NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

WTO : Bước ngoặt của Việt Nam từ Chiến trường vào Thương trường Thế giới - Chuyên gia Ngân Hàng và Đầu Tư Vũ Giản , Kiều bào Thụy Sĩ

Tháng 11 năm 2006, từ Giơ-ne-vơ ( thủ-phủ của WTO, Thủ-đô Thương-mại của Thế-giới ), Rồng Việt-nam cất cánh bay về biển Đông, để họp mặt APEC cùng 21 bạn hàng Thái-bình dương tại Hà.nội, và đợi ngày cùng Đàn Chim Viễn-xứ bay trở lại nơi đây, hòa mình cùng cả nước tưng bừng kỷ niệm « Ngàn năm Cố đô Thăng-Long » năm 2010.

Trở lại thương trường WTO mà Việt Nam đã được tiếp nhận làm thành viên thứ 150, và các cơ quan truyền thông khắp nước đã viết nhiều về những sự lợi, hại cho Việt Nam khi ra nhập « cái chợ » lớn nhất Thế giới này. Thực ra WTO không chì là « cái chợ », mà cũng là « sân chơi » định đọat họat đông kinh-tế, thương mại, đấu-tư hòan-cầu, theo đúng những « nguyên-tắc » quốc-tế (dài cả 2 vạn trang để xét xử những vụ tranh chấp bào chữa bởi các Luật-sư chuyên về thương-mại!) của tồ chức quan trọng nhất trong số 25 cơ-quan chuyên môn của Liên-hiệp-quốc ở Genève, Thụy-Sĩ. Tựu chung thì khi vào WTO, Việt Nam và 149 bạn hàng nuớc khác, cùng THẮNG và cùng có LỢI ( win,win ), nên chưa thấy nước nào « rút lui »ra khỏi tổ-chức này cả.

Vì vậy phạm-vi bài này chỉ nêu ra những THÁCH-THỨC (Challenge) lớn cho các doanh-nghiệp Việt Nam trên Thương-trường WTO, vì vai trò của những nhà đàm phán Việt Nam được nhận là có « bản lĩnh » bởi đối thủ Mỹ Karan Bhatia, họ hàng với Farah Bhatia là người bạn đã thuật lại ) vừa chấm dứt, sau hơn 11 năm đàm phán để mở cửa cho Việt Nam vào cái Thương-trường hòan cầu WTO.

Thương-trường WTO

Cái cửa WTO đã mờ rộng cho Việt Nam vào không chỉ là buôn bán tự-do, mà là buôn bán cái gì ? Nếu cơ cấu xuất khẩu vẫn chỉ phụ thuộc vào một số mặt hàng chính ( dầu thô, dệt may, dầy dép, sản phẩm gỗ, nông sản, một ít linh kiện điện tử ), còn hàng công nghiệp có giá trị « chất xám »cao ( Singapore trong 73% sản phẩm, Malaysia : 51%, Thái-lan : 30%, Việt-nam : 2%) thì xuất khẩu vẫn quá ít. Hơn nữa, các doanh nghiệp cần phài sản xuất hàng hóa có chất lượng cao để xuất khẩu và cạnh tranh tăng phần Việt Nam trên những thị trường quan trọng nhất thế giới. Xuất khẩu của Việt Nam tăng đều từ 19% đến 24% mỗi năm gần đây, đạt 32,5 tỷ USD năm 2005 ( ước-lượng cho 2006 : 36,27- 40 tỷ USD ) , nhưng chỉ bằng 1/3 kim ngạch của Thái-lan ( hơn 100 tỷ USD ), hay 2/3 kim ngạch xuất khẩu của Phi-luật-tân có lẽ cũng 1 phần vì khi chưa vào WTO nên hàng hóa Việt Nam còn bị phân biệt đối xử.

Ngoài ra hàng nhập khẩu vào Việt Nam luôn vượt chỉ tiêu trong nhiều năm liên tục ( dự-kiến 2007, Nhập Khẩu : 49,1 tỷ USD, Xuất Khẩu : 45,2 tỷ USD ),làm mất cân bằng của cán cân thương mại Việt Nam. Phải chăng người dân trọng « hàng ngọai » vì chất lượng cao hơn « hàng nội », hay vì tư duy dịch vụ buôn bán hàng nội còn kém, và đầu tư thương mại cũng dàn trải, lãng phí hàng tỷ đồng ? Nếu tiếp tục như vậy, thì sợ rằng « hàng nội » sẽ có ngày phải nhường cả phần thị trường Việt Nam cho « hàng ngọai », trong khi chưa tăng nổi «Thị phần »của mình trên thương trường WTO. Đây cũng là 1 thách thức lớn cho người tiêu dùng Việt Nam cần khuyến khích « hàng nội » khi đạt ngang chất lượng cùa hàng ngọai mà lại có giá bán rẻ hơn .

Tóm lại, khi Việt Nam gia nhập WTO thì chỉ là bước đầu mở các cơ chế tiếp cân thị trường thế giới. Bước sau sẽ khó khăn hơn, vì các sản phẩm Việt Nam sẽ bị thử thách xem có đủ sức cạnh tranh trên thị trường này. Dù sao, không thể phí phạm những cơ hội WTO mở ra với những sản phẩm có gía trị gia tăng thấp, và sản phẩm công nghiệp nhẹ, mà phải bán hàng có giá trị gia tăng cao, để phát-triển thương mại bền vững, chấm dứt kiểu buôn bán « ăn sổi, ở thì », đẩy xuất khẩu tăng nhiều, mà lời chẳng được bao nhiêu.

Thu hút đầu-tư

Muốn tham dự thương-trường WTO thì phải đầu-tư để sản-xuất hàng hóa trao đổi. Đây là vai trò của các địa-phương nhằm thu hút các nguồn vốn đầu-tư từ trong và ngòai nước.Thực ra tăng trưởng kinh-tế của Việt Nam dựa vào vốn đầu-tư, chớ không phải từ xuất khẩu, vì Việt Nam là nước nhập- siêu (nhập khẩu vượt xuất khẩu) từ nhiều năm nay. Nhưng trước khi phân-tích xem thu hút đầu tư ( đặc biệt FDI : vồn đầu-tư trực tiếp từ nước ngòai, và một phần rất nhỏ của kiều-hối) có phải là chính-sách tốt để phát-triễn kinh-tế Việt Nam, hãy xem xét tình trạng của nguồn vốn đầu tư này trong vài năm gần đây.

Trước hết tổng-số vốn đầu tư xã-hội ước đạt 390,5 ngàn tỷ đồng cho 2006, và 452 ngàn tỷ đồng cho 2007, hay bằng 40% GDP của Việt Nam . Tổng-sản lượng GDP dự-kiến đạt trên 1.134-1.136 tỷ đống ( tương-đương 70 tỷ USD cho năm 2007 ), hay tăng trường 8,3% - 8,5%, cao hơn 8,1% - 8,2% năm 2006, và 8,43% năm 2005.

Riêng FDI cấp mới trong 11 tháng dầu năm 2006 đã đạt 8,273 tỷ USD ( vượt mục tiêu 6,5 tỷ USD ), tăng thêm FDI của tháng 12 ( sau WTO và APEC) sẽ đưa tổng số vốn FDI trong năm 2006 đạt kỷ-lục mới 9,5 tỷ USD ( kỷ-lục cũ là 8,6 tỷ USD năm 1995 ) so với 3,3 tỷ USD cho năm 2005.

Trong năm 2005, lượng kiều-hối đạt 4,425 tỷ USD ( nhiều hơn FDI chỉ đạt 3,3 tỷ USD ) hay bằng 10,5% tổng sản lượng GDP của gần 3 triệu Việt Kiều ước lượng hơn 40 tỷ USD. GDP của Việt Kiều cũng vẫn bằng 2/3 GDP = 60 tỷ USD của 84 triệu người Việt Nam trong nước.

Nhưng chỉ có 18% (=14.500 tỷ đồng, hay gần 1 tỷ USD) của lượng kiều hối này đã được đầu tư chính thức vào 2050 dự-án, và 82% (=3,425 tỷ USD) còn lại thì để « xài », hay đầu-tư « chui » ?!

Trong 7 tháng đầu năm 2006, lượng đầu-tư của Việt Kiều đã đạt 4.925 tỷ đồng, và 762,8 triệu USD, thì sẽ có thề đạt được cỡ 1,2 tỷ USD trong cả năm 2006.

Trong thời gian 7 tháng trên, đã có 1.465 dự án ( với vốn đăng ký trên 4.925 tỷ đồng, hay 380 triệu USD ) của Việt Kiều đầu tư theo Luật khuyến khích Đầu Tư trong nuớc, và chủ yếu tập trung vào thương-mại, dịch vụ (58%), sản xuất ( 25% ,trong đó CÔNG-NGHIỆP và xây dựng chỉ có 5%, vì lãnh vực này đòi hỏi nhiều VỐN, mà thời-gian THU HỒI vốn lại lâu dài ) .Việt Kiều Mỹ có 674 dự án, vốn đang ký chiếm 49,8%,bình quân vốn của mỗi dự án là 6 tỳ đồng. Sau đó là Việt Kiều Úc, với 237 dự án, chiếm 12,5% tổng số vốn đăng ký .

Thêm vào đấy lại có 108 dự án Việt Kiều đầu tư theo Luật Đầu Tư cho người nước ngòai ( FDI ) tại Việt Nam, với số vốn đăng ký 382,8 triệu USD, trung bình là 3,5 triệu USD/dự án. Những dự án có vốn đầu tư cao nhất là do Việt Kiều Thụy-Sĩ ( 2 dự án với vốn Đầu Tư. 69,1 triệu USD ), Nga (9 dự án với vốn đăng ký 61,6 triệu USD), Hoa-kỳ ( 33 dự án với vốn đăng ký 60,6 triệu USD ). Còn lại là vốn đầu tư của Việt Kiều từ Pháp, Úc, Bỉ,….đạt trung bình 20 triệu USD cho mỗi nước. Vốn đầu tư FDI của Việt Kiều lại tập trung vào công-nghiệp ( 66,6% số dự án, và 48,6% số vốn ) , thương mại và dịch vụ ( 19,4% và 31,4% ), nông lâm,ngư nghiệp ( 12%, và 14,5% ),và tạo đa-số việc làm cho hơn 7000 lao-động trong nước làm việc với các doanh nghiệp Việt Kiều.

Đây là bước « nhẩy vọt » đầu tư Việt Kiều vào Việt Nam trong năm 2006, vì trước đó, riêng tại TP.HCM từ năm 1988 đến 2005, vốn đầu tư Việt Kiều theo Luật doanh nghiệp chỉ có hơn 2000 tỷ đồng, và 62,39 triệu USD theo luật FDI, gồm những dự án có quy mô bình quân vài trăm nghìn USD ( lớn nhất là 48,7 triệu USD cho 1 khu vui chơi giải trí ). So với số lượng 50.000 doanh nghiệp họat động tại TP.HCM, thi doanh nghiệp do Việt Kiều thành lập, hay góp vốn đầu tư chỉ bằng 1%, và chỉ chiếm 1,2% tổng số vốn đăng ký.

Việt Kiều Mỹ đầu tư tại Việt Nam theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước cũng gần giống như họ mở doanh nghiệp tại Mỹ. Theo Cục Thống-kê Mỹ ( US Cencus Bureau ) thì Việt Kiều Mỹ đứng thứ 4 ( với 147.081 hãng ) theo số lượng doanh nghiệp dòng Á chậu ở Mỹ, vượt qua Philippines ( 128,223 ), và Nhật ( 86.863 ). Nhưng Việt Kiều không có công ty lớn ( chỉ có 26.000 doanh nghiệp với quy mô trên 100 người làm ), nên doanh thu chỉ đạt 15,7 tỷ USD/năm, hay 4,8% tổng doanh thu của doanh nghiệp gốc Á, và trả công lao động gần 3 tỷ USD/năm.

Bán lẻ thu hút nhiều nhất doanh nhân Việt Kiều, với hơn 14.000 hãng, và doanh thu gần 3,6 tỷ USD. Tiếp đến là 8500 doanh nghiệp Khoa Học & Kỹ Thuật, dịch vụ sử chữa (hơn 7000), bất động sản (6000), xây dựng, hay đánh bắt hải sản ( 4000 hãng cho mỗi lãnh vực ), sản xuất ( 3800 ), dịch vụ giao thông ( 3500 ) v,,, v,,,

Hiệu- quả đầu-tư

GS.David Dapice (ĐH.Harvard) so sánh Đài-loan trong thập kỷ 60 và 70 đã có mức thu thập bình quân đầu người như Việt Nam hiện nay, và Đài Loan đã tăng trưởng trên 11% trong suốt 10 liền, măc dầu lượng đầu-tư chỉ chiếm 25% của GDP.

Vốn đầu tư ờ Việt Nam chiếm 40% của GDP vào năm 2005 (ước lượng 41% cho 2006), nhưng mức tăng trưởng bình quân chỉ là 7% - 8%. Rõ ràng là Đài-loan đã sử dụng vốn đầu-tư hiệu-quả hơn so với Việt Nam. Đó là 1 trong những yếu-tố làm tăng trưởng của Việt Nam chậm hơn so với tiềm năng. Tỷ lệ 40% của Việt Nam thuộc lọai cao nhất thế-giới, chỉ thấp hơn tỷ lệ trên dưới 44% của Trung-quốc, nhưng tăng trưởng của Trung Quốc vẫn còn cao hơn của Việt Nam.

Vốn đầu tư bao gồm 2 nguồn vốn quan trọng nhất là FDI ( Foreign Direct Investment ) và ODA ( Official Direct Assistance từ các tổ chức quốc tế World Bank ( Ngân hàng thế giới ), ADB ( Ngân hàng phát triển Á châu ), hay của các chính phủ nước ngoài). Hiệu-quả đầu.-tư thường được tính bằng :

Tỷ lệ vốn đầu-tư so với GDP (của Việt Nam là 40% cho năm 2005) chia cho :

Tốc-độ tăng trưởng GDP (của Việt Nam cỡ 8% năm 2005)

Hay : 40/8 = 5 lần, nghĩa là để tăng trưởng 1% GDP, thì tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP phải đạt 5%, cao hơn so với 3,3 lần của Việt Nam trong năm 1995( = hiệu quả Đầu Tư của Việt Nam đã bị giảm xuống ).và cao gấp rưỡi của Ấn-độ, hay Trung- quốc (44/9 ,77% GDP = 4,5) Như vậy vốn đầu tư ở Việt Nam cao, nhưng tăng trưởng GDP lại thấp, suất đầu tư tăng trưởng tăng, hiệu quả đầu tư thấp, và giảm.

Hiệu quả đầu tư của khu kinh tế nhà nước thấp (7,4 lần trong năm 2005) hơn khu Kinh Tế ngoài nhà nước ( 3,4 lần ), hay khu Kinh Tế có vốn Đầu Tư của nước ngoài ( 3 lần ). Đã vậy, so với năm trước (2004), hiệu quả Đầu Tư của khu Kinh Tế nhà nước cũng đã thấp ( 6,8 lần cho năm 2004 ), trong khi khu Kinh Tế ngòai nhà nước ( 3,7 lần ), và khu Kinh Tế có vốn Đầu Tư của nứơc ngoài (3,4 lần) càng ngày càng tăng hiệu quả.

Hiệu quả đầu tư thấp có nhiều nguyên nhân tùy thuộc :

Khâu quy-họach, với 2 hạn chế lớn là quy-họach chưa đồng-bộ, chưa kết hợp chặt chẽ giữ quy-họach ngành với quy-họach vùng lãnh thổ. Thêm vào sự co kéo, nể nang gây trùng chéo, gây ra tình trạng quy-họach « treo », hay Đầu Tư dàn trải. Tầm nhìn xa, trông rộng còn hạn chế .

Khâu « vô Kế- Họach » là khi công trình, dự án chưa thiết kế đã được duyệt, chưa có vốn cũng đã thi công, gây ra nợ đọng và gia tăng, gây khó khăn ( ngay cả nguy cơ phá sản !) cho các đơn vị thi công.

Tóm lại, vốn đầu-tư ( bằng tiền tệ, và trí-tuệ ) là yếu tố trực tiếp ( nếu đầu tư hiệu quả ) quyết định tốc độ tăng trường kinh tế, và phát triển xã hội, cũng như cải thiện, bảo vệ môi trường.

Tăng trưởng kinh-tế và Thương-mại

So với Trung-quốc, thì thu thập bình quân đầu người của nước này là 1200 USD, hơn gấp đôi mức thu thập khoảng 600 USD của Việt Nam hiện nay. Theo các chuyên-gia kinh tế : khi mức thu thập thấp, thì dễ tăng trưởng nhanh hơn, vì Việt Nam đang đuổi theo các nước khác. Nhưng khi mức thu thập của Việt Nam cao hơn, con đường « chạy đua » sẽ dốc « dựng đứng »hơn, làm cho Việt Nam vẫn tiến lên, nhưng sẽ không dễ dàng như trước nữa.

Nhưng mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam khó giống với Trung Quốc, vì Trung Quốc đã bắt đầu theo Chu- kỳ tăng trưởng kinh tế cổ điển tại Đông Á, trước khi hệ thống « Kinh Tế trí thức » được xử dụng bởi những nước tiên tiến Âu Mỹ, mà nay Việt Nam cũng có tham vọng áp dụng. Thật vậy, mô hình Trung Quốc dựa vào nguồn lao động rẻ và dự trữ vô hạn với 1,5 tỷ dân ) chuyên sản xụất hàng hóa cũng rẻ nhất để xuất khẩu, đem về thât nhiều ngọai tệ để tự phát triển ( hay mua của nước khác ) các ngành công nghiệp xuất khẩu. Như vậy sẽ không có nước nào cạnh tranh nổi với hàng rẻ của Trung Quốc, làm cho các doanh nghiệp nước này tiếp tục kiếm lời dễ dàng, không cần phải sáng chế cho hàng rẻ có thêm chất lượng « gia tăng » như Nhật-bản, Hàn-quốc, từ khi lao-động và hàng xuất khẩu của 2 nước này trở đắt đỏ, không mấy kém các nước Âu Mỹ, nên không thể tiếp tục « làm thuê, bắt chước » mãi mãi như Trung Quốc.

Cạnh đấy, tăng trưởng Kinh Tế của Việt Nam dựa trên vốn đầu tư, chớ không phải từ xuất khẩu, vì thực tế Việt Nam là nước nhập xiêu ( như đã viết ở trên ), và đã tranh thủ được khá nhiều nguồn vốn như ODA, FDI, kiều hối (dù hãy còn có rất ít được đầu tư phát triển), đầu tư gián tiếp qua các Quỹ Đầu Tư chứng-khóan, và phát hành ra nước ngòai những trái phiếu bảo hành bởi chính phủ để cho các doanh nghiệp nhà nước vay. Đây là mô hình tăng trưởng riêng của Việt Nam , nếu biết xử dụng những nguồn vốn này để mang lại nhiều lợi nhuận ( nếu tránh được tình cảnh « ta chỉ lời 1, người ta lời 10 » trên thương-trường WTO !), và thúc đẩy tăng trưởng Kinh Tế. Nhưng cũng cần tránh trường hợp của nước Mexico đã bị mắc kẹt trong cái bẫy của « nhân công rẻ mạt », mà tăng trưởng Kinh Tế chậm trễ ( hay « dậm chân tại chỗ », nếu không tụt hậu ), vì đã chót làm « bãi lắp, ráp » cho các doanh.nghiệp Bắc Mỹ làm giầu.

Ngoài ra, với tầm nhìn xa hơn, thì thấy là không thể để tăng trưởng Kinh tế phụ thuộc mãi mãi vào nguồn vốn nước ngoài, vì vốn này cũng có thể bỏ đi nơi khác như sau 1995 ở Việt Nam (có kỷ lục vốn FDI cao 8,6 tỷ USD), nguồn này đã giảm đi trong 10 năm, hoặc cũng như ở các nước láng giềng sau cuộc khủng hỏang tài-chính ờ Đông Nam Á ( bắt đầu từ Singapore) vào cuối thập niên 90.

Có lẽ vì vậy mà Trung Quốc cũng tranh thủ đề bớt lệ thuộc vào nguồn vốn Đầu Tư của nước ngoài, sau khi đã gặt hái được nhiều ngọai tệ ( mà dự trữ vừa đạt 1000 tỷ USD, hay 40 % GDP của Trung Quốc!) nhờ hàng xuất khẩu (mà 57% đã được sản xuất tại Trung Quốc cho các công ty nước ngoài ) khắp nơi trên thế giới, thì ư đã dùng dự trữ này để mua các công ty và kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài ( như hãng máy tính Lenovo mua lại bộ phận làm máy tính cá nhân của IBM, v…v…). Như vậy có lẽ Trung Quốc có chính sách chuyển dịch từ đầu tư tăng trưởng sang Đầu Tư tiêu dùng, khiến FDI trở thành động cơ « yếu » để tăng trưởng Kinh Tế.

Hơn nữa sau 5 năm gia nhập WTO (vào ngày 11/12/2001), kim ngạch mậu dịch của Trung Quốc đã tăng từ 40 % GDP ( năm 2001 ) tới 80 % GDP năm 2005, vì Trung Quốc trở thành một trong những « nhà buôn » lớn trên thế giới ! Nhưng e cũng đã vấp phải các biện pháp chống phá giá nhiều nhất trong số các nước thành viên ( 434 biện pháp nhằm Trung Quốc, hay 16% của tổng số 2.743 biện pháp ). Riêng năm 2005 đã có 18 nước thành viên WTO tiến hành 63 vụ điều tra chống bán phá gíá và « trợ giá » với hàng hóa ( kim ngạch tới 2,1 tỷ USD ) của Trung Quốc !

Rút kinh nghiệm gia nhập WTO của Trung Quốc, ông Cốc-nguyên-Dương, Giám-đốc Viện Nghiên cứu Phát triển Trung Quốc đã phát biểu (tại « Hội thảo Việt Nam gia nhập WTO » ngày 6/10/2006 ở Hà nội ) là : « Cuộc cạnh tranh quốc-tế xét cho cùng cũng chính là cạnh tranh về nhân tài. Chính vì vậy mà chúng ta không những cần bồi dưỡng nhân tài, mà còn phải giữ họ bằng các chính sách ưu đãi,v…v… ».Vì vậy mà Trung Quốc mở cửa mời gọi đầu tư, thì Hoa-kiều đã đem vốn ( chất xanh !) và trí tuệ ( chất xám ) về nước để chiếm tới phân nửa ( 32 tỷ USD năm 2000 ) của tổng vốn FDI tại Trung Quốc, so với 200 triệu USD của Ấn-kiều Đầu Tư tại nước họ cùng năm 2000. Trái lại, kiều hối Ấn đã đạt 22 tỷ USD vào năm 2005 ( gấp đôi năm 1995 ) thì đã vươt 21 tỷ USD của Hoa-kiều hối cùng năm. Trong thập niên qua, Ấn kiều hối đã đạt 154 tỷ USD, cao gấp rưỡi Hoa-kiều hối.

Thêm vào đó, 20 triệu Ấn-kiều đã gửi 32 tỷ USD vào các ngân hàng Ấn.độ ( năm 2005, để hưởng lãi suất ưu đãi ). Số vốn này ( bằng 23% dự trữ ngọai tệ Ấn-độ ) đã góp phần giữ giá tiền Ấn (rupee), và ngăn lạm phát ở nước này có cán cân thuơng mại thường xuyên bị thâm thủng như ở Việt Nam .

WTO : một Thế giới phồn vinh

Chưa bao giờ Nhân loại lại càng ngày càng giầu như trong thời đại WTO hiện nay. Theo báo « The Economist Intelligence Unit » thì thu thập tính theo đầu người cao nhất Thế-giới trong năm 2006 là ở Na-Uy ( nước Bắc Âu có dầu hỏa !), 53.440 USD ở Thụy Sĩ ( nước Trung-Âu và Trung-lập không có dầu hỏa, mà giầu vì « chất xám » !), 52.940 USD ở Ái-nhĩ-lan ( Ireland cạnh nước Anh ), 51.610 USD ở Đan-mạch và 44.180 USD ở Hoa-kỳ. Tất cả những nước này đầu là thành viên của WTO. Thật đúng là « Vô Thương, bất Phú », nhưng « Vô Trí, bất Triển » ( không có Trí tuệ thì cũng không Phát Triển bền vững được ).

Phạm vi bài này không cho phép phân tích tất cả thành quả của Việt Nam gia nhập WTO, mà ở đâu bây giờ cũng bàn tới. Ngay tại Hội thào về tự-trị đại-học mới đây (tháng 11/2006 ở Hà nội), GS.Phạm Phụ cho biết : « Chính người Nhật đã dùng WTO gây áp-lực để cải cách giáo-dục », và TS.Lê ngọc Trà cũng cho bíết là : « Các nhà lãnh-đạo Trung Quốc đã từng muốn WTO giúp họ nghiền nát những cơ chế bảo thủ ».

Sự thực WTO là 1 tổ chức hòa-bình hữu-nghị, chỉ có mục đích làm cho « Dân giầu, nước mạnh » khắp Thế-giới này. Vì vậy mà 2 nước Nga và Mỹ đã chọn Việt Nam để ký kết ( vào dịp họp APEC ở Hànội ) thỏa-hiệp song phương cho Nga vào WTO. Cũng như năm 1985, lãnh-đạo 2 nước địch thù Nga, Mỹ đã ký kết tại Genève, Thụy-sĩ, một Hiệp-ước hạn chế ( bằng cách tự phá hủy bớt ) các khí giới nguyên-tử của 2 cường quốc này, để chấm dứt tình trạng chiến-tranh « lạnh » trên Thế-giới.

Đây là sự « trùng hợp lịch-sử », và cũng là « Tín hiệu mới » cho Việt Nam, như ông Nguyễn Trung đã đề cập tới trong bài viết trên mạng VNnet (23/11/2006), và ông kết-luận : « Trong cục diện mới này, làm thế nào để nước ta tránh trở thành bãi thải công nghiệp, và càng đuổi, càng tụt hậu ? Làm gì, làm như thế nào để hợp tác, đối tác mà nước ta không bị diễn biến, và thôn tính, để vẫn giữ được độc-lập và chủ quyền và không lệ thuộc ? Làm gì, làm thế nào để không ai có thể ép ta đi với một bên, chống một bên? Làm gì, và làm sao để nước ta trở thành một đối tác được tin cậy, nể trọng, được mọi người dù ở bên nào đều cần tới? Câu trả lời chỉ có thể tìm được trong 1 nước Việt Nam giầu mạnh về bản-lĩnh, chất xám, nguồn-lực con người được phát huy tối ưu nhất, dựa trên nền tảng của sự đồng-thuận dân tộc lớn nhất. Cục-diện thế-giới hiện tại đang đòi hỏi, đang chứng-minh.Thời đại ngày nay là Thời đại của phát huy sức mạnh Dân-tộc ». Đã từ lâu nuớc Thụy sĩ trả lời những câu hỏi trên bằng chính sách Trung lập, mà Singapore cũng cố gắng noi theo khi tự nhận là « nuớc Thụy Sĩ ở Á-châu ». Cũng tại Genève, thủ-phủ của Hồng-Thập-tự Quốc-tế ( CICR, mà ông Phó CTJacques Forster là một bạn học cũ, mới qua Việt Nam chù trì Hội thảo vùng về Luật Nhân-đạo Quốc Tế ) và của WTO, mà Việt Nam mới gia nhập để cho « dân giầu, nước mạnh, xã-hội công-bằng, dân-chủ văn-minh» trên thương-trường, và chính-trường Thế- giới.