NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Những tiến bộ gần đây của công nghệ sinh học trong mục tiêu cải tiến Y tế Việt Nam - TS Nguyễn Đức Thái

Lời mở đầu:

Chúng tôi đã điểm qua những tiến bộ và nỗ lực của Việt Nam trong việc xây dựng ngành công nghệ sinh học và xem ngành này là vấn đề ưu tiên trong quá trình hiện đại hóa đất nước. Thông tin trong bản báo cáo này dựa trên những cuộc bàn thảo gần đây của chúng tôi với các nhà nghiên cứu và các lãnh đạo tại các trường đại học và trung tâm nghiên cứu về lĩnh vực khoa học sức khỏe, vốn có ý nghĩa quan trọng đối với tương lai của ngành y sinh học tại Việt Nam.

Các quan điểm của chúng tôi xuất phát từ quá trình đào tạo và kinh nghiệm của chúng tôi trong lĩnh vực nghiên cứu y sinh học tại Mỹ và Nhật Bản và qua các mối quan hệ hợp tác với những nhà nghiên cứu sinh học tại Việt Nam kể từ đầu thập niên 1990. Một điều rõ ràng rằng, việc các nhà nghiên cứu Việt Nam tìm hiểu những vấn đề y học của nước mình qua việc sử dụng các công cụ công nghệ sinh học đa năng va tân tiến có ý nghĩa rất quan trọng va cần thiết. Bởi lẽ, các vấn đề y học ở Viet Nam từ lâu nay đã có nhiều tác động tiêu cực về chất lượng cuộc sống và hiệu suất làm việc của người dân.

Những vấn đề y tế đó bao gồm các bệnh dịch hằng năm và các loại bệnh mang tính đặc thù bộc phát từng địa phương; ngoài ra tác động do thay đổi môi trường và các hóa chất độc hại như dioxin và các chất ô nhiễm khác, đã làm gia tăng tỉ lệ mắc bệnh ung thư, khuyết tật ở trẻ sơ sinh và những bệnh về miễn dịch gồm cả bệnh tự nhiễm; còn có sự xuất hiện ngày càng nhiều trường hợp mắc bệnh tiểu đường, béo phì, bệnh tim ở nhiều dạng khác nhau do sự thay đổi quá nhanh về lối sống và chế độ ăn uống; vi khuẩn/virus có khả năng kháng thuốc điều trị lao phổi, bệnh sốt rét, viêm gan, HIV.

Việt Nam ngày càng nhận thức rõ vai trò quan trọng của công nghệ sinh học và lợi ích của nó qua những ứng dụng thành công tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là tại châu Á; các nhà nghiên cứu Việt Nam đã vượt qua nhiều trở ngại và rào cản trong những năm gần đây để xây dựng ngành công nghệ sinh học tại các trường đại học và các trung tâm nghiên cứu nhằm tạo một cơ sở hạ tầng về công nghệ vì một xã hội Việt Nam khỏe mạnh.

Mục đích của bản báo cáo này là nhằm đem lại thông tin căn bản và được cập nhật, cho thấy rằng công nghệ sinh học tại Việt Nam đang phát triển rất nhanh. Mặc dù báo cáo của chúng tôi chỉ tập trung vào những ứng dụng công nghệ sinh học trong chăm sóc y tế, nhưng báo cáo cũng đề cập đến những ứng dụng rộng rãi đang được đặc biệt quan tâm tại Việt Nam trong những lĩnh vực quan trọng như nông nghiệp và môi trường . Chúng tôi hoan nghênh những ý kiến đóng góp và nhận xét, đánh giá từ tất cả những ai cùng chia sẻ mục tiêu cải thiện hệ thống y tế tại Việt Nam qua con đường công nghệ sinh học.

Những đặc điểm và hiện trạng ngành công nghệ sinh học tại Việt Nam

Công nghệ gene và các nhánh khác của công nghệ sinh học vốn rất ít được biết đến tại Việt Nam vào đầu thập niên 1990 và lĩnh vực khoa học này được xem là một loại “hàng xa xỉ” tại các trường đại học Việt Nam. Tuy nhiên, cách nhìn nhận này đã dần có sự thay đổi, bắt đầu vào đầu những năm 2000 khi cơ hội được đào tạo và tiếp xúc với nền tri thức quốc tế được rộng mở. Việt Nam đã đạt được mục tiêu ban đầu của công nghệ sinh học, đó là học hỏi những kỹ thuật của thế giới mà có thể đưa ứng dụng trong thực tiễn.

Những thí nghiệm đầu tiên với kỹ thuật phản ứng khuyết đại gene PCR (polymerase chain reaction - PCR là một kỹ thuật phổ biến trong sinh học phân tử nhằm tạo ra nhiều bản sao một đoạn DNA mà không cần sử dụng các sinh vật sống như E. coli hay nấm men. PCR được sử dụng trong các nghiên cứu sinh học và y học phục vụ nhiều mục đích khác nhau, như phát hiện các bệnh di truyền, nhận dạng, chẩn đoán những bệnh nhiễm trùng, tách dòng gene và xác định huyết thống) được thực hiện bởi một nhóm nhà nghiên cứu thuộc Đại học Y Dược TP.HCM với người phụ trách là Giáo sư Đỗ Đình Hồ và cộng sự Phạm Hung Vân cùng với sự hỗ trợ từ các đồng nghiệp tại Đại học California ở San Francisco (Mỹ). Những nỗ lực của nhóm nghiên cứu đã giúp đưa kỹ thuật PCR được ứng dụng một cách rộng rãi, không chỉ ở các bệnh viện và các trung tâm nghiên cứu tại các thành phố lớn mà thậm chí ở các vùng sâu vùng xa của Việt Nam.

Bộ dụng cụ PCR và các công cụ chẩn đoán khác giúp tìm ra mầm bệnh gây ra các căn bệnh ở người cũng như ở vật nuôi. Các dụng cụ PCR đáp ứng tiêu chuẩn ISO hiện được sản xuất bởi nhiều công ty công nghệ sinh học, chủ yếu tại TP.HCM, vốn là thành phố năng động về kinh tế của Việt Nam. Những công ty này bao gồm Công ty TNHH Nam Khoa (Nam Khoa Biotech), vốn là đơn vị đi tiên phong và cũng là một nhà cung cấp chính dụng cụ PCR và Công ty TNHH Công nghệ Sinh học Khoa Thương (Khoa Thuong Biotech).

Có nhiều công nghệ phức tạp để chẩn đoán dựa trên phân tích DNA hiện đang được Công ty Dược phẩm Domesco (Đồng Tháp) xúc tiến triển khai. Công trình này do một nhà khoa học của GeneProbe Inc. (San Diego, California) chịu trách nhiệm chính. Để tạo ra những bước tiến nhanh chóng, các công ty Việt Nam đang bắt tay với các đối tác nước ngoài nhằm xây dựng các kỹ thuật chip sinh học nhằm hỗ trợ việc chẩn đoán nhiều loại gene ở những căn bệnh quá phức tạp. Việc ứng dụng rộng rãi công nghệ sinh học trong chẩn đoán còn bao gồm cả nghiên cứu hệ protein học (proteomics) tại Viện Công nghệ Sinh học và Học viện Quân Y ở Hà Nội. Cả hai trung tâm này, cùng với một số đơn vị khác, được trang bị đầy đủ về cơ sở vật chất, có thể thực hiện các nghiên cứu công nghệ sinh học sâu rộng. Các cơ sở vật chất phòng thí nghiệm trị giá lên tới hàng triệu USD, như GC-Mass spectrometry (Phương pháp Sắc ký khí kết hợp với Khối phổ), hệ thống microarray, PCR thời gian thực, máy FACS (Fluorescence Activated Cell Sorting) và kính hiển vi điện tử có độ phân giải cao… Kỹ thuật ELISA (Enzyme-Linked Immuno absorbent Assay) để chẩn đoán và phát hiện nhanh các chất độc trong thực phẩm cũng đã được đưa vào áp dụng. Khách hàng của các công ty này bao gồm bệnh viện, doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức chính phủ. Một trong số đó là Trung tâm Medic ở TP.HCM. Trung tâm này có một phòng thí nghiệm chẩn đoán quy mô lớn để phục vụ nhu cầu của khoảng 8 triệu người dân TP.HCM. Ngoài các hệ thống hoàn toàn tự động sử dụng công nghệ sinh hóa, trung tâm Medic còn có cả chẩn đoán DNA qua việc lấy mẫu máu, dịch tuỷ cột sống và sinh thiết.

Nhìn vào bức tranh lớn tại Việt Nam, chúng ta có thể thấy một niềm khát vọng lớn lao muốn bắt kịp những kỹ thuật tiên tiến của thế giới và ứng dụng sâu rộng hơn công nghệ sinh học vào thực tế đời sống. Các trung tâm nghiên cứu mới đang ấp ủ nhiều kế hoạch. Nhiều trung tâm đặt ra mục tiêu phát triển các sản phẩm công nghệ sinh học để điều trị các căn bệnh như ung thư, tiểu đường…

Sau gần 10 năm hoạt động, Công ty NanoGen Inc. thuộc Khu công nghệ cao TP.HCM đã sản xuất hàng loạt những dược phẩm sinh học có gía trị kinh tế và trị liệu rất cao gồm những Interferon đa dòng và những phân tố cytokines tác động chuyên biệt trên hệ miễn dịch có khả năng trị những bệnh hiểm nghèo do siêu vi và ung thự. Ngòai ra NanoGen cũng sẽ mang đến cho thị trường Việt Nam và quốc tế những kháng thể đơn dòng (mAb) để điều trị bệnh ung thư; mAb đôi khi được xem như là liệu pháp đặc thù vì chúng sử dụng phương pháp sinh học phân tử đăc hiệu để tiêu diệt các tế bào ung thư.

Kháng thể đơn dòng (mAb) của NanoGen được mô phỏng theo sản phẩm của những đại công ty Hoa Ky như Genentech, Amgen Inc. gồm Avastin và Rutaxin (được dùng để điều trị các loại khối u khác nhau và căn bệnh ung thư máu). Ngoài ra, hócmon peptide tái tổ hợp (cytokine) cũng đang được sản xuất. Tiến sĩ Hồ Nhân, CEO của NanoGen, là một nhà sinh học được đào tại tại Mỹ. Nhóm của ông gồm hơn 100 nhà nghiên cứu và những cộng sự tốt nghiệp từ các trường đại học Việt Nam và trong một số trường hợp đã được đào tạo từ vài tháng đến 2 năm tại các phòng thí nghiệm ở Hàn Quốc, Singapore và Úc. Điều này cho thấy, những người tốt nghiệp từ các trường đại học Việt Nam hoàn toàn có đủ khả năng tiếp thu và phát triển những kỹ thuật tiên tiến nhất về nhân bản gene, tổng hợp protein.

Kháng thể đơn dòng (mAb) của NanoGen sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến việc điều trị ung thư tại Việt Nam. Trước đây, vì chi phí nhập khẩu mAb quá cao, nên chúng không có mặt thậm chí tại các bệnh viện lớn như Bệnh viện Chợ Rẫy (TP.HCM) và các bác sĩ ở Trung tâm Ung thư TP.HCM cũng hiếm khi điều trị bệnh nhân theo phương pháp mAb thậm chí khi họ biết rằng điều trị bằng phương pháp này trong lúc ấy là cần thiết. Những bệnh nhân có tiền thường ra nước ngoài như sang Singapore hoặc các nước châu Âu để được điều trị bằng phương pháp mAb. Vì thế, đây là điều đáng tự hào khi chúng ta có được mAb hoàn toàn được sản xuất tại Việt Nam.

Tổng hợp vaccine cũng đã phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam trong nhiều năm qua. Công nghệ này được phát triển từ công trình nghiên cứu quốc tế của nhà vi khuẩn học người Pháp Alexandre Yersin (1863-1943), vốn đã đến Việt Nam vào năm 1890. Viện Nghiên cứu Vaccine (IVAC) tại Nha Trang là một trung tâm nghiên cứu và sản xuất chuyên về lĩnh vực này và quy trình tổng hợp và sản xuất vaccine đã được Tổ chức UNICEF hỗ trợ vốn kể từ đầu thập niên 1980. Trong nhiều thập niên qua, IVAC đã là nhà cung cấp chính các vaccine đạt tiêu chuẩn GMP để phòng chống các căn bệnh phổ biến trong đó có lao phổi, uốn ván, bạch hầu, viêm gan, thương hàn, cúm và các vết rắn cắn, phục vụ cho nhu cầu của người dân Việt Nam (dân số hơn 80 triệu người).

Một trung tam vaccine cũng vừa mới được xây dựng hoàn tất vào năm ngoái nhằm đối phó với chủng cúm virus mới H1N1 (sử dụng công nghệ nuôi cấy dựa trên phôi của trứng gà) và các loại bệnh dịch trong tương lai. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tài trợ cho việc xây dựng và đầu tư trang thiết bị cho trung tâm mới, có khả năng sản xuất vài triệu liều vaccine trong vòng 6 tháng. Điều đáng chú ý là chi phí xây dựng chỉ vào khoảng 4 triệu USD, thấp hơn nhiều so với chi phí xây dựng một khoa mới tương tự ở phương Tây hoặc ở các quốc gia Đông Nam Á khác.

Công nghệ vaccine mới cũng đã thu hút nhiều sự quan tâm trong thời gian gần đây. Năm ngoái, Viện Pasteur TP.HCM đã giới thiệu công nghệ nuôi cấy dựa trên tế bào để sản xuất ra vaccine. Cụ thể là sử dụng các tế bào Vero để tổng hợp nên vaccine H1N1. Công nghệ này có một số ưu điểm so với phương pháp nuôi cấy dựa trên trứng gà vì thời gian sản xuất vaccine được rút ngắn hơn rất nhiều, hiệu quả kinh tế cao hơn và an toàn hơn. Các nhà nghiên cứu tại Viện Pasteur cũng đã ứng dụng công nghệ sinh học để nâng cao tính hiệu quả và khả năng ứng dụng rộng rãi của vaccine tại Việt Nam.

Kỹ thuật di truyền ngược (reverse genetics - một thuật ngữ được sử dụng trong ngành virus học phân tử để chỉ việc tạo ra virus từ cDNA tách dòng) cũng đã được ứng dụng thành công tại Vabiotech (Hà Nội) để tổng hợp ra vaccine tái tổ hợp Viêm gan B (một tỉ lệ lớn người Việt Nam mang loại virus này và có nguy cơ cao phát triển thành ung thư gan) và viêm não Nhật Bản.

Việt Nam cũng đã bắt đầu chú ý đến việc ứng dụng công nghệ sinh học để phát triển các phương pháp điều trị mới. Nghiên cứu tế bào gốc đã được nhiều nhà khoa học tại miền Bắc và miền Nam Việt Nam quan tâm phát triển. Trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều nhóm nghiên cứu tế bào gốc và các phòng thí nghiệm của họ được trang bị đầy đủ các thiết bị nuôi cấy mô và FACS. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu hiện tại đều ở giai đoạn sơ khai, chủ yếu là thu thập, nhân lên và phân biệt các dòng tế bào gốc. Ở miền Bắc, các tổ chức quan tâm đến việc nghiên cứu tế bào gốc có Đại học Y Hà Nội, Học viện Quân Y, Viện Công nghệ Sinh học, Khu công nghệ cao Hòa Lạc và các phòng thí nghiệm của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) và Bộ Khoa học và Công nghệ (MOST). Nhiều trong số các tổ chức này đã phối hợp với các phòng thí nghiệm nghiên cứu ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Mỹ và những nơi khác.

Trong giai đoạn đầu tiên của nghiên cứu tế bào gốc có sự hỗ trợ từ phía Singapore thông qua Tiến sĩ Phan Toàn Thắng, một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực tế bào gốc. Hiện TS. Thắng đang điều hành một công ty công nghệ sinh học tại Singapore chuyên về công nghệ tách tế bào gốc từ dây cuống rốn. Tại TP.HCM, kế hoạch xây dựng một trung tâm nghiên cứu hiện đại về y học tái sinh (regenerative medicine) trong đó có tế bào gốc cũng đang được triển khai.

Thạc sĩ Phan Kim Ngọc thuộc Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM là người đã đi tiên phong trong việc tạo ra các dòng tế bào gốc phôi người, nhằm thực hiện các nghiên cứu lâm sàng và điều trị cho bệnh nhân. Ông cũng đã nghiên cứu việc tách tế bào gốc từ sinh thiết của các bệnh nhân ung thư sử dụng các marker (dấu ấn) kháng thể đặc biệt; những tế bào này được phân loại là các tế bào ung thư (Cancer Stem Cell- CSC) và công trình này đang ở giai đoạn nghiên cứu tế bào gốc trên phạm vi thế giới. Nhóm của TS Ngọc đang tìm hiểu các đặc điểm gây ra ung thư của các tế bào này, nhằm tìm ra cách điều trị ung thư mới. Các dự án này đã đặt ra nền tảng cho việc thương mại hóa tế bào gốc trong tương lai tại Việt Nam. Hiện TS. Ngoc voi su co van cua Giáo sư Trương Đình Kiệt đang thành lập một công ty ve tế bào gốc o Khu Cong Nghe Cao, trong do co su hop tac chuyen mon va tai chanh tu Uc Chau.

Ngoài công trình nghiên cứu của mình, TS. Ngoc và các cộng sự của ông đã xuất bản nhiều cuốn sách giáo khoa về các kỹ thuật phòng thí nghiệm và nghiên cứu tế bào gốc để đẩy mạnh việc nghiên cứu tế bào gốc tại Việt Nam. Với những bước đột phá trong các liệu pháp gene của Trung Quốc và được phát triển mạnh ở các nước khác, năm ngoái Trung tâm Liệu pháp Gene Việt Nam đã được thành lập tại Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội).

Việc nghiên cứu công nghệ nano, mà có mối liên quan chặt chẽ với công nghệ sinh học, cũng đã bắt đầu có được chỗ đứng vững chắc trong nhiều trung tâm nghiên cứu. Đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê thuộc Khu công nghệ cao TP.HCM trong việc sản xuất ra các hạt nano (nanoparticle) ứng dụng trong việc phân tách và tinh lọc gene.

Chúng tôi nhận thấy rằng, không giống như các công ty công nghệ sinh học tại các quốc gia công nghiệp hóa, vốn thường thất bại khi kinh phí nghiên cứu cạn kiệt, các nhóm nghiên cứu công nghệ sinh học tại Việt Nam thường tỏ ra khá bền bĩ khi vấp phải khó khăn tài chính và các trở ngại khác. Thực tế, nhiều tổ chức nghiên cứu tại Việt Nam có nguồn thu từ việc đưa các sản phẩm ra thị trường, mặc dù không phải là sản phẩm công nghệ cao, nhưng chúng mang lại lợi ích thiết thực cho xã hội . Một phòng nghiên cứu ung thư hoàn toàn có thể đưa ra thị trường các loại dược thảo trong khi họ đang nghiên cứu hệ gene học và hệ protein học trong lĩnh vực sinh học ung thư; hay một trung tâm công nghệ sinh học khác có thể sản xuất ra thuốc trừ sâu sinh học và cây phong lan được lai tạo cho các nông dân trong khi họ đang xây dựng một cơ sở trị giá 100 triệu USD về nghiên cứu sinh vật biến đổi gen (Genetically Modified Organism – GMO).

Việc thành lập Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học tại Hà Nội thời gian gần đây là một minh chứng cho thấy sự tận tâm và bền bĩ của các nhà khoa học Việt Nam. Viện ra đời từ công trình nghiên cứu của một nhóm nghiên cứu nhỏ do Giáo sư Nguyễn Lân Dũng đứng đầu. Nhóm của ông trong nhiều năm qua đã thu thập hàng ngàn vi khuẩn trong môi trường tự nhiên tại Việt Nam. Sự thành công của họ có được là kết quả của sự đam mê nghiên cứu vì ban đầu họ chỉ nhận được sự hỗ trợ tài chính khá khiêm tốn từ Chính phủ. Hiện tại, các nhà nghiên cứu của Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học đang áp dụng công nghệ sinh học hiện đại, gồm nhân bản gene, biểu thị gen và công nghệ lên men (fermentation) nhằm tìm kiếm những vi khuẩn có khả năng chữa bệnh từ những mẫu đã thu thập được, lập nền tảng cho việc sản xuất ra các loại thuốc mới.

Phương thức “dựa vào chính mình” của các nhà nghiên cứu Việt Nam có lẽ xuất phát từ truyền thống kỷ luật cao và tự dựa vào sức mình là chính trong suốt các cuộc kháng chiến trường kỳ giành độc lập dân tộc. Các nhà nghiên cứu Việt Nam nhận thức rất rõ vai trò của những tiến bộ công nghệ sinh học trên thế giới và nhiều trung tâm công nghệ sinh học Việt Nam đã tìm kiếm sự hỗ trợ quốc tế phục vụ cho sự nghiệp phát triển ngành công nghệ sinh học. Theo chúng tôi được biết, Hiệp hội Sinh học phân tử châu Á – Thái Bình Dương (A-IMBN) đã kết nạp Việt Nam làm thành viên chính thức. Đây là đơn vị đã tổ chức các khóa đào tạo và hội thảo cho Việt Nam trong nhiều năm qua và Trung tâm Công nghệ sinh học TP.HCM là đơn vị đã đứng ra tổ chức Hội nghị A-IBMN hằng năm lần thứ 8. Global Health Sciences (GHS) thuộc Đại học California ở San Francisco (UCSF) cũng đã mời Việt Nam tham gia hợp tác cùng với một số nhóm nghiên cứu được tuyển chọn rất kỹ. De khuyen khich va ho tro viec phat trien cong nghe chuan doan, Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ cho Việt Nam 3 triệu USD với sự tham gia của Đại học Y Dược TP.HCM voi phan huan luyen ky thuat cua dai hoc UCSF Hoa Ky.

Cũng có nhiều dự án hợp tác quốc tế tại Việt Nam về nghiên cứu, điều tra các căn bệnh mãn tính, cấp tính, những loại bệnh dịch và mang tính đặc thù địa phương, cũng như những căn bệnh chưa gặp từ trước đến nay do sự kết hợp của nhiều yếu tố phức tạp về môi trường, biến đổi gen hay chế độ dinh dưỡng. Thấy được những đối tượng nghiên cứu đầy tiềm năng này của Việt Nam, một nhóm nghiên cứu, đứng đầu là Giáo sư Jeremy Farrar, đã thành lập Cơ sở Nghiên cứu Lâm sàng Oxford phối hợp cùng với Bệnh viện Nhiệt đới TP.HCM để tìm hiểu những căn bệnh dựa trên những nghiên cứu về các mẫu bệnh lý, các nhóm đối tượng tại các địa phương của Việt Nam. Nhóm Oxford và các cộng sự người Việt Nam đã có được những phát hiện quan trọng trong quá trình nghiên cứu của mình, đã được thể hiện trong hơn 100 bài viết các loại trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế trong gần 10 năm qua. Những sự hợp tác quốc tế như vậy đã mang lại sức ảnh hưởng rất lớn. Chính phủ Việt Nam kể từ đó đã tham gia vào nhiều chương trình đồng tài trợ với các quốc gia công nghiệp hóa về giáo dục và nghiên cứu, ngoài các chương trình hỗ trợ vốn ODA Nhật Bản hoặc VEF (Quỹ Giáo dục Việt Nam) của Mỹ.

Những năm gần đây cũng đã chứng kiến những nỗ lực thúc đẩy sự tham gia của các doanh nghiệp trong lĩnh vực khoa học tại Việt Nam và có vẻ như chính sách phát triển khoa học của Chính phủ đang bắt kịp với các xu hướng kinh doanh, vốn bắt đầu xuất hiện vào cuối thập niên 1980. Nhận thấy tầm quan trọng của sự độc lập và tính sáng tạo trong khoa học, Chính phủ đã đưa ra các chính sách cho phép hầu hết các trung tâm nghiên cứu được hoạt động theo chương trình mà họ đặt ra, các dự án của họ nhận được nguồn vốn hỗ trợ từ chính phủ thông qua một chương trình cấp vốn.

Các khu khoa học công nghệ, kiểu như mô hình thu nhỏ của Thung lũng Silicon tại Mỹ, cũng đã mọc lên. Khu công nghệ cao TP.HCM là một ví dụ. Khu công nghệ này đã thu hút hàng tỉ USD vốn đầu tư từ Intel cùng với các hợp đồng ký với Nidec Inc., Sion Ltd. (Nhật Bản) và nhiều công ty khác trong lĩnh vực công nghệ thông tin, máy tính và tự động hóa trên toàn thế giới. Tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc (Hà Nội), chương trình phát triển công nghệ sinh học đã bắt đầu cho thấy sự tiến triển đáng kể trong cả nghiên cứu và sản xuất. Năm 2010, Chính phủ sẽ dành ra khoản ngân sách hơn 500.000 triệu USD cho nghiên cứu và phát triển khoa học và các trung tâm công nghệ sinh học đang ngày càng thu hút nhiều dòng vốn rót vào nhờ những tiến triển trong công trình nghiên cứu của họ. Mặc dù, số vốn của Chính phủ vẫn còn khiêm tốn so với mức ngân sách của các quốc gia phương Tây, nhưng nếu xem xét việc một nhà nghiên cứu có chuyên môn cao tại nhiều trung tâm nghiên cứu tại Việt Nam nhận được mức lương hàng tháng 500 USD hoặc thấp hơn thì có thể thấy rằng đây là một nguồn vốn chính nếu được chi tiêu một cách khôn ngoan.

Ngoài ra, các hội nghị, hội thảo và diễn đàn hoàn toàn được tự do trao đổi ý kiến và hoan nghênh mọi sự hỗ trợ, hợp tác. Hiện nay, hoàn toàn dễ dàng tìm thấy trên sách báo, Internet những bài viết phê bình về vấn đề nâng cao công tác tổ chức khoa học tại Việt Nam và yêu cầu cần có sự hỗ trợ hơn nữa trong việc nghiên cứu và phát triển. Mặc dù sẽ mất nhiều thời gian và công sức từ cả phía Chính phủ và cộng đồng khoa học mới có thể tạo ra những thay đổi tích cực theo như góp ý của các nhà phê bình, nhưng không khí thảo luận cởi mở đang là một động lực cho sự hợp tác khoa học và tính sáng tạo tại các trường đại học và trung tâm nghiên cứu tại Việt Nam.

Vì Việt Nam phải trải qua nhiều thử thách và cam go trong con đường hiện đại hóa đất nước sau chiến tranh, nên quá trình phát triển khoa học cũng khác với nhiều quốc gia láng giềng. Mặc dù chúng tôi tôn trọng những kiến nghị của ông Thomas Vallely và Ben Wilkinson thuộc Trường Đại học Stanford Kennedy về việc nâng cao công tác tổ chức và chuẩn hóa cho ngành giáo dục và khoa học Việt Nam, nhưng quan điểm của họ cho rằng việc nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam là nhỏ bé và đình trệ là một đánh giá đầy thất vọng đối với các nhà khoa học Việt Nam và các cộng sự nước ngoài của họ.

Con số chưa tới 100 bài viết trên các tạp chí năm 2007 của VAST và các đại học quốc gia Việt Nam, theo như họ nói, là không thực sự phản ánh được sự năng động và năng lực của các nhà nghiên cứu Việt Nam. Họ cũng đã không đề cập đến những nhóm cũng góp phần đáng kể trong quá trình nghiên cứu như Đại học Y Hà Nội, mà tại đó, Giáo sư Tạ Thành Văn và các cộng sự đã có nhiều bài viết quan trọng, một số được đăng trên những tạp chí danh tiếng như Nature, Science. Tương tự, Bệnh viện Nhiệt đới TP.HCM cũng đã có lượng bài viết đáng kể với sự hợp tác của Đại học Oxford. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu từ Việt Nam đến thăm các trung tâm nghiên cứu tại nhiều quốc gia công nghiệp hóa cũng đã viết những bài đóng góp có ý nghĩa trong công trình nghiên cứu của họ.

Thực tế, các bài viết không trực tiếp làm nên sự thành công của các ứng dụng công nghệ. Chẳng hạn, Việt Nam là quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới trong nhiều năm. Mặc dù Viện Nghiên cứu Lúa Việt Nam không hề xuất bản các nghiên cứu của họ như nhiều nước khác trên thế giới, nhưng vai trò đóng góp của Viện là rất lớn.

Tóm lại, sự tiến bộ trong công nghệ sinh học tại Việt Nam có thấy rõ qua sự xuất hiện của ngày càng nhiều trung tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây, qua những thiết bị phức tạp và công nghệ được nghiên cứu phát triển, qua những hoạt động nghiên cứu sâu rộng và hiệu quả hoạt động của các trung tâm này. Có thể nói, sự tiến bộ này đang đem đến những cơ hội phát triển hơn nữa trong việc nâng cao ứng dụng công nghệ sinh Việt Nam.

Chúng tôi nhận thấy rằng, phát triển công nghệ sinh học là một nhiệm vụ không hề đơn giản vì nó đòi hỏi sự tham gia của nhiều chuyên gia và cần nhiều nguồn lực mới có thể đạt được kết quả cao trong nghiên cứu và phát triển. Là một quốc gia mới tham gia vào sân chơi công nghệ sinh học, Việt Nam sẽ còn đối mặt với nhiều thách thức hơn nữa trong tương lai như việc xây dựng cơ sở hạ tầng vững mạnh, đẩy mạnh nguồn vốn trong nước và quốc tế, tăng cường các mối quan hệ hợp tác quốc tế và các liên doanh đầu tư, nâng cao hiệu quả của các nhóm teamwork (làm việc theo nhóm) trong nước, phát triển một hệ thống nghiên cứu dựa trên thông tin thông qua các tạp chí chuyên ngành và tham gia mạng lưới thông tin quốc tế.

Chúng tôi nhận thấy, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể cần thiết cho việc tạo ra một môi trường nghiên cứu phát triển công nghệ sinh học đạt tiêu chuẩn quốc tế. Điều quan trọng hơn là Việt Nam đang sở hữu những giá trị nội tại và nguồn lực để phát triển ngành công nghẹ sinh học trở thành một thế lực chính trong công cuộc hiện đại hóa đất nước.

Đặc biệt, trong nghiên cứu y học, truyền thống lâu đời về thực hành y và những bộ óc tài giỏi là những yếu tố đảm bảo rằng Việt Nam hoàn toàn có thể tiếp thu những tiến bộ trong ngành công nghệ sinh học để đương đầu với những thách thức trong tương lai. Các nhà nghiên cứu Việt nam hiện có nhiều cơ hội để thực hiện công việc nghiên cứu trong nước mà có thể đưa họ đến với những phát hiện có giá trị, từ đó có những ứng dụng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề y tế của Việt Nam, cũng như đối với cộng đồng khoa học thế giới.

Tài liệu tham khảo:

Dưới đây là một số tài liệu tham khảo và hình ảnh liên quan đến các đề tài đã được thảo luận ở trên. Người đọc có thể tìm thông tin chi tiết từ các website bên dưới hoặc qua tìm hiểu trên internet.

- TS Chris Tan (2005), “Science Star over Asia” (Tạm dịch: Ngôi sao khoa học tại châu Á), đăng trên tạp chí PloS Biology, Cuốn 3, Số báo 9.

- TS Nguyễn Đức Thái và GS Đỗ Đình Hồ (2005) cùng chia sẻ quan điểm về sự phát triển của khoa học sinh học Việt Nam, trình bày tại Hội nghị A-IMBN lần 8, tại TP.HCM.

- GS Nguyễn Lân Dũng (2009), VietSciences, ngày 8.12.2009 .

- Thomas Vallely, Ben Wilkinson (2008), “Vietnamese Higher Education: Crisis and Response” (tạm dịch:Giáo dục bậc cao Việt Nam: Khủng hoảng và Phản ứng).

- TS Neal Koblitz (2009), “A Second Opinion by An American on Higher Education in Vietnam” (tạm dịch: Suy nghĩ khác của một người Mỹ về giáo dục bậc cao tại Việt Nam), Khoa Toán học, Đại học Washington, Seattle, Mỹ.

- Các trung tâm nghiên cứu công nghệ sinh học Việt Nam: www.pasteur-hcm.org.vn, http://www.vinastemcelllab.com/, www.biotechvnu.edu.vn, www.vmmu.edu.vn, www.hmu.edu.vn, www.vietnamgenetherapy.com, www.shtpvn.com, http://www.ibt.ac.vn/, http://www.vast.ac.vn/, http://www.most.gov.vn/, www.tropicalmedicine.ox.ac.uk/viet-nam, www.htdhcmc.vn

- Các công ty công nghệ sinh học Việt Nam: www.nanogenpharma.com, www.ivac.com.vn, www.vabiotechvn.comhttp://www.nk-biotek.com.vn/, http://www.medic.com.vn

- Hợp tác quốc tế: www.a-imbn.org, http://www.globalhealthsciences.ucsf.edu/, http://www.oucru.org

Lời cảm tạ :

Chúng ta chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè Việt nam và quốc tế đã đóng góp ý kiến, để tài liệu của chúng tôi được chi tiết và cập nhật những thông tin mới nhất về quá trình phát triển công nghệ sinh học tại Việt Nam. Chúng tôi cảm ơn các đồng nghiệp đã cho phép chúng tôi sử dụng hình ảnh và thông tin về các chương trình nghiên cứu của họ tại đây. Chúng tôi cũng xin cảm ơn Giáo sư Neal Koblitz vì đã chỉnh sửa lại tài liệu này. Chúng tôi hiểu được rằng các công trình được trình bày ở đây chỉ là một phần trong một chuỗi các sự kiện phát triển công nghệ sinh học tại Việt Nam và hy vọng rằng sẽ có nhiều cơ hội hợp tác trong tương lai để việc nghiên cứu được kỹ hơn.