NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Làm sao để ngân hàng không đánh bạc trên tiền gửi của người dân, để Doanh Nghiệp Nhà Nước không vay nợ trên uy tín quốc gia...

Giáo sư David Dapice được coi như một chuyên gia hàng đầu về chính sách kinh tế Việt Nam với 21 năm nghiên cứu về Việt Nam. Ông cũng từng là giáo viên hướng dẫn cho nhiều cán bộ của Việt Nam trong thời gian họ học ở Harvard, là tác giả của rất nhiều nghiên cứu tình huống phân tích về kinh tế Việt Nam, là đồng tác giả của hai báo cáo mới nhất gây xôn xao dư luận của Harvard về kinh tế Việt Nam: "Lựa chọn thành công" và "Vượt qua khủng hoảng và tiếp tục đẩy mạnh cải cách".

Điều chỉnh chính sách đúng , Việt Nam có thể lạc quan hơn

Đọc phân tích của Harvard về kinh tế , người ta thấy Harvard nhìn bi quan hơn so với World Bank, ADB và nhiều tổ chức khác ?

Có thể, chúng tôi đã bỏ qua những điều từ phía sáng, hoặc cũng có thể họ đã bỏ qua vài thứ từ phía tối.

Tất nhiên là chúng tôi đến đây đã 20 năm, không giống như một số ngân hàng hoặc tổ chức tài chính chưa từng hoặc mới đến Việt Nam. Chúng tôi có cơ hội nói chuyện với nhiều người Việt Nam hơn qua những lần tiếp xúc khác nhau.

Hơn thế, chúng tôi, với tư cách hoàn toàn độc lập, thường nhìn nhận vấn đề một cách khách quan với quan điểm phê phán trên tinh thần xây dựng. Những phân tích của chúng tôi thường cố gắng lột tả bức tranh đúng bản chất của nó từ đó giúp Việt Nam tìm ra những chính sách và giải pháp thiết thực để làm cho nó sáng lên.

Nếu cứ nói Việt Nam có triển vọng dài hạn một cách chung chung mà không chỉ ra được triển vọng đó dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào được khai thác và sử dụng một cách hợp lý, hay dựa vào một đội ngũ nhân lực có chất lượng cao được tạo từ một hệ thống giáo dục tốt như điều mà Nhật Bản hay Hàn Quốc có được cách đây gần 50 năm, hay một lực lượng doanh nghiệp nhiều tiềm năng được chuẩn bị kỹ lưỡng và có sự liên kết chặt chẽ như Đài Loan trước đây thì đó không phải là cách tiếp cận của chúng tôi.

Những người khác nhấn mạnh về tầm nhìn tích cực trong dài hạn, mà bản thân tôi cũng lạc quan nhưng tôi nhấn mạnh hơn tới những thách thức, khó khăn nếu các chính sách không được điều chỉnh.

Tiềm năng khó có thể biến thành hiện thực nếu những những vấn đề hiện tại không được điều chỉnh để chúng đi đúng hướng. Nếu các chính sách đang được điều chỉnh một cách hợp lý, thì chúng ta đúng là có thể lạc quan hơn.

Được biết, trong phân tích gần đây, các ông đã nhận định Việt Nam có thể xem tình hình kinh tế hiện nay là đã trong khủng hoảng. Tại sao ? Liệu có quá bi quan về Việt Nam không ?

Thứ nhất, lý do mà chúng tôi khuyến cáo tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay đã trong khủng hoảng là do đối chiếu với những cuộc khủng hoảng đã xảy ra ở các nước khác trước đây thì tình hình ở Việt Nam là tương tự. Như tôi đã nói ở trên, chúng tôi muốn lột tả bức tranh một cách chân thực để giúp Chính phủ Việt Nam có thể đưa ra những chính sách phù hợp ứng phó với tình hình hiện tại.

Trong tình huống này, chúng tôi cũng làm như vậy, nếu gọi khác đi, phương thuốc bị chọn sai thì tình hình sẽ càng trầm trọng hơn.

Thứ hai, tình hình tiếp theo sẽ như thế nào tùy thuộc vào việc phản ứng chính sách của Việt Nam. Nếu làm tốt, Việt Nam có thể phát triển thậm chí mạnh mẽ hơn trước. Nhưng cũng không loại trừ khả năng các bạn phản ứng chưa tốt, dẫn tới đẩy kinh tế vào cảnh gặp nhiều khó khăn.

Cho đến thời điểm này, sau những khuyến nghị của nhóm Harvard và nhiều tổ chức quốc tế, ông thấy Chính phủ Việt Nam đã phản ứng đủ mạnh hay chưa ?

Chính phủ đã có một số bước đi tốt. Chính sách tiền tệ của VN hiện đang đúng hướng và có tác động đến việc chống lạm phát, nhưng nếu để để thâm hụt thương mại lớn, bạn sẽ lâm vào tình thế khó khăn ngay cả nếu chính sách tiền tệ được thực hiện tốt.

Ngoài việc xem xét cắt giảm chi tiêu trong và ngoài ngân sách, có lẽ Việt Nam cần có những chuyển động mạnh hơn trong chính sách tài khóa. Trong đó hiệu quả của các khoản đầu tư nên được xem là tiêu chí quan trọng nhất.

Đảm bảo ngân hàng không "đánh bạc" trên tiền gửi của dân

Trong cuộc thảo luận, các chuyên gia đặc biệt lưu ý tới bức tranh các ngân hàng. Cá nhân ông nhìn thấy gì trong bức tranh đó ?

Đối với khu vực ngân hàng, tính đến năm 2006, theo tôi, Việt Nam đã có những cải cách khá tốt. Sau cú vấp hợp tác xã tín dụng vào những năm cuối thập niên 1990, Việt Nam đã triển khai một tiến trình cải cách và mở cửa hệ thống ngân hàng thận trọng hơn và đã có được những sự tiến triển nhất định.

Ví dụ cơ cấu thị phần giữa các loại hình ngân hàng ngày một cân đối hơn và các ngân hàng được cạnh tranh trên một sân chơi bình đẳng hơn. Đây chính là những tiền đề quan trọng để có một hệ thống ngân hàng mạnh, đóng góp tích cực cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Tuy nhiên, vấn đề cơ bản của Việt Nam trong thời gian qua là tiến trình cải cách ngân hàng trung ương, cải cách cơ quan giám sát, cũng như việc xây dựng và thực thi các công cụ giám sát hệ thống ngân hàng chậm hơn tiến trình mở cửa và tự do hóa.

Nói một cách ví von là chiếc xe được tăng tốc ngày một nhanh hơn, nhưng hệ thống phanh an toàn không được trang bị tương ứng nên tiềm ẩn rủi ro là rất lớn.

Vấn đề nêu trên đã tồn tại từ lâu, nhưng những khó khăn, yếu kém vẫn chưa bộc lộ cho đến thời gian gần đây khi mà các ngân hàng có tốc độ tăng trưởng quá nhanh, nhất là các ngân hàng quy mô nhỏ. Những ngân hàng này đã cho vay tới 50% hay gần như thế trong năm ngoái, khi mà chứng khoán và thị trường bất động sản bùng nổ.

Hiện tại, thị trường chứng khoán đã giảm 60%, còn thị trường bất động sản cũng khó khăn hơn. Nhiều người vay ngân hàng để đầu tư chứng khoán và bất động sản chắc không dễ trả nợ cho những ngân hàng đó.

Nếu không có giải pháp kịp thời thì các ngân hàng có xu hướng trở thành kẻ "đánh bạc" hơn là một nhà ngân hàng, vì họ sẽ phải cố cho vay những khoản vay mạo hiểm để cố thu tiền về.

Ở các thị trường thông thường, các doanh nghiệp lớn thường là những người có trọng lượng hơn trong việc quyết định giá ( mà ở đây là lãi suất ), nhưng điều ngược lại có vẻ như đang xảy ra ở Việt Nam khi chính các ngân hàng nhỏ và có vẻ như đang gặp khó khăn lại là người dẫn đầu trong cuộc đua lãi suất hiện nay.

Nếu những vấn đề nêu trên là sự thực, thì cần sát nhập những ngân hàng đó với những ngân hàng vững chắc hơn. Điều này thì nhiều quốc gia đã làm.

Hiện Việt Nam có khoảng hơn 80 ngân hàng thương mại. Ông đánh giá về sự bùng nổ ngân hàng này ?

Như đã đề cập ở trên, tôi lo lắng nhiều hơn về vấn đề giám sát các ngân hàng, hơn là vấn đề lập các ngân hàng mới. Vẫn có thể cho thành lập các ngân hàng mới nhưng nếu nó hoạt động hiệu quả. Còn nếu nó có nhiều khoản nợ xấu, thì là có vấn đề.

Vấn đề theo tôi là các bạn cần chắc chắn là các ngân hàng thương mại là vững chắc, và không đánh bạc trên tiền gửi của người dân. Tôi lo là một số ngân hàng, nhất là mới thành lập đang trong tình trạng không tốt, và cần được giám sát cẩn trọng.

Để giám sát và vận hành tốt hệ thống ngân hàng cần phải có một ngân hàng trung ương mạnh, một cơ quan giám sát với các công cụ tốt và khả năng thực thi cao.

Xét theo khía cạnh thông thường ít ngân hàng sẽ dễ giám sát hơn. Tuy nhiên, việc muốn có ít hay nhiều ngân hàng không nên dựa vào ý chí chủ quan mà nên tuân theo các quy luật khách quan.

Ở tình huống này, việc nâng cao hơn nữa các điều kiện ( vốn, quản lý...) khi thành lập mới cũng như cho phép tồn tại các ngân hàng là cách thức tốt để Việt Nam có thể cải cách và xây dựng một hệ thống ngân hàng mạnh.

Không để Doanh Nghiệp Nhà Nước vay nợ trên uy tín quốc gia

Còn bức tranh hoạt động Doanh Nghiệp Nhà Nước Việt Nam, nhất là các tập đoàn kinh tế như thế nào ?

Về Doanh Nghiệp Nhà Nước, riêng năm ngoái, các Doanh Nghiệp này đã vay rất nhiều tiền, không chỉ đơn thuần là từ trong nước, mà còn từ các ngân hàng nước ngoài. Gánh nặng nợ nần đó là vấn đề nghiêm trọng do đó đều là các khoản vay ngắn hạn và lãi suất cao. Khi đầu tư bằng ODA, với lãi suất ưu đãi và thời gian ân hạn dài, anh có nhiều thời gian hơn để sửa sai, nhưng vay thương mại thì khác.

Các Doanh Nghiệp Nhà Nước cũng đang có xu hướng mở rộng sang các lĩnh vực không phải trọng tâm của họ. Họ lập ngân hàng, các công ty chứng khoán, truyền thông... những lĩnh vực mà chúng ta khó có thể hi vọng họ biết làm kinh doanh giỏi.

Nếu họ không biết làm kinh doanh tốt trong một môi trường đã khác với giá dầu và giá lương thực đã cao hơn, thì rõ ràng là rất khó kiếm tiền, kể cả với các Doanh Nghiệp tốt. Với các Doanh Nghiệp mới, tình hình càng khó hơn.

Do đó, sẽ là nguy hiểm khi đa dạng hoá kinh doanh quá nhanh như vậy. Hiện nay các Doanh Nghiệp Nhà Nước vẫn nói là không vấn đề gì, nhưng tôi cho rằng còn quá sớm để đưa ra đánh giá. Bản thân tôi muốn biết thêm nữa để có thể nói đó có phải là vấn đề hay không.

Đối với việc vay nợ của Doanh Nghiệp Nhà Nước, theo ông, nhà nước cần có chính sách như thế nào ?

Chính phủ không nên đứng ra bảo lãnh cho các Doanh Nghiệp Nhà Nước vay tiền, cả trong nước và nước ngoài. DN phải đi vay bằng uy tín của bản thân không phải bằng uy tín quốc gia. Tự mình đi vay, họ sẽ tính toán, suy nghĩ cẩn trọng hơn và sử dụng hiệu quả hơn.

Tôi không nghĩ là Việt Nam cần phân tích gì nhiều, chỉ cần tuyên bố, đó là Doanh Nghiệp của các anh, các anh phải tự lo cho nó hoạt động, đừng đến tìm chúng tôi và đề nghị được bảo vệ. Cần phải siết chặt quản lý hoạt động vay thương mại hơn nữa.

Việt Nam cần chắc "mũi nhọn" của mình nhọn thật

Về đầu tư, các tập đoàn cho biết hiện họ chỉ đầu tư ra ngoài lĩnh vực kinh doanh chủ đạo ở mức rất nhỏ, khoảng 7 nghìn tỷ đồng ?

Tôi có câu hỏi, đâu là lĩnh vực kinh doanh chính, ví dụ, của Vinashin ? Đó là một công ty thép, một công ty bất động sản, hay là gì? Bạn biết đấy, họ đã mở thêm các công ty mỗi tuần trong năm ngoái.

Và tôi thực sự không biết là họ đang làm những lĩnh vực kinh doanh gì. Họ có thể định nghĩa đó là ngành nghề chính. Nhiều tập đoàn khác cũng thế, họ mở rộng kinh doanh có thể là trong lĩnh vực chính, hay ra ngoài.

Nhưng tóm lại, cho đến khi có các nhóm bên ngoài xem xét vấn đề này một cách cẩn thận, thì khó mà đánh giá được việc này.

Tôi không nói là việc phân loại về lĩnh vực kinh doanh của họ là sai, nhưng tôi nói là rất khó để khẳng định đó là đúng.

Một câu hỏi khác tôi muốn đặt ra là tiêu chí lựa chọn hay cắt giảm các dự án hay các khoản đầu tư của các doanh nghiệp này là gì ?

Chúng ta có thể lấy ra hai ví dụ tương phản nhau. Intel phải mất khoảng một thập kỷ cân nhắc tính toán mới đưa ra quyết định đầu tư 1 tỷ USD vào Việt Nam mà chúng ta biết rằng sản xuất chip là hoạt động nòng cốt (nếu không muốn nói là duy nhất) của tập đoàn này.

Hơn thế, họ cũng có những bước đi hết sức thận trọng. Đầu tiên là quyết định đầu tư 300 triệu USD, nâng lên 600 triệu USD rồi mới đến 1 tỷ USD.

Ngược lại đối với tập đoàn Vinashin của các bạn trong ba năm qua đã đầu tư hơn 3 tỷ USD và chỉ trong vòng có vài ba tháng đã có thể quyết định ngừng triển khai vài chục dự án với tổng mức đầu tư lên đến 6.500 tỷ đồng và thôi không tham gia một liên doanh với mức vốn góp dự tính lên đến 1 tỷ USD.

Điều ông nói có tương thích không khi đối với nền kinh tế Việt Nam, các Doanh Nghiệp Nhà Nước được xác định là “mũi nhọn của nền kinh tế” ?

Đúng là nó không tương đồng với những gì đang xảy ra. Nhưng sự thật là các Doanh Nghiệp Nhà Nước đang được hưởng rất nhiều vốn vay mà chẳng tạo được nhiều công ăn việc làm hay tham gia xuất khẩu. Nhiều Doanh Nghiệp Nhà Nước của VN đã được trợ cấp để trở nên không hiệu quả.

Có nhiều loại mũi nhọn, nhưng Việt Nam cần chắc mũi nhọn của mình phải nhọn thật. Có thể đó là các Doanh Nghiệp Nhà Nước, nhưng cũng có trường hợp là Doanh Nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hay Doanh Nghiệp tư nhân.

Xác định là mũi nhọn hay không phụ thuộc vào sản phẩm và chất lượng của DN. Ví dụ, trong lĩnh vực sản xuất dầu thì mũi nhọn là các DN nước ngoài, trong lĩnh vực nông nghiệp thì mũi nhọn là DN tư nhân, còn trong sản xuất điện thì là Doanh Nghiệp Nhà Nước.

Cắt giảm chi tiêu phải ở mức 6 - 7% GDP ( khoảng 5 tỷ USD )

Liên quan đến cắt giảm chi tiêu từ ngân sách nhà nước, Việt Nam đặt mục tiêu giảm 10% tuy nhiên, đến thời điểm này vẫn còn rất ít, có tình trạng trên bảo dưới không nghe, nhiều địa phương, bộ ngành không thực hiện cắt giảm. Ông đánh giá như thế nào ?

Cần nhiều giải pháp mạnh được thực hiện để xử lý vấn đề này, kể cả đối với chi tiêu trong ngân sách hay ngoài ngân sách.

Tôi không thể đưa con số cắt giảm chính xác là bao nhiêu nhưng nếu thâm hụt ngân sách thực bằng 10 - 12% GDP của năm ngoái, thì chí ít các bạn phải cắt 2/3 khoản thâm hụt này, tương đương mức 6 - 7% GDP ( khoảng 5 tỷ USD ) .

Khi thực hiện việc cắt giảm này cần phải có ý chí dựa trên các tiêu chí rõ ràng, nếu không sẽ rất khó thực hiện.

Phương Loan