NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Việt Nam phải cải cách từ thôi thúc bên trong - GS Michael Porter

Trên tư cách người quan sát từ bên ngoài, Gs. Michael Porter chia sẻ góc nhìn về năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam trong so sánh với các nước trên thế giới, từ đó, khuyến nghị điều chỉnh tư duy và lựa chọn chính sách trong tương lai cho Việt Nam, mà quan trọng theo ông, là sự cải cách phải từ thôi thúc bên trong, không chỉ là phản ứng thụ động với những gì diễn ra ở bên ngoài như hiện nay.

Giáo sư Michael Porter hiện là giảng viên trường Đại Học Kinh doanh Harvard, là chuyên gia hàng đầu về năng lực cạnh tranh quốc gia. Hiện ông đang tham gia cùng với Viện cạnh tranh châu Á thực hiện một nghiên cứu tình huống về Việt Nam.

Việt Nam phải là một Hàn Quốc khác, không phải là Philippine

Ghi nhận Việt Nam có thể là mô hình phát triển tốt cho khu vực, nhưng Gs Porter cho rằng, có nhiều điều Việt Nam đáng ra có thể làm tốt hơn, hiệu quả hơn và định vị mình ở vị trí cao hơn trong chuỗi cạnh tranh toàn cầu.

Theo Gs. Porter, Việt Nam đang là câu chuyện thành công, tăng trưởng ấn tượng trong vòng hai thập kỷ qua, đặc biệt nước có lịch sử như Việt Nam có thể thay đổi lớn như vậy trong quá trình chuyển đổi của mình. Tuy nhiên, cải cách ở Việt Nam chưa đủ cho phép Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình.

Việt Nam đạt thành công lớn nhưng khoảng cách xa với các nước trong khu vực. Làm thế nào để đuổi kịp các nước trong khu vực và vươn lên ?

Giáo sư phân tích : 2 làn sóng cải cách lớn tạo sự thay đổi ở Việt Nam. Dù tăng trưởng cao nhưng chỉ số GDP/đầu người của Việt Nam vẫn còn chặng đường dài phải đi. Việt Nam vẫn còn ở phía cuối con đường, nơi dành cho nước thu nhập thấp.

Có thể con số tăng trưởng của Việt Nam vẫn tốt, nhưng cách tiếp cận của Việt Nam để đạt được kết quả tăng trưởng 10 năm qua lại khiến chuyên gia về năng lực cạnh tranh quốc tế quan ngại.

Đơn cử, Việt Nam làm rất tốt trong việc viết luật, nhưng quan trọng là thực hiện luật hiệu quả, thể chế, cơ chế mới cho phép lập kế hoạch và phương hướng thực hiện quy định mới thì Việt Nam chưa có được. Việt Nam tăng trưởng tốt nhưng chính sách lại thay đổi liên tục, không nhất quán.

Hơn nữa, tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu dựa vào sử dụng vốn lớn, vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Liệu Việt Nam đã thu hút được đúng loại FDI cần cho phát triển kinh tế tốt hơn ?

Lượng đầu tư vào ngày càng nhiều nhưng điều Việt Nam cần quan tâm không phải là số vốn thu hút được bao nhiêu mà là năng suất lao động và những kỹ năng nào Việt Nam có thể được hưởng. Liệu loại hình đầu tư nào Việt Nam cần và FDI hiện nay đã đúng trọng điểm phát triển của Việt Nam hay chưa ?

Tương tự, lượng kiều hối đang đóng góp đáng kể cho tăng trưởng của Việt Nam nhưng Việt Nam không nên coi đó là nguồn lực cơ bản và bền vững, vì thực tế, số tiền này phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế của quốc gia khác, nguồn tiền đến từ nước khác, không phải phụ thuộc vào ý chí của Việt Nam.

Cải cách vẫn đang là phản ứng mang tính thụ động với đòi hỏi quốc tế

Quan sát quá trình cải cách, Gs. Porter cho rằng, có thể liệt kê nhiều cải cách, nhưng đó chỉ là những bước đi riêng rẽ không theo kế hoạch, chiến lược tổng hợp. Đó chỉ là phản ứng mang tính thụ động với đòi hỏi của quốc tế, chỉ là phản ứng với những gì xảy ra ở bên ngoài, chưa có thôi thúc từ bên trong. Hoặc nếu có kế hoạch và tuân thủ kế hoạch thì bản thân kế hoạch đó cũng rất thụ động.

Theo ông, đã đến lúc phải đưa con đường cho cạnh tranh Việt Nam thời gian tới, với cách tiếp cận bền vững và thống nhất hơn. Quy trình cải cách của Việt Nam phải sang một cấp độ mới.

"Cải cách hiện nay bản chất là do bên ngoài tạo ra. Bây giờ phải do nhân tố trong nước tạo ra, chủ động hơn để chuẩn bị cho Việt Nam một bước phát triển mới".

Gs. Porter cho rằng, trước hết, Việt Nam cần có nhu cầu hình thành mô hình chiến lược mới, từ đó, cần có sự lãnh đạo thực hiện mô hình đó với một đội ngũ quan tâm đầy đủ cách thách thức. Và khi đã nhận thức được thách thức, Việt Nam cần quan tâm thể chế, cải thiện chính sách, cơ chế thực hiện.

"Việt Nam cần một mô hình kinh tế mới ngăn ngừa khủng hoảng chứ không đợi khủng hoảng đến... Tôi không muốn Việt Nam khủng hoảng để rồi phải quay lại xuất phát điểm ban đầu".

"Việt Nam phải học để trở thành Hàn Quốc khác chứ không phải trở thành Philippine trong so sánh cạnh tranh quốc tế", Gs. Porter nhấn mạnh.

Làm thời trang như người Ý ?

Từng khuyến nghị Việt Nam về "bẫy" lợi thế nhân công giá rẻ, Gs. Porter nhấn mạnh đến lúc Việt Nam cần tạo bước chuyển trong sử dụng lao động, phải lựa chọn giữa làm việc cần cù hay làm việc thông minh sáng tạo ( working hard or working smart ).

Hai cấu thành cơ bản là động lực tăng trưởng kinh tế là sử dụng lao động và năng suất lao động. Việt Nam đã thành công lớn khi tận dụng ở mức tối ưu lực lượng trong độ tuổi lao động.

Trong khi đó, năng suất lao động vẫn là thách thức lớn của Việt Nam so với khu vực. Đây lại là yếu tố quyết định việc cải thiện mức sống của Việt Nam, làm cản trở bước tiến trong thời gian tới.

Cho rằng số lượng lao động vẫn là yếu tố quan trọng trong vài năm tới, nhưng theo Gs. Porter, nó sẽ không còn hỗ trợ nhiều cho kinh tế Việt Nam trong 10 - 12 năm tới. Hiện nay, hiệu quả của yếu tố này lên tăng trưởng đang chậm lại.

Vấn đề của Việt Nam không phải là tập trung vào ngành nào để cạnh tranh, mà là trong mỗi ngành phải cạnh tranh như thế nào bằng cách nâng cao năng suất, chất lượng.

Đơn cử như ngành giày da, may mặc, Việt Nam xuất khẩu nhiều nhưng năng lực cạnh tranh của ngành này không nằm ở việc sản xuất được bao nhiều giày, quần áo, mà là sản xuất giầy dép, quần áo như thế nào.

"Nếu làm được như người Ý, Việt Nam sẽ có được sự thịnh vượng cho dân, còn nếu cũng chỉ giống như các nước đang phát triển khác, Việt Nam sẽ mãi là nước thu nhập thấp", Gs. Porter nhấn mạnh.

Bản thân ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Vinatex chia sẻ, các Doanh Nghiệp trong ngành cảm nhận hằng ngày áp lực phải chuyển từ lợi thế sử dụng tài nguyên thiên nhiên, lao động giá rẻ sang sản xuất với năng suất cao hơn, sản phẩm có giá trị gia tăng lớn hơn. Lợi thế của Việt Nam đang giảm dần. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam khai thác lợi thế này giờ đang chịu áp lực của đòi tăng lương, cải thiện đời sống cho người lao động. Ngành dệt may không còn cạnh tranh, hấp dẫn về giá so với một số nước khác.

Tuy nhiên, con đường nào để tiếp cận được với ngành công nghệ thời trang, may mặc của Ý vẫn là câu hỏi bỏ ngỏ cho Việt Nam.

Gs. Porter tư vấn, Việt Nam cần chuyển từ lợi thế chi phí đầu vào thấp sang lợi thế năng suất cao, năng suất gắn với chất lượng, hiệu suất và hiệu quả sử dụng chi phí đầu vào; cải tiến các thiết kế mẫu mã sản phẩm, tăng năng lực thiết kế tinh tế hơn, có thể bằng sao chép thiết kế hoặc thiết kế của chính Việt Nam. Đồng thời phát triển hệ thống cung ứng, giao hàng đúng thời điểm thị trường.

Giải pháp cho ngành dệt may, giầy da không phải câu chuyện của riêng Doanh Nghiệp, mà là vấn đề Chính phủ cần quan tâm, xử lý.

"Cách suy nghĩ tốt nhất chính là làm theo cụm nhóm. Ví dụ da giầy, dệt may làm với nhau, liên kết cụm với nhau, xác định mặt yếu, mạnh để bổ trợ cho nhau. Tin rằng chương trình đào tạo nhân lực theo cụm nhóm rất quan trọng và hiệu quả"...

Việt Nam cần phải tổ chức lại để có cách tiếp cận mới, tập trung vào cấp độ tiên tiến hơn, lợi nhuận cao hơn - Gs. Porter nói.

Ví dụ, với ngành du lịch, vấn đề không phải ở việc Việt Nam thu hút thêm được bao nhiêu khách, mà là mỗi ngày, du khách sẽ tiêu bao nhiêu tiền ở Việt Nam. Người ta chỉ tiêu dùng nhiều khi Việt Nam có sẵn nhiều hoạt động chất lượng cao, dịch vụ tốt, nhiều sản phẩm hay để họ mua.

Do đó, Việt Nam cần cải thiện không phải số lượng khách mà tiếp thu phản hồi, tạo ngành dịch vụ để khuyến khích họ tiêu tiền nhiều hơn, với những dịch vụ chất lượng cao, tránh tác hại môi trường.

Nhìn vào ngành công nghiệp trồng hoa Kenya để học tập

Hình thành các cụm nhóm liên kết là khuyến nghị được Gs. Porter đặc biệt nhấn mạnh để tăng hiệu quả và tính cạnh tranh của nền kinh tế.

Giữa các Doanh Nghiệp trong một lĩnh vực, nhóm lĩnh vực cần có sự liên lạc, kết nối. Nền kinh tế nào cũng phải phân chia thành các cụm nhóm.

Đơn cử, nếu bạn có một khách sạn tốt, bạn cũng không thể thành công nếu không có các ngành khác phát triển hỗ trợ như sân bay, taxi, quầy đổi tiền... Khách sạn dù tốt đến đâu cũng sẽ thất bại nếu không có những nhóm ngành nhất định hỗ trợ.

Chưa cần học các nước phát triển, Việt Nam có thể học ngay kinh nghiệm của các nước đang phát triển khác. Gs. Porter đưa mô hình ngành công nghiệp trồng hoa Kenya là một ví dụ để Việt Nam nhìn vào, học hỏi về quá trình hình thành cụm nhóm.

Để có một ngành Công Nghệ trồng hoa phát triển ở Kenya, không chỉ cần người nông dân trồng hoa, mà cả hệ thống kho bãi, xử lý, hệ thống hỗ trợ, người cung ứng, thiết bị tưới tiêu, nhãn mác thu hoạch, hệ thống vận chuyển, đông lạnh... Hệ thống giáo dục và giới nghiên cứu ở đây cũng phải cùng tham gia.

Trong khi đó, nhìn vào Việt Nam, các Doanh Nghiệp vẫn tự cô lập mình, tự nhập nguyên liệu, tự làm hàng rồi tự đi bán, không tăng tính tinh tế của hàng hóa, không có dịch vụ hỗ trợ, doanh nghiệp hỗ trợ.

Các cụm nhóm trong nền kinh tế cần giao thoa, liên kết với nhau. Ví dụ may mặc giầy da sẽ liên quan tới nhau, có thể chuyển đổi sản phẩm. Dầu khí, hoá chất cũng vậy.

Dù mới chỉ dừng ở mức tự phát, nhưng việc xuất hiện cụm nhóm liên kết giầy da, dệt may đã tạo khởi sắc trong hai ngành này. So với năm 2000, đến 2006, hình ảnh hai ngành này đã khác, nhiều, thành cụm, liên kết mạnh hơn.

Đây không phải là yếu tố ngẫu nhiên mà là bước chuyển tự nhiên sử dụng kỹ năng của nhau. Nhãn quan thúc đẩy tiến trình làm sao để xây dựng cụm nhóm, đa dạng hóa.

Trong quá trình đó, Chính phủ phải là người giúp tháo bỏ những rào cản. Nhà quản lý phải mời các bên liên quan ngồi lại với nhau, dù trước đó chưa từng gặp nhau. Có thể nửa tiếng đầu tiên, không ai nói gì cả, vì họ chưa bao giờ nghĩ về lợi ích chung. Dần dà, họ hiểu cần phối hợp giải quyết. Cần có sự phối hợp liên ngành, giữa nhà quản lý, điều hành, ngân hàng, nhà sản xuất, nhà phân phối...

Đáng tiếc, theo Gs. Porter, Việt Nam vẫn "chưa có tư duy cụm nhóm. Bản thân Chính phủ cũng chưa nghĩ tới để tạo tư duy phát triển cụm nhóm".

Phương Loan

Việt Nam nên bớt phụ thuộc vào nhân công giá rẻ

"Điều quan trọng nhất là Việt Nam cần giảm bớt phụ thuộc vào lợi thế nhân công giá rẻ. Việt Nam có thể đặt ưu tiên vào việc giảm bớt tham nhũng, tệ quan liêu cũng như những khâu sản xuất đình trệ trong cơ sở hạ tầng." - GS Michael Porter bàn về chiến lược phát triển Việt Nam.

Năm 2005, Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải sang thăm Mỹ và có cuộc trò chuyện với GS Michael Porter - người được mệnh danh là "cha đẻ của chiến lược cạnh tranh" tại Đại học Harvard. VNnet đã có một cuộc phỏng vấn riêng với ông về chiến lược phát triển cho Việt Nam.

Ngày 1-12-2008, GS Michael Porter sang thăm Việt Nam lần đầu tiên. Những gì ông phát biểu và trao đổi với VNnet về Việt Nam từ năm 2005 đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị. Tuần VN xin trân trọng giới thiệu lại toàn văn cuộc trao đổi này.

Ông đã có một buổi trình bày với Thủ tướng về nâng cao năng lực cạnh tranh. Ông đã đề cập đến khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam với Thủ tướng như thế nào ?

GS. Michael E.Porter: Việt Nam đã đạt được những thành tích kinh tế ngoạn mục trong vài năm qua, với tỷ lệ giảm nghèo, xuất khẩu và thu hút FDI đạt tới tầm cao mới. Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế này chủ yếu do khai thác nguồn nhân công giá rẻ của đất nước, chứ không phải bằng những cải thiện sâu xa trong năng lực cạnh tranh của Việt Nam.

Vì vậy, Việt Nam vẫn tiếp tục xếp trong danh sách những quốc gia có thu nhập bình quân đầu người rất thấp. Điều này là bởi vì năng suất thấp và môi trường kinh doanh ở Việt Nam hầu như không được cải thiện nhiều. Việt Nam cần phải tiến hành các bước đi nhằm nâng cao năng suất và giảm bớt phụ thuộc vào lợi thế nhân công rẻ. Nhân công rẻ sẽ chỉ giữ đất nước ở mức nghèo.

Theo ông, việc Việt Nam chưa là thành viên của WTO có thể ảnh hưởng như thế nào đến năng lực cạnh tranh của Việt Nam ?

GS. Michael E.Porter: Trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới là một bước đi quan trọng đối với Việt Nam. Vì thế, chính phủ nên kết thúc thành công các cuộc đàm phán càng sớm càng tốt. Quy chế thành viên của WTO sẽ giúp tạo ra nhiều thay đổi chính sách quan trọng và cần thiết.

Tuy vậy, điều quan trọng là chúng ta cần hiểu rằng tác động chính của việc gia nhập WTO là tạo ra những cơ hội mới, chứ không phải sẽ giúp tăng cường khả năng cạnh tranh của Việt Nam một cách trực tiếp. Việt Nam sẽ cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh cơ bản của mình để tận dụng triệt để những cơ hội mà việc gia nhập WTO đem lại.

Tăng sức cạnh tranh trước "cơn lũ" toàn cầu hoá

Một số người quan ngại rằng các công ty của Việt Nam có thể thua thiệt khi phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ phía các tập đoàn lớn của nước ngoài khi Việt Nam là thành viên WTO. Ông nghĩ sao về nhận xét này? Theo ông, Việt Nam cần áp dụng những chính sách nào để hạn chế tối đa những thua thiệt có thể xảy ra ?

GS. Michael E.Porter : Thực tế là Việt Nam vẫn chưa phát triển được khu vực kinh tế tư nhân mạnh. Khi Việt Nam gia nhập WTO, nhu cầu tăng cường sức mạnh cho khu vực tư nhân sẽ trở nên vô cùng cấp bách.

Vì thế, Việt Nam cần phải cải thiện các điều kiện để phát triển một khu vực tư nhân trong nước mạnh và độc lập. Tiến trình tư nhân hoá cần được đẩy mạnh và các bước đi cần được thực hiện để phát triển khu vực tài chính nhằm khơi thông nguồn vốn cho các công ty tư nhân.

Việt Nam đã tiến hành một số bước đi tích cực nhằm tạo điều kiện cho các công ty nhỏ đăng ký và hoạt động. Tuy nhiên, những doanh nghiệp nhỏ này không thể lớn mạnh thành những doanh nghiệp vừa hay thậm chí là các công ty lớn một khi mà hai rào cản chủ yếu vẫn chưa được gỡ bỏ.

Một là, tiến trình cổ phần hoá hiện nay đối với các công ty nhà nước vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Chính phủ và vẫn chưa thực sự chịu áp lực thị trường. Điều này làm tổn hại đến khu vực tư nhân và kìm giữ lao động ở những công ty không có khả năng cạnh tranh.

Hơn nữa, quyền sở hữu của nhà nước đối với đất đai cũng như quyền kiểm soát nhà nước đối với khu vực ngân hàng rõ ràng đã khước từ quyền tiếp cận vốn của các công ty nhỏ chỉ bởi vì họ không thể thế chấp.

Cho đến khi nào hai trở ngại mà tôi đã đề cập ở trên chưa được giải quyết thì Việt Nam vẫn sẽ phải đối mặt với nền kinh tế ba nhánh: các công ty tư nhân nhỏ, doanh nghiệp Nhà nước lớn và chi nhánh của các công ty nước ngoài. Cơ cấu này sẽ kiềm giữ năng lực cạnh tranh.

Việt Nam hiện đang đứng trước sự lựa chọn những ngành mũi nhọn để tập trung phát triển. Lời khuyên của ông ?

GS. Michael E.Porter: Tôi nghĩ rằng Việt Nam nên xây dựng trên nền tảng tất cả những ngành đang có và mới xuất hiện, thay vì lựa chọn một vài ngành trong số đó. Nên chú ý những ngành mới nổi lên như du lịch, dệt may, giày dép, thuỷ sản, dầu khí. Những ngành mới nổi này sẽ là những động cơ kinh tế quan trọng cũng như những động lực mạnh mẽ khi nền kinh tế tiến sang một giai đoạn mới.

Thực tế thì sự phát triển của những ngành trên hiện nay còn mới sơ khai và tập trung bó hẹp trong một số phân ngành nhỏ. Trong khi đó, Việt Nam đang có tiềm năng để mở rộng hoạt động trong những ngành dịch vụ hỗ trợ cũng như tăng cường các ngành công nghiệp phụ trợ, trong đó có linh kiện và dịch vụ.

Việt Nam cũng cần tập trung nâng cấp công nghiệp nội địa. Trong khi các ngành kinh tế xuất khẩu là quan trọng thì hầu hết việc làm của người Việt Nam thuộc nền kinh tế trong nước. Sử dụng những ngành này như một công cụ để nâng cao năng suất sẽ có ý nghĩa mấu chốt đối với sự tăng trưởng bền vững và cân bằng.

Trong bối cảnh toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, theo ông Việt Nam có thể lựa chọn 1 chiến lược như thế nào để tăng sức cạnh tranh ?

GS. Michael E.Porter: Như tôi đã nói, điều quan trọng nhất là Việt Nam cần giảm bớt phụ thuộc vào lợi thế nhân công giá rẻ. Những điểm yếu trong môi trường kinh doanh của Việt Nam cũng cần được giải quyết nhanh chóng. Theo tôi, Việt Nam có thể đặt ưu tiên vào việc giảm bớt tham nhũng, tệ quan liêu cũng như những khâu sản xuất đình trệ trong cơ sở hạ tầng.

Cuối cùng, Việt Nam phải xây dựng một chiến lược phát triển cho mỗi vùng trên đất nước, như miền Bắc và miền Nam. Khoảng cách thu nhập quá lớn hiện nay giữa hai miền Nam Bắc đòi hỏi phải có chiến lược phát triển kinh tế khác nhau cho từng miền.

Nguyễn Anh Tuấn

Thịnh vượng là một sự lựa chọn

Tại sao một số quốc gia gặp nhiều bất lợi về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên lại có thể phát triển thịnh vượng, trong khi một số quốc gia khác có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi lại tụt hậu? Vì sao một số nước thành công trong khi số khác lại thất bại trong cạnh tranh quốc tế ?

Với cách tiếp cận “từ dưới đi lên”, Michael Porter, người được xem là cha đẻ của chiến lược cạnh tranh, cho rằng trong khi hầu hết tư duy và chính sách đều tập trung vào các điều kiện kinh tế vĩ mô cho tăng trưởng và thịnh vượng thì cần đặt trọng tâm vào những nền tảng kinh tế vi mô. Trong khi chính phủ đóng vai trò trung tâm trong hầu hết các lý thuyết thì ông lại nhấn mạnh đến vai trò của công ty, tức tế bào của nền kinh tế.

Lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh

Đưa ra lý thuyết về lợi thế cạnh tranh như nguồn gốc của sự giàu có, ông ngầm bác bỏ vai trò của lợi thế so sánh ( vốn dựa vào tài nguyên thiên nhiên, lực lượng lao động hay vốn tài chính ) vốn đã phổ biến trong tư duy về cạnh tranh quốc tế. Ông cho rằng những yếu tố đầu vào này ngày càng trở nên ít có giá trị trong nền kinh tế ngày càng toàn cầu hóa, nơi mà tất cả đều có thể chuyển dịch. Thay vào đó, sự thịnh vượng phụ thuộc vào việc tạo dựng một môi trường kinh doanh cho phép quốc gia sử dụng hiệu quả và nâng cấp nguồn lực đầu vào của nó.

Theo Michael Porter, mỗi quốc gia luôn có cơ hội để vươn lên thịnh vượng dù kém về tài nguyên, nguồn lực lao động hay vốn liếng. Miễn sao doanh nghiệp của quốc gia đó phải có được sức cạnh tranh. Sự giàu có không hề là một đảm bảo vĩnh viễn, như ông viết: “Nếu không duy trì được lợi thế cạnh tranh, tăng được năng suất thì duy trì mức tiền lương và thu nhập quốc gia còn khó, huống chi là tăng trưởng”.

Năng suất chính là câu trả lời của Michael Porter khi ông giải thích sự thành bại của các quốc gia. Ông viết: “Khái niệm có ý nghĩa duy nhất về sức cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất quốc gia... Để duy trì được sự tăng trưởng về năng suất đòi hỏi một nền kinh tế phải tự nâng cấp mình liên tục. Các doanh nghiệp trong một quốc gia phải không ngừng cải thiện năng suất bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm, bổ sung các tính năng mới, cải tiến công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất”. Một quốc gia dựa vào nguồn lực tài nguyên hay nhân công, trong khi doanh nghiệp thiếu sức cạnh tranh và năng suất thấp thì không thể nào có cơ hội đi đến sự thịnh vượng (bền vững).

Do vậy, theo Michael Porter, thịnh vượng là một sự lựa chọn quốc gia. Giàu có là một sự lựa chọn! Do sức cạnh tranh không còn bị giới hạn trong những quốc gia được hưởng những điều kiện thuận lợi nên các quốc gia có thể chọn lựa sự thịnh vượng nếu họ xây dựng chính sách, luật pháp và thể chế dựa trên năng suất. Họ có thể chọn sự thịnh vượng bằng cách nâng cao năng lực của người dân ( thông qua giáo dục ), đầu tư vào những cơ sở hạ tầng để nâng cao hiệu quả thương mại.

Các quốc gia cũng có thể chọn sự nghèo đói nếu họ để các chính sách làm xói mòn hiệu suất kinh doanh, nếu họ để cho chỉ có một số ít người được đào tạo kỹ năng. Các quốc gia cũng có thể chọn việc hạn chế sự giàu có của mình nếu thành công trong kinh doanh có được là nhờ mối quan hệ quen biết hay sự nhượng bộ của chính phủ. Michael Porter nhận xét: “Chiến tranh hoặc chính phủ yếu kém có thể làm “trật bánh” sự phát triển, nhưng thường thì nhân dân có thể kiểm soát những điều này”.

Cũng theo Michael Porter, hoạt động quan trọng nhất của chính phủ là tạo ra một môi trường hỗ trợ việc nâng cao năng suất. Chính phủ phải cố gắng cải thiện môi trường kinh doanh theo nhiều cách, tránh xa việc hạn chế cạnh tranh ( hay để tình trạng độc quyền ) hoặc nới lỏng các tiêu chuẩn an toàn và môi trường. Bởi lẽ sự “giúp đỡ” kiểu đó thực tế sẽ làm giảm sức cạnh tranh ( do ngăn cản sáng tạo và làm chậm quá trình nâng cao năng suất ).

Bài học Hàn Quốc

Trong số các nước khảo sát ( Đan Mạch, Đức, Ý, Nhật, Hàn Quốc, Singapore, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ ), Michael Porter cho rằng Hàn Quốc ( nước mà cách đây chưa lâu trong lịch sử còn xấp xỉ Việt Nam về nhiều mặt ) có triển vọng lớn nhất để đạt đến địa vị tiên tiến thật sự trong vòng một thập niên nữa.

Hàn Quốc là một quốc gia không có tài nguyên đáng kể về hầu hết khoáng sản, năng lượng hoặc gỗ. Do địa thế núi đồi, Hàn Quốc thiếu cả đất trồng trọt. Gần như tất cả các ngành có sức cạnh tranh của Hàn Quốc đều phụ thuộc nặng nề vào nguồn nguyên liệu thô từ nước ngoài. Nhưng ngược lại với nguồn tài nguyên nghèo nàn là một nguồn nhân lực rất dồi dào: lực lượng lao động hơn 17 triệu người, giá nhân công tương đối thấp, người lao động hết sức kỷ luật và chăm chỉ, có trình độ giáo dục trung bình cao. Một tàu chở dầu phải 30 tháng mới hoàn thành thì các phân xưởng Hàn Quốc đóng xong trong 18 tháng.

Chỉ trong vòng hai thập niên, nước này đã nhanh chóng nâng cấp lợi thế cạnh tranh của mình và đang tiếp tục có tốc độ tăng trưởng cao về năng suất cũng như thu nhập bình quân đầu người.

Nghiên cứu sự thành công trong cạnh tranh của Hàn Quốc, Michael Porter cho rằng điều quan trọng nhất là sự cam kết của người dân Hàn Quốc đối với giáo dục. Ông viết: “Đây là cam kết mạnh mẽ nhất mà tôi từng thấy trong tất cả các quốc gia mà chúng tôi đã nghiên cứu. Đó là ưu tiên hàng đầu của tất cả các phụ huynh Hàn Quốc”.

Với 300.000 - 400.000 sinh viên vào đại học mỗi năm, hệ thống đại học của Hàn Quốc đầu tư mạnh mẽ vào ngành kỹ thuật ( 100 đại học kỹ thuật và hơn 100 đại học cao đẳng chính quy ). Điều này khiến Hàn Quốc khác xa hầu hết các nước đang phát triển khác. Đó là chưa kể số lượng lớn sinh viên được đào tạo ở nước ngoài ( Hàn Quốc dẫn đầu 10 quốc gia khảo sát về số lượng sinh viên và người học sau đại học tại Mỹ ).

Chính phủ và các công ty Hàn Quốc đã tài trợ hào phóng cho việc học tập. Chi tiêu cho giáo dục chiếm đến 20,8% tổng ngân sách của Chính phủ Hàn Quốc năm 1987. Luật pháp nước này còn quy định các công ty lớn đến một mức độ nhất định phải cung cấp hoạt động đào tạo cho nhân viên. Việc đầu tư 25-30 triệu USD cho hoạt động đào tạo là rất phổ biến đối với các công ty lớn của Hàn Quốc. Sự cố gắng theo đuổi học tập mở rộng đến cả các lãnh đạo cấp cao. Nhiều giám đốc cấp cao của Hàn Quốc có học vị tiến sĩ trong các lĩnh vực kỹ thuật. Những người có bằng tiến sĩ từ một trường đại học hàng đầu của Mỹ luôn có một địa vị quan trọng.

Bên cạnh đó, các công ty lớn Hàn Quốc đầu tư rất nhiều để nâng cấp khả năng kỹ thuật. Chỉ tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R&D) ở mức cao so với doanh thu là hiện tượng phổ biến.

4 thuộc tính

Tại sao một quốc gia gặt hái được thành công quốc tế trong một ngành công nghiệp nhất định ( Đức nổi tiếng bởi máy in, xe hơi sang trọng và hóa chất; Thụy Sĩ nổi tiếng với sôcôla, dược phẩm; Thụy Điển nổi tiếng với xe tải hạng nặng và công cụ khai thác mỏ; Mỹ nổi tiếng với máy tính cá nhân, phần mềm, thẻ tín dụng và phim ảnh; Nhật nổi tiếng với đồ điện gia dụng, máy ảnh, robot; Ý nổi tiếng với gạch men, giày trượt tuyết, máy bao bì và thiết bị tự động ) ? Câu trả lời nằm trong bốn thuộc tính lớn của một quốc gia. Chúng định hình môi trường cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy hay kìm hãm lợi thế cạnh tranh. Đó là :

- Các điều kiện về yếu tố sản xuất ( lao động được đào tạo, cơ sở hạ tầng...).

- Các điều kiện cầu ( đặc tính của cầu trong nước ).

- Các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan.

- Chiến lược công ty, cấu trúc và cạnh tranh nội địa.

Cách tương tác của các thuộc tính này quyết định sức cạnh tranh của quốc gia.

Anh Việt

Gs Porter đề xuất thành lập Viện Năng lực Cạnh tranh Việt Nam

Để tránh hiện tượng “tất cả cùng chạy” hay “tất cả cùng chờ”, đó chính là chức năng của Viện Năng lực Cạnh tranh, một chức năng mà GS. Porter gọi là kết hợp cạnh tranh với hợp tác.

Từ trân trọng chuyển thành bất ngờ

Sự trân trọng của 700 người tham dự hội thảo với GS. Michael Porter ngày 1/12 đã không chỉ biểu hiện ở cách tất cả cùng đứng lên vỗ tay khi ông bước vào hội trường. Sự trân trọng này biểu hiện ở việc hội trường dành cho hơn 700 người đã không còn một ghế trống, một vài người đến muộn đã phải đứng chờ để được xếp thêm ghế. Đến cuối giờ chiều, vẫn không có một ghế trống trong hội trường, một điều hiếm thấy đối với các hội thảo ở Việt Nam.

Sự trân trọng của GS. Porter dành cho Việt Nam lại chuyển thành điều bất ngờ. Đó không chỉ là suốt hơn 5 giờ, vị giáo sư 62 tuổi liên tục đi đi lại lại trên bục và sang sảng diễn thuyết. Đó là bất ngờ của cả hội trường trước sự hiểu biết về Việt Nam của một người lần đầu đến Việt Nam. Hơn thế nữa, sự trân trọng của ông dành cho Việt Nam chính là thái độ rất thẳng thắn trước những yếu kém của Việt Nam.

Có lẽ cũng vì những nội dung quá thẳng thắn mà hơn một lần ông phải “rào đón” trước: ông chỉ là nhà kinh tế, không bàn chuyện chính trị.

Nhưng các con số ông đưa ra trên màn hình thì rất thuyết phục mà không cần rào đón: theo bảng xếp hạng tham nhũng của quốc tế, Việt Nam ở vị trí thấp cao so với thế giới và có xu hướng ngày càng xấu đi.

Về nhóm các chỉ số quản trị quốc gia, Việt Nam được đánh giá trên trung bình về chỉ số ổn định chính trị, nhưng toàn bộ 5 chỉ số còn lại đều dưới trung bình: minh bạch, hiệu quả của Chính phủ, chất lượng của các quy định, pháp quyền, và kiểm soát tham nhũng. Trong đó, hai yếu tố được coi là đặc biệt thấp: minh bạch và kiểm soát tham nhũng.

Năng lực cạnh tranh của Việt Nam ở vị trí dưới trung bình so với thế giới và cũng trong xu hướng giảm.

Một đề xuất độc đáo : Viện Năng lực Cạnh tranh Việt Nam

Tháng 11/2007, tại Singapore đã khai trương Viện Năng lực Cạnh tranh Châu Á với chính GS. Porter là Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Quốc tế. Cũng chính GS. Porter mang đến Việt Nam một đề xuất khá độc đáo: Thành lập Viện Năng lực Cạnh tranh Việt Nam.

Trong mấy năm qua, Việt Nam bị xếp hạng năng lực cạnh tranh thấp và liên tục tụt hạng. Nhưng cũng trong mấy năm qua, Việt Nam được coi là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng GDP nhanh. Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam liên tục tăng cao. Vậy chúng ta có cần phải quan tâm trăn trở với khái niệm năng lực cạnh tranh? Có cần phải làm gì không? Và nếu cần thì làm như thế nào ?

Dường như chúng ta hàng năm vẫn nhìn thấy năng lực cạnh tranh của nền kinh tế bị tụt hạng, với những phân tích nguyên nhân này hay nguyên nhân kia. Nhưng dường như ai cũng thấy đó là điều đã biết. Và lại bị lãng quên sau vài ngày khi mỗi người bị cuốn vào những công việc khác. Và để sang năm điều đó lại lặp lại.

Trong Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, nhiều năm qua đã có một trung tâm nghiên cứu năng lực cạnh tranh. Nhưng mỗi năm, đối tác hợp tác với Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) để thực hiện báo cáo về năng lực cạnh tranh thì lại không phải trung tâm này, mà là Viện Quản lý Kinh tế Trung ương và Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.

Một trong các chức năng của Viện Năng lực Cạnh tranh do GS. Porter đề xuất chính là hàng ngày hàng giờ chăm lo cho năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Hơn thế nữa, GS. Porter đề xuất Viện cũng nghiên cứu phát triển năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Đây có thể là điểm độc đáo của một Viện nghiên cứu ở Việt Nam, khi mà khái niệm PCI còn khá hiếm hoi trên thế giới.

Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh có trở thành nỗi ám ảnh ?

Khái niệm PCI xuất hiện lần đầu năm 2005 tại Việt Nam, tiếp tục được công bố vào các năm 2006, 2007, 2008, và đã gây khá nhiều xôn xao trong dư luận ngay từ lần công bố đầu tiên.

Các tỉnh có PCI cao chưa hẳn đã là các tỉnh giàu hay thu hút nhiều đầu tư, và ngược lại. Ví dụ, Lào Cai hay Bến Tre là những tỉnh xếp hạng cao. Hoặc chỉ từ năm 2005 sang năm 2006, Hà Nội tụt hạng từ 14 xuống 40 và Hải Phòng từ 19 xuống 42…

Nhìn kỹ vào các tiêu chí đánh giá, sẽ thấy PCI mấy năm qua chủ yếu đánh giá tác động của bộ máy quản lý nhà nước cấp tỉnh đến môi trường kinh doanh, trong khi đây chỉ là một trong các yêu tố cấu thành năng lực cạnh tranh. Đến giữa tháng 12 này, chỉ số PCI 2008 lại được công bố. Một tiết lộ: chỉ số lần này sẽ có thêm yếu tố cơ sở hạ tầng.

Trong đánh giá năng lực cạnh tranh của quốc gia, hai nhóm yếu tố của Việt Nam bị đánh giá thấp là “cơ sở hạ tầng” và “đào tạo và giáo dục đại học”. Tuy nhiên, chính hai nhóm này khi áp vào cấp tỉnh sẽ có nguy cơ làm cho PCI tiến gần nhất đến với điều mà Giáo sư Paul Krugman gọi là “nỗi ám ảnh nguy hiểm về năng lực cạnh tranh.”

Nếu tất cả các tỉnh cùng làm

Với một quốc gia, hệ thống giáo dục đại học và dạy nghề tốt chắc chắn là lợi thế về năng lực cạnh tranh. Nhưng với cấp tỉnh, điều này lại không chắc chắn. Hoàn toàn không thể ngăn cản học sinh của các tỉnh như Đồng Tháp hay Kiên Giang vào học ở Đại học An Giang, hoặc thu hút những người giỏi sau khi tốt nghiệp Đại học An Giang.

Thậm chí những nỗ lực của địa phương để “sinh non” các trường đại học khi chưa đủ điều kiện, tưởng như để cải thiện năng lực cạnh tranh, lại có thể phản tác dụng. Số lượng bằng cấp được “sản xuất” ở địa phương tăng lên, nhưng thực ra chất lượng giáo dục giảm xuống.

Tương tự là cơ sở hạ tầng. Liệu khi đưa yếu tố hạ tầng vào PCI, có phát sinh một cuộc chạy đua quyết liệt, để mỗi tỉnh phải có một cảng nước sâu và một sân bay quốc tế ?

Tỉnh Bình Dương không có sân bay quốc tế hay cảng nước sâu, nhưng người Bình Dương vẫn coi sân bay Tân Sơn Nhất và cảng Cát Lái ở TP. HCM là “của mình”. Không quy định nào có thể ngăn cản Bình Dương sử dụng những hạ tầng này. Cũng không có quy định nào buộc người Bình Dương phải trả lệ phí sân bay cao hơn người ở Bình Chánh (TP. HCM), trừ khi xuất hiện lại hiện tượng ngăn sông cấm chợ hay bảo hộ cấp tỉnh.

Còn các tỉnh đang cố gắng chạy đua xây cảng nước sâu, sớm hay muộn cũng nhận ra một điều: năng lực cạnh tranh tốt khi doanh nghiệp được sử dụng cảng nước sâu với chi phí thấp nhất, bất kể cảng đó thuộc chủ quyền của tỉnh nào. Càng nhiều cảng phân tán, lượng hàng càng bị chia sẻ manh mún, hiệu quả khai thác cảng càng giảm, và chi phí tất yếu tăng lên.

Nếu tất cả các tỉnh cùng chờ

Một câu hỏi khác : liệu có thể xảy ra tình trạng các tỉnh không làm đại học, không làm hạ tầng, chỉ ngồi chờ để ăn theo tỉnh láng giềng ?

Ít nhất thì điều này đến nay vẫn không xảy ra, cả trên lý thuyết cũng như trên thực tế. Với những dự án nhỏ, các doanh nghiệp tư nhân năng động sẽ biết khi nào thực sự có nhu cầu để họ đầu tư. Với những dự án lớn, bất kể có nhu cầu cao hay thấp thì vẫn có nhiều doanh nghiệp lớn hăng hái đầu tư, vì lý do này hay lý do khác.

Để tránh hiện tượng “tất cả cùng chạy” hay “tất cả cùng chờ”, đó chính là chức năng của Viện Năng lực Cạnh tranh, một chức năng mà GS. Porter gọi là kết hợp cạnh tranh với hợp tác.

Có lẽ đây cũng là một chức năng khó, vì cạnh tranh thì dễ thấy, nhưng một cơ chế để hợp tác thì hoàn toàn không dễ.

Bùi Văn