá thị trường xuất khẩu hơn là thị trường trong nước vì xuất khẩu vẫn là thế mạnh của họ. Theo tôi, với những doanh nghiệp đó, hơn bao giờ hết, chính lúc này họ càng cần phải tập trung nhiều hơn vào khu vực thị trường đó.

Việc xâm nhập, bành trướng một thị trường mới hay một mảng thị trường mới luôn là một công việc cực kỳ khó khăn, tốn thời gian, công sức và rất nhiều tiền của. Với một số doanh nghiệp lâu nay chuyên tâm lo làm hàng xuất khẩu, thị trường trong nước luôn là mảnh đất mới mẻ mà họ chưa có nhiều kinh nghiệm. Không thể chủ quan coi đó là thị trường nội địa, nói quay về chiếm lĩnh là họ sẽ chiếm lĩnh ngay được. Mà họ cần phải tính toán xem sẽ vấp phải những đối thủ cạnh tranh nào và liệu có khả năng đánh bật các đối thủ này đến đâu để mà len vào.

Thị trường không dành cho kẻ chậm chân

Theo ông, những ngành hàng nào có cơ hội khi góp mặt ở thị trường nội địa ?

Ví dụ, với ngành dệt may chẳng hạn, thị trường nội địa đâu có nhỏ. Nhưng thực tế thì sao? Suốt cả quãng thời gian qua, nhiều doanh nghiệp dệt may tỏ ra thờ ơ, không lưu ý gì đến thị trường này, nhưng cũng có một số doanh nghiệp dệt may họ đã lưu ý rồi. Vậy thì tại sao không liên kết với họ, tranh thủ các kênh phân phối của họ ?

Gây dựng một mạng lưới bán hàng không thể nào làm được trong ngày một ngày hai, vậy thì tại sao các doanh nghiệp dệp may không liên kết với nhau, thậm chí chấp nhận làm gia công cho những doanh nghiệp đã có thị phần trong nước để cùng nhau vượt khó? Trong bối cảnh này, cũng cần phải biết chấp nhận “ăn ít” đi để mà cùng tồn tại. Đó là cách tôi cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam có thể làm được .

Các cụ ta có câu “cái khó ló cái khôn”. Theo ông, trong bối cảnh khó khăn chung của kinh tế thế giới, liệu có cơ hội có thực nào cho các doanh nghiệp ?

Chính trong lúc "nước sôi lửa bỏng" này, mới rõ chất của từng doanh nghiệp. Theo tôi, các doanh nghiệp cứ có cơ hội mở mang thị trường là phải nhanh chóng chiếm lĩnh, bành trướng được càng nhiều thị trường thì càng thành công, bất kể là thị trường trong nước hay nước ngoài, thị trường Lào hay Trung Quốc, EU…. đừng nên có phân biệt rạch ròi như vậy.

Đơn cử với việc xuất khẩu, tuy rằng thị trường thế giới đang bị tổn thương và co lại, nhưng người ta vẫn cần phải ăn, vẫn cần phải mặc nên vẫn có những mảng, những ngách thị trường có thể phát triển, thậm chí còn có thể phát triển một cách đột phá. Đây là những cơ hội mà các doanh nghiệp phải thật nhanh, thật nhạy để phải chớp lấy ngay.

Tôi khẳng định những cơ hội như vậy hiện nay là không ít. Trong lúc nước sôi lửa bỏng như thế này sẽ có những nhà cung cấp nhanh nhẹn và có những nhà cung cấp ù lì. Và dĩ nhiên ai chậm chân thì phải chấp nhận bị giành mất thị trường. Cơ hội có thực chính là ở chỗ đó.

Trong lúc này, thậm chí phải chấp nhận tốn tiền, tốn của, mạnh dạn đi ra bên ngoài để xem có cơ hội nào để mà chớp ngay lấy. Đây chính là lúc dễ nhất để đẩy bật đối thủ cạnh tranh ra. Chính lúc này mới là lúc có nhiều thời cơ nhất. Những lúc bình bình là lúc bất kể ai cũng có thể làm được. Đây là lúc để người giỏi thực sự bứt phá.

Cách xúc tiến thương mại

Vừa rồi Chính phủ đã phê duyệt 44 đề án chương trình xúc tiến thương mại quốc gia năm 2009 trị giá 63 tỷ đồng. Ông có những gợi ý gì để việc xúc tiến này thực sự phát huy hiệu quả ?

Bỏ tiền ra làm xúc tiến thương mại trong bối cảnh khó khăn thế này là rất tốt. Vấn đề ở chỗ chúng ta sẽ làm như thế nào, hướng vào cái gì để cho có hiệu quả nhất. Đây là việc cần các nhà hoạch định chính sách quan tâm hơn cả.

Đây là chủ trương tốt, nhưng để chủ trương này phát huy hiệu quả lại phụ thuộc vào cách mà chúng ta làm như thế nào. Việc này, chả có ai khác ngoài các nhà hoạch định chính sách, những người có thông tin nhiều hơn cả phải tính toán, xem xét tình hình cụ thể tại các thị trường để giúp các doanh nghiệp có cách ứng xử phù hợp.

Do thị trường luôn bất động, năm nay thế này, nhưng năm sau lại khác nên không thể có những quyết định cứng nhắc theo kiểu bao nhiêu phần trăm cho trong nước, bao nhiêu phần trăm cho EU, bao nhiêu phần trăm cho Trung Đông…. Mà những số liệu này thì chỉ có những người có đầy đủ thông tin, có nhiều thông tin nhất thì mới có thể đưa ra được.

Theo ông, những người có đủ thông tin nhất là ai, các nhà quản lý hay chính bản thân các doanh nghiệp ?

Đối tượng có đầy đủ thông tin nhất, chắc chắn là chính các doanh nghiệp. Cho nên thay vì việc nhà nước đứng ra làm thì nên lắng nghe các doanh nghiệp.

Ví dụ bằng những thông tin có được, thấy rõ ngành thủy sản sẽ có cơ hội, vậy thì trong số 63 tỷ đó nên mạnh dạn giành cho họ một số tiền nào đó, giao trực tiếp cho Hiệp hội hay một tổ chức nào đó của ngành đứng ra trực tiếp làm xúc tiến.

Với dệt may hay da giày , gỗ cũng vậy. Tôi cho rằng nếu làm theo cách này thì có thể hiệu quả hơn nhiều là để cho một bộ nào đó đứng ra trực tiếp làm.

Việc xúc tiến thương mại là quyết định đúng đắn, nhưng phải làm thế nào thì rất khó nói, những gì tôi vừa nêu chỉ là một gợi ý nhỏ thôi. Cũng có thể đó chưa chắc đã là một gợi ý hay, nhưng cũng có thể lại là một gợi ý tốt.

Quan trọng là người cấp tiền và doanh nghiệp phải ngồi lại với nhau, các địa phương, các hiệp hội, các cục xúc tiến phải ngồi lại với nhau một cách sòng phẳng. Nhưng phải nhanh chứ không thể rề rà. Lúc này cần phảicó những phản ứng quyết đoán nhanh.

Thấy khó khăn mà co rụt lại thì không nên kinh doanh

Xin hỏi ông một chút về việc một số doanh nghiệp lâu nay tỏ ra thờ ơ với thị trường trong nước. Có lẽ, trước đây, họ chỉ chăm lo cho việc xuất khẩu hẳn là có lý do ?

Họ cho rằng, lợi nhuận thu được từ xuất khẩu sẽ lớn hơn, ngoài ra họ cũng được hưởng một số ưu đãi. Việc một số doanh nghiệp bỏ quên thị trường nội địa một phần là do doanh nghiệp, một phần là do chính sách của nhà nước.

Thông thường với doanh nghiệp làm ăn ở đâu nếu bỏ ra 1 đồng mà thu lại được nhiều đồng chính là mục tiêu của họ. Và chính sách của nhà nước chính là tạo ra khung khổ làm sao tạo ra những khuyến khích để doanh nghiệp tùy vào năng lực lựa chọn nên tập trung vào đâu. Lúc này, chính sách phải làm sao để một số doanh nghiệp thấy làm ăn trong nước sẽ có hiệu quả cao, sẽ có lời.

Nhưng có vẻ như chính sách luôn không bao giờ là hoàn hảo ?

Điều đó thì đúng rồi. Việc đưa ra 10 quyết định, hỏng mất một nửa cũng là chuyện hết sức bình thường. Gặp lúc khó khăn để rồi đổ lỗi cho cái này, cái kia không bao giờ là cách làm đúng đắn. Hay nhất là phải biết sai để mà điều chỉnh lại thế nào cho hiệu quả.

Đừng sợ sai. Vì chúng ta biết rằng trong kinh doanh có một quy luật chi phối đó là “Quy luật Pareto” hay “Quy luật nỗ lực tối thiểu”. Quy luật này nói lên rằng với 20% nỗ lực sẽ tạo ra 80% kết quả cuối cùng. Như vậy có thể trong các quyết định, trong tất cả các công việc mà một nửa bị sai thì đó cũng là lẽ bình thường. Có thể có 20 việc làm tạo ra 80% giá trị, còn 80% việc làm tạo ra 20% giá trị thì rõ ràng, chúng ta nên quên 80% việc đó đi để mà tập trung sức lực vào nhóm 20% việc kia.

Với chính sách cũng vậy, nếu phải đưa ra khoảng 100 quyết định, chỉ cần đúng ở 20 quyết định thôi, vì 20 quyết định đó sẽ tạo ra 80% giá trị, còn chấp nhận sai ở 80% quyết định cũng được, vì nó chỉ tạo ra có 20% giá trị.

Còn với doanh nghiệp, nếu ra 10 quyết định mà sai mất 8 thì cũng là bình thường, vì trong 8 quyết định đó tầm ảnh hưởng chỉ có 20%. Cho nên đừng sợ sai. Thấy khó khăn mà co rụt lại thì không nên kinh doanh. Và việc họ bị loại khỏi thị trường là lẽ đương nhiên. Việc đó có thể rất đau xót với chính doanh nghiệp đó nhưng xã hội lại có lợi.

Thu Hà