NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Thu hút Đầu Tư Nước Ngoài trên đà thuận lợi

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài năm 2008

Kỷ lục mới về thu hút đầu tư nước ngoài : Gần 45 tỷ USD đăng ký trong 7 tháng của năm 2008.

TP HCM đứng thứ nhì cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài

Cục Đầu tư nước ngoài ( Bộ Kế hoạch và Đầu tư ) vừa cho biết, trong tháng 7-2008, cả nước có 167 dự án được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký là 13.551 triệu USD. Như vậy, tổng số dự án cấp mới trong 7 tháng đầu năm 2008 lên đến 654 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký là 44,49 tỷ USD, bằng 76,8% về số dự án nhưng tăng tới 546% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư tăng thêm chủ yếu từ các nhà đầu tư Hàn Quốc, chiếm 23,6% tổng vốn đầu tư tăng thêm.

Nếu tính chung cả vốn cấp mới và tăng thêm trong 7 tháng đầu năm 2008 thì cả nước đã thu hút được 45,28 tỷ USD vốn đầu tư đăng ký, tăng gấp 4 lần so với cùng kỳ năm 2007. Đứng đầu trong số 35 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư vào Việt Nam ở thời điểm này là lãnh thổ Đài Loan ( Trung Quốc ) ( 82 dự án, vốn đầu tư 8,4 tỷ USD ), chiếm 18,9% tổng vốn đăng ký. Đứng thứ 2 là Nhật Bản, tiếp đến là Malaysia.

Về cơ cấu vùng, trừ 2 dự án thăm dò, khai thác dầu khí ( chiếm 21,9% tổng vốn đăng ký ), trong 7 tháng đầu năm 2008 tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã đứng đầu trong số 43 địa phương của cả nước, chiếm 21% tổng vốn đăng ký. TPHCM đứng thứ nhì với 17,7% tổng vốn đăng ký. Thủ đô Hà Nội xếp ở vị trí thứ 9, chỉ chiếm 1,6% tổng vốn đăng ký.

Theo các chuyên gia Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số vốn đăng ký cấp mới trong 7 tháng đầu năm 2008 tăng khá cao so với cùng kỳ năm 2007 do có nhiều dự án quy mô lớn được cấp chứng nhận đầu tư. Riêng 27 dự án có quy mô vốn đầu tư từ 100 triệu USD đã đạt trên 40 tỷ USD. Một tín hiệu đáng mừng nữa là nhiều dự án quy mô lớn đã khai trương, động thổ triển khai ngay sau khi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư như dự án Hồ Tràm ( cấp phép tháng 4-2008 ) xây dựng khu du lịch, khách sạn cao cấp với tổng vốn cam kết 4,2 tỷ USD tại Bà Rịa - Vũng Tàu; dự án sản xuất gang thép Hưng Nghiệp Formosa vốn 7,879 tỷ USD cấp phép và khởi công xây dựng trong tháng 7-2008, dự án xây dựng khu đô thị đại học Berjaya Leisure ( Malaysia ) do Công ty Berjaya Leisure đầu tư 3,5 tỷ USD tại TPHCM…

A.Phương

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài năm 2007

Trong vòng một tháng cuối năm, các địa phương "kéo" về thêm 4,45 tỷ USD, đưa tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam năm 2007 lên 20,3 tỷ USD, cao nhất từ trước tới nay.

Theo Cục Đầu tư nước ngoài ( Bộ Kế hoạch và Đầu tư ), trong tháng 12, có thêm 162 dự án mới vào Việt Nam với tổng vốn đầu tư 4,45 tỷ USD, đưa nguồn vốn cấp mới trong năm lên 17,85 tỷ USD. Lượng vốn các dự án hiện hữu đăng ký thêm trong năm cũng đạt 2,4 tỷ USD.

Với nguồn vốn 20,3 tỷ USD thu hút được, FDI năm nay tăng tới 67,93% so với năm 2006 và vượt 53% kế hoạch của cả năm (dự kiến 13 tỷ USD). Năm ngoái, vốn FDI đổ vào Việt Nam cũng đạt mức kỷ lục 10,2 tỷ USD.

Công nghiệp vẫn đang là ngành nghề thu hút lượng vốn lớn nhất với 9 tỷ USD, chiếm 50,6% vốn đăng ký. Tuy nhiên, ngành dịch vụ đã vươn lên ngang ngửa với kênh hút vốn truyền thống này với 8,5 tỷ USD. Phần vốn còn lại dồn vào nông, lâm, ngư nghiệp.

Trong năm nay, Hàn Quốc vươn lên trở thành nhà đầu tư nước ngoài số một tại Việt Nam với 4,4 tỷ USD, chiếm gần 25% tổng vốn. British Virgin Islands, một quần đảo thuộc chủ quyền Vương quốc Anh tại vùng biển Caribê, đứng thứ hai với 4,2 tỷ USD.

Đáng chú ý trong các dự án của lãnh thổ này vào Việt Nam là dự án nhà máy dầu khí Vũng Rô trị giá 1,7 tỷ USD tại Phú Yên, nhà máy linh kiện điện tử Compal tại Vĩnh Phúc với 500 triệu USD. Nước láng giềng Singapore cũng là một trong ba nhà đầu tư lớn nhất trong năm nay với 2,6 tỷ USD.

Theo Cục Đầu tư nước ngoài, Việt Nam đang trở thành điểm hấp dẫn ở châu Á đối với cộng đồng đầu tư quốc tế. Kết quả khảo sát về triển vọng thu hút đầu tư của Hội nghị Thương mại và Phát triển liên hợp quốc (UNCTAD) cũng cho thấy, Việt Nam vươn lên đứng thứ sáu trong tổng số 141 nền kinh tế được khảo sát (sau Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Nga và Brazil).

Các tập đoàn xuyên quốc gia cũng quan tâm và sẵn sàng đầu tư nhiều hơn vào Việt Nam, thể hiện ở làn sóng đầu tư mới tại Việt Nam với nhiều dự án quy mô lớn trong năm vừa qua, như Foxconn, Compal, Keangnam.

Các dự án trong năm cũng cho thấy một xu hướng rót vốn vào bất động sản và du lịch của các nhà đầu tư ngoại khá rõ nét, với một loạt dự án tại các địa phương dọc đất nước.

Ngọc Châu

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài năm 2006

Việt Nam đã thu hút hơn 10,2 triệu USD vốn đăng ký để thực hiện các dự án đầu tư nước ngoài trong năm 2006 và đã trở thành sự lựa chọn thay thế cho Trung Quốc ở châu Á.

Việt Nam đã nhanh chóng trở thành nước nhận đầu tư nước ngoài lớn nhất từ các công ty Mỹ. Nhờ những chính sách thuận lợi của Chính phủ, lực lượng lao động được đào tạo tốt và mối lo ngại của các nhà đầu tư về chi phí ngày càng tăng lên ở Trung Quốc, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng lên đáng kể. Các công ty này đang coi Việt Nam thực sự là một địa điểm thay thế để thành lập các trung tâm sản xuất và phân phối, phục vụ trước tiên cho xuất khẩu.

Các dự án đầu tư gần đây bao gồm dự án của Intel ở Thành phố Hồ Chí Minh với tổng số vốn đầu tư trị giá 1 tỉ USD. Dự án đầu tư này kéo theo các dự án đầu tư công nghệ cao khác cũng như các nhà cung cấp triển vọng của Intel.

Việt Nam đã thu hút hơn 10,2 tỉ USD vốn đăng ký để triển khai các dự án đầu tư nước ngoài trong năm 2006 - gần 8 tỉ USD của 800 dự án mới và hơn 2,2 tỉ USD của 440 các dự án đang triển khai xin tăng vốn.

Trong hai năm qua, Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành tựu kinh tế tích cực và đã thể hiện hình ảnh của mình một cách thuyết phục trong con mắt của các nhà đầu tư sau khi gia nhập WTO, đăng cai tổ chức Hội nghị APEC và việc chính phủ Mỹ phê chuẩn quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn với Việt Nam.

Các đặc điểm của thị trường Việt Nam

Mặc dù có nhiều vấn đề mà các nhà đầu tư nước ngoài phải xem xét, bài báo này tập trung vào 6 đặc điểm chính dành cho những nhà sản xuất đang cân nhắc việc thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam.

Tỉ lệ lao động và lực lượng lao động

So với nhiều nước láng giềng châu Á, Việt Nam có chi phí lao động tương đối rẻ. Công nhân nhà máy có mức lương trung bình là 200 USD/tháng trong khi những nhà quản lý chủ chốt và những kỹ sư có thâm niên được trả 1.500 USD/tháng. Việt Nam áp dụng 48 giờ làm việc mỗi tuần và chương trình phúc lợi xã hội theo quy định của Chính phủ chiếm khoảng 25% chi phí lương. Trong khi đó, Trung Quốc yêu cầu 40 giờ lao động mỗi tuần và chi phí xã hội chiếm 50 - 60% lương của công nhân.

Lực lượng lao động Việt Nam được giáo dục tốt và có tinh thần làm việc tích cực. Độ tuổi trung bình của công nhân là 24 và ngày càng có nhiều người trong độ tuổi lao động có khả năng làm việc bằng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai, phần lớn là nhờ sự xuất hiện của nhiều trung tâm tiếng Anh.

Ưu đãi thuế

Về phương diện phát triển kinh tế, Việt Nam hiện đang ở vị trí của Trung Quốc cách đây 10-12 năm, ngoại trừ một điều đáng lưu ý là các nhà hoạch định chính sách Việt Nam đã học được những bài học quý giá từ mô hình của Trung Quốc.

Chính phủ đã thực hiện một chương trình ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp mạnh bạo. Chương trình này cho phép thời hạn miễn thuế lên tới 4 năm kể từ khi kinh doanh có lãi (có tính cả năm đầu tiên). Và giai đoạn 7 năm tiếp theo, mức thuế phải nộp chỉ bằng ½ mức thuế thu nhập doanh nghiệp, mức thuế này thậm chí có thể được áp dụng trong thời gian 15 năm. Thuế thu nhập doanh nghiệp có thể ở mức 10%, 15% hay 20% - tuỳ thuộc từng ngành công nghiệp, loại hình đầu tư và địa điểm. Mức thuế tiêu chuẩn là 28%.

Khi tiến hành lựa chọn địa điểm để đầu tư, doanh nghiệp nên đến thăm các khu kinh tế khác nhau và thảo luận các ưu đãi thuế của mỗi khu kinh tế cũng như những điều kiện để được hưởng ưu đãi về thuế. Ngoài ra, còn có những chương trình miễn thuế nhập khẩu các tư liệu sản xuất (mới hoặc đã được tân trang lại).

Ông Charlie Blocker, Giám đốc Điều hành Tập đoàn Gannon Pacific cho biết: “Các ưu đãi thuế của Chính phủ Việt Nam là một trong những ưu đãi cao nhất châu Á và các công ty nhận thức được ảnh hưởng về mặt tài chính của những ưu đãi này lên doanh thu cố định hàng tháng của họ”.

Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng của Việt Nam đang phát triển nhanh chóng nhằm đáp ứng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mới đang đổ vào đây. Mặc dù đi sau Trung Quốc, Chính phủ Việt Nam quyết tâm phát triển cân bằng về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là trong lĩnh vực cung cấp điện, nước, các dịch vụ cảng biển và viễn thông. Có rất nhiều các khoản vay và tài trợ song phương tiếp tục được dành cho Việt Nam.

Hai năm qua, Việt Nam đã đầu tư khoảng 10% GDP vào cơ sở hạ tầng. Đến năm 2012, Việt Nam sẽ hoàn thành một mốc quan trọng về phát triển cơ sở hạ tầng qua việc phát triển các cảng nước sâu và vận tải biển - sự phát triển này sẽ mang lại cho Việt Nam một lợi thế cạnh tranh to lớn và cho phép nước này tăng cường hỗ trợ các nhà đầu tư trong việc thành lập các chuỗi cung ứng và xuất khẩu vào ASEAN, Trung Quốc và Bắc Mỹ.

Sở hữu trí tuệ và cơ sở hạ tầng pháp lý

Cùng với việc đáp ứng những quy định về pháp lý và sở hữu trí tuệ để gia nhập WTO, Chính phủ Việt Nam còn có những bước đi nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và ban hành nhiều luật quy định việc bảo hộ cụ thể đối với các nhà đầu tư. Hệ thống toà án giám sát luật có ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài tiếp tục được cải thiện, tạo ra một khuôn khổ pháp lý minh bạch và rộng mở hơn cho các hoạt động đầu tư.

Năm ngoái, Chính phủ đã ban hành các nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Đầu tư và Luật Mua sắm. Quốc hội cũng thông qua những luật mới nhằm tạo ra khuôn khổ pháp lý đồng bộ hơn cho các nhà đầu tư: Luật Chứng khoán, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ và Bộ luật Lao động sửa đổi, trong đó có những quy định mới về các vấn đề đình công.

Tính sẵn sàng của các cơ sở sản xuất hiện có

Việt Nam đã xây dựng một số lượng khá lớn các khu kinh tế. Giá thuê đất nhìn chung thấp hơn ở Trung Quốc, khoảng 20-25 đô-la/1 mét vuông với thời hạn thuê là 50 năm. Đối với những khu kinh tế có cơ sở hạ tầng hiện đại và đầy đủ hơn, giá thuê đất cao hơn, khoảng 40 đô-la/1 mét vuông.

Số liệu thống kê từ Vụ Quản lý Khu công nghiệp và Khu chế xuất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, năm 2006, 5,68 tỷ đô la đã đổ vào các khu công nghiệp, khu chế xuất. Số vốn đầu tư này là dành cho các dự án mới và các dự án đang thực hiện xin tăng vốn. Con số này cao gấp 2 lần so với năm 2005.

Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Đồng Nai và TP. Hồ Chí Minh là những điểm hấp dẫn nhất đối với những nhà đầu tư, thu hút 213 dự án và tổng số vốn đăng ký lên đến gần 2,58 tỷ đô la, chiếm khoảng 60% tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệp và khu chế xuất.

Một trong những khách hàng của EWA, một công ty sản xuất kim loại Hoa Kỳ, muốn đặt cơ sở sản xuất gần TP.Hồ Chí Minh để tranh thủ lợi thế về cảng biển và thủ tục hải quan ưu đãi. Trong khoảng 55 khu kinh tế, EWA đã chọn được ra một danh sách gồm 3 khu kinh tế thoả mãn yêu cầu của khách hàng. Những khu này đều rất cạnh tranh về dịch vụ và là địa điểm lý tưởng cho các công ty thiết lập các cơ sở kinh doanh.

Việt Nam dành cho các nhà đầu tư không chỉ những tiềm năng kinh tế to lớn mà còn là sự lựa chọn hàng đầu cho các công ty muốn đa dạng hoá đầu tư của họ tại châu Á. Với giá nhân công rẻ, chính sách ưu đãi thuế đặc biệt và hạ tầng cơ sở không ngừng phát triển, Việt Nam sẽ tiếp tục cung cấp cơ hội đầu tư cho những công ty Hoa Kỳ.

EWA có trụ sở chính tại Charlotte, NC và các văn phòng ở Chicago và Thượng Hải. Nhiệm vụ của tổ chức này là hỗ trợ các nhà sản xuất trong việc thiết lập hoạt động ở châu Á, bao gồm sản xuất theo hợp đồng, lập liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

Alex Bryant

Triển vọng thu hút đầu tư nước ngoài vẫn rất tích cực

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài năm 2005 đã có những kết quả rất ấn tượng với kỳ lục về số lượng và chuyển biến về chất lượng. Dường như nhận định về một làn sóng đầu tư mới vào Việt Nam đang trở thành hiện thực. Với nhiều điều kiện thuận lợi mới cộng với những nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư nước ngoài được đánh giá là đang trên đà thuận lợi.

Trao đổi về vấn đề này, ông Phan Hữu Thắng, Cục trưởng Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch đầu tư (KH - ĐT) cho biết, năm 2006, thu hút đầu tư nước ngoài đã đạt mức kỷ lục kể từ khi ban hành luật Đầu tư nước ngoài đến nay, dự kiến số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký có thể đạt hơn 9 tỷ.

Bên cạnh đó, thu hút vốn FDI năm 2006 đã đánh dấu một bước chuyển mới về chất mà cụ thể chúng ta đã thu hút được nhiều dự án lớn của các tập đoàn xuyên quốc gia có công nghệ cao. Lần đầu tiên Việt Nam có những dự án công nghiệp lớn trên một tỷ USD và lần đầu tiên chúng ta thu hút được những dự án công nghệ cao như dự án đầu tư sản xuất chíp điện tử của Intel với số vốn ần 1 tỷ USD. Nhiều tập đoàn công nghiệp lớn trên thế giới đã chọn Việt Nam là điểm đầu tư sản xuất cho cả khu vực, đưa Việt Nam tham gia vào chu trình sản xuất mang tính toàn cầu của các tập đoàn lớn.

Kết quả tốt đẹp này đã được dư luận nước ngoài đánh giá là hiện tượng Việt Nam. Trong năm 2006, vị thế của nước ta trên thế giới được nâng cao sau khi trở thành thành viên 150 của WTO và tổ chức thành công Hội nghi cấp cao APEC lần thứ 14 tại Hà Nội, tiếp tục làm gia tăng mối quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài. Đồng thời, môi trường kinh doanh của nước ta đã tiếp tục được hoàn thiện nâng cao nhằm tạo một mặt bằng pháp lý chung cho cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, tạo môi trường kinh doanh minh bạch thông thoáng hơn phù hợp với thông lệ quốc tế.

Với kết quả thuận lợi này, ông có nhận định gì về khả năng thu hút đầu tư nước ngoài trong năm 2007 tới?

Có thể nói, năm 2007, thu hút đầu tư nước ngoài tiếp tục có nhiều thuận lợi nhất là khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên WTO. Tình hình chính trị ổn định, nền kinh tế tăng trưởng nhanh cùng với hình ảnh Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế sẽ tiếp tục tạo nên sức thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư.

Bên cạnh đó, môi trường kinh doanh càng được cải thiện theo cơ chế thị trường. Hàng loạt luật quan trọng như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu cũng như việc phân cấp triệt để việc cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các địa phương sẽ tạo ra một sự thông thoáng và thuận tiện hơn cho nhà đầu tư. Hệ thống kết cấu hạ tầng ngày càng được thay đổi góp phần để môi trường kinh doanh ngày càng thuận tiện hơn.

Đồng thời cũng phải kể đến yếu tố thuận lợi về dòng vốn đầu tư trên thế giới đang hồi phục mạnh mẽ và có xu hướng đổ vào các quốc gia đang phát triển có sự ổn định và cởi mở. Việt Nam cũng nằm trong chiến lược phân bổ đầu tư của nhiều tập đoàn ra khỏi Trung quốc để tránh rủi ro. Dự kiến năm 2007 thu hút vốn đầu tư nước ngoài sẽ đạt khoảng 9,2 tỷ USD. Trong đó, sẽ tập trung vào các đối tác lớn như Nhật Bản. Chúng ta cũng hy vọng sự tăng trưởng mạnh mẽ về đầu tư từ Hoa Kỳ, EU mà nhất là Đức... Đây là các đối tác tiềm năng về vốn và công nghệ, giúp chúng ta đạt được mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng, thu hút công nghệ cao. Các đối tác, lĩnh vực khác sẽ tiếp tục được quan tâm xúc tiến và hỗ trợ nhằm thu hút gia tăng nguồn vốn FDI vào Việt Nam.

Việt Nam đã trở thành thành viên WTO, điều này sẽ có tác động thế nào tới thu hút FDI của Việt Nam?

Có thể nói rằng, khi trở thành thành viên WTO, việc thu hút FDI có triển vọng rất sáng sủa. Gia nhập WTO, luật pháp của ta phù hợp với thông lệ quốc tế, các rào cản dỡ bỏ... sẽ có tác động thúc đẩy FDI trong những năm tới đây.

Khi đã là thành viên WTO, Việt Nam cam kết tuân thủ toàn bộ các hiệp định và nghị định mang tính ràng buộc của tổ chức này với nguyên tắc chính là mở cửa thị trường về hàng hoá và dịch vụ. Không phân biệt đối xử giữa các đối tác. Thực hiện các quy định về đầu tư, bảo hộ sở hữu trí tuệ, công khai minh bạch về chính sách, giải quyết tranh chấp thông quan cơ quan của WTO... sẽ có tác động đến môi trường kinh doanh ngày càng hấp dẫn hơn, tạo lòng tin cho các nhà đầu tư khi đến Việt Nam.

Tuy nhiên, gia nhập WTO sức ép cạnh tranh sẽ tăng lên trên thị trường Việt Nam. Hàng hoá sản xuất trong nước sẽ phải cạnh tranh với sản phẩm và dịch vụ từ bên ngoài vào. Một số doanh nghiệp FDI có thể sẽ gặp khó khăn... điều này sẽ có những tác động đến việc thu hút FDI của chúng ta.

Việc phân cấp quản lý đầu tư được xem là một đột phá, thể hiện tinh thần cởi mở của Luật Đầu tư mới. Hiện nay công tác này được triển khai như thế nào, thưa ông?

Phân cấp là một yêu cầu hợp lý, trong quá trình xây dựng luật Bộ KH - ĐT đã đề xuất và được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận. Ngay sau khi luật có hiệu lực, cụ thể là từ thời điểm 25/10 ngày nghị định 108 có hiệu lực, Bộ KH - ĐT đã không xem xét việc cấp phép đầu tư và đã bàn giao lại hết cho các địa phương. Toàn bộ quy trình cấp phép bây giờ sẽ do địa phương là đầu mối. Bộ sẽ chuyển sang xây dựng chính sách, hướng dẫn thực hiện và đi vào kiểm tra giám sát.

Nhằm đảm bảo thực hiện việc phân cấp không gây ra những khó khăn, vướng mắc cho các nhà đầu tư, Bộ KH - ĐT đã có công văn yêu cầu các Sở KH - ĐT ở địa phương phổ biến các nội dung luật một cách rộng rãi, tiến hành kiện toàn bộ máy, nâng cao năng lực thẩm tra, thẩm định dự án, đáp ứng yêu cầu theo quy định. Trong quá trình thực hiện, nếu có những vấn đề khó khăn Bộ KH - ĐT sẵn sàng giúp đỡ, tư vấn và cử cán bộ hỗ trợ.

Gần đây Bộ có nhắc đến việc triển khai cơ chế "một cửa" trong thu hút đầu tư, việc này sẽ được triển khai cụ thể thế nào?

Cơ chế một cửa cũng sẽ do các địa phương triển khai. Theo đó, cơ quan chịu trách nhiệm đầu mối của cơ chế này là là Sở KH - ĐT các địa phương. Các nhà đầu tư chỉ cần đến Sở KH - ĐT nộp hồ sơ và chờ nhận đăng ký đầu tư. Còn các vấn đề khác về quy hoạch, xây dựng, nhà đất... là câu chuyện nội bộ của các sở ngành địa phương. Các cơ quan này sẽ phối hợp với nhau để giải quyết, nhà đầu tư không mất nhiều thời gian để chạy đi tất cả các nơi để giải quyết công việc nữa.

Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý cũng cần thực hiện nghiêm túc việc quy định rõ ràng, minh bạch thủ tục hành chính ở mọi khâu và mọi cấp. Công khai, quy trình, thời hạn, trách nhiệm xử lý các thủ tục về đầu tư.

Việc đầu tư xây dựng hạ tầng nhằm góp phần cải thiện môi trường kinh doanh sẽ được thực hiện thế nào trong năm tới?

Một trong các lĩnh vực tập trung thu hút đầu tư giai đoạn 2006 - 2010 là nâng cấp cơ sở hạ tầng hiện có ở Việt Nam bao gồm cả hệ thống các nhà máy điện, hệ thống đường xá, sân bay, bến cảng... Chúng ta biết rằng, nhu cầu đầu tư sản xuất kinh doanh hiện là lớn; thu hút đầu tư nước ngoài gia tăng, đầu tư trong nước gia tăng, nền kinh tế tăng trưởng cao đòi hỏi nhất thiết phải có sự nâng cấp mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng.

Hiện nay, bên cạnh nguồn vốn đầu tư của nhà nước đầu tư lớn cho các công trình hạ tầng. Chúng ta đang tập trung kêu gọi đầu tư vào hạ tầng kinh tế lớn, có ảnh hướng tới sự phát triển của cả vùng và đất nước. Một số hạng mục kêu gọi như Cảng Vân Phong, các nhà máy điện, các dự án hạ tầng đô thị... đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư. Bên cạnh đó, chúng ta cũng tập trung thu hút đầu tư vào công nghệ cao, công nghệ nguồn tập trung vào các khu như Láng - Hoà Lạc; đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng cho đầu tư sản xuất.

Trong tình hình mới và yêu cầu thu hút đầu tư ngày càng cao, công tác xúc tiến đầu tư năm tới sẽ được tiến hành thế nào thưa ông?

Năm 2007, Việt Nam đã gia nhập WTO, vị thế và sức hút sẽ được nâng lên; bên cạnh đó, cùng với việc phân cấp triệt để cho các địa phương... đã tạo ra môi trường đầu tư mới Việt Nam. Điều này, đòi hỏi xúc tiến đầu tư cũng phải có những thay đổi phù hợp với tình hình mới.

Bộ KH - ĐT mà Cục Đầu tư nước ngoài phải đi vào những dự án thật lớn, có tầm ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bộ mặt các vùng. Ví dụ tập trung triển khai 3 đề án lớn mà Thủ tướng đã làm việc với phía Nhật Bản là lấp đầy khu công nghệ cao Hoà Lạc, đường sắt cao tốc, đường cao tốc Bắc - Nam. Chúng tôi cũng sẽ tập trung thu hút vào 5 khu kinh tế mà Thủ tướng đã phê duyệt.

Bên cạnh đó, các dự án cụ thể cũng đã được phân cấp cho các địa phương. Nhưng với vai trò của mình Bộ KH - ĐT sẽ cố gắng hướng dẫn các địa phương phối hợp, tránh chồng chéo, không có hiệu quả, hoặc cạnh tranh không lành mạnh. Mới đây, Chính phủ đã giao cho Bộ KH - ĐT xây dựng quy chế để hình thành nên chương trình xúc tiến đầu tư - thương mại và du lịch. Trước khi đi vào năm mới chương trình này sẽ hoàn thành để Thủ tướng phê duyệt làm cơ sở cho công tác xúc tiến. Trong năm tới, Việt Nam cũng sẽ phối hợp với 16 hãng thông tấn báo chí lớn của khu vực sẽ tổ chức một hội nghị về xúc tiến đầu tư vào khu vực và Việt Nam. Đây có thể coi là sự kiện xúc tiến đầu tư lớn của năm 2007. Bên cạnh đó chúng ta vẫn sẽ tiến hành các hoạt động khác một cách hiệu quả hướng tới các nhà đầu tư cụ thể cho từng dự án cụ thể.

Phước Hà