NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Cần một tỷ giá phù hợp - Huỳnh Bửu Sơn

Ổn định giá trị đồng tiền bản địa vẫn là mục tiêu thường trực của chính sách tiền tệ bất cứ quốc gia nào. Nhưng hiểu thế nào là ổn định giá trị đồng bạc ?

Trong mối quan hệ phức tạp của cung cầu và giá cả, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa, mặt bằng giá cả trong một nền kinh tế quốc gia không thể thoát khỏi ảnh hưởng tác động của nền kinh tế thế giới. Vậy thì liệu sự biến động của giá xăng dầu thế giới làm thay đổi giá xăng dầu trong nền kinh tế của chúng ta và làm xáo trộn mặt bằng giá cả trên thị trường nội địa có thể hiểu là một sự mất giá của đồng bạc Việt Nam? Và liệu rằng, vì mục tiêu ổn định tiền tệ và ổn định giá cả, chúng ta sẽ phải cố giữ vững giá xăng dầu và duy trì mặt bằng giá cả trong nước không thay đổi cho dù điều này sẽ mang đến những thiệt hại khác lớn hơn cho nền kinh tế và cho ngân sách quốc gia ?

Chắc chắn hiếm có chính phủ nào sẵn sàng sử dụng nguồn tiền của ngân sách để đảm bảo giữ vững một cách lâu dài giá xăng dầu trong nước thấp hơn giá thế giới chỉ với mục tiêu chứng minh là giá trị đồng nội tệ không suy giảm. Mặt khác, giá trị một đồng tiền còn được đo lường trong mối tương quan với các đồng tiền khác. Những nước đang phát triển vốn có một đồng tiền được coi là yếu hơn, thường áp dụng chính sách neo tỷ giá đồng tiền của mình vào một đồng tiền mạnh khác. Hiện nay, với vai trò đồng tiền thanh toán quốc tế chưa được thay thế, đồng USD vẫn còn được nhiều nước đang phát triển xem là đồng tiền chuẩn để neo tỷ giá đồng tiền bản địa, một chính sách mà nhiều nước xem là ít rủi ro hơn và dễ điều hành hơn chính sách thả nổi tỷ giá.

Tuy nhiên, vì đồng USD không phải là một thước đo giá trị ổn định mà cũng lặn hụp trên thị trường tiền tệ thế giới, tùy thuộc vào mối tương quan giữa đối sách kinh tế của các cường quốc kinh tế và của chính phủ Mỹ, của những nhà đầu cơ tiền tệ xuyên quốc gia, và tất nhiên, của sức khỏe nền kinh tế Mỹ. Neo tỷ giá đồng tiền bản địa vào một đồng tiền khác chính là chấp nhận cho đồng tiền bản địa thăng trầm theo đồng tiền đó, nhưng với một trạng thái tâm lý ổn định hơn vì cho rằng, miễn là mối tương quan tương đối đó được giữ vững, đồng tiền của chúng ta là ổn định. Nó giống như chúng ta cảm thấy ngồi vững chắc trên một chiếc phi cơ đang bay với tốc độ gần ngàn cây số/giờ. Không ít các nước đã trải nghiệm sự đắng cay của một chính sách tỷ giá neo cố định đối với quyền lợi kinh tế quốc gia và những kinh nghiệm của Mexico, Argentina và gần đây của Thái Lan cho thấy rằng không phải những nỗ lực duy trì ổn định tỷ giá nào cũng mang lại kết quả tốt đẹp cho nền kinh tế quốc gia.

Trong thời gian gần đây, chúng ta đang chứng kiến sự gia tăng chóng mặt của giá vàng trên thị trường vàng trong nước. Vào trung tuần tháng 11/2009, giá vàng trong nước tăng đột biến có lúc lên đến hơn 29 triệu đồng/lượng ta (37,5 gam), và cơn sốt vàng đã khiến cho Ngân hàng Nhà nước vào ngày 11/11 buộc phải tháo van nhập khẩu vàng với hy vọng bình ổn giá vàng. Việc giá vàng nội địa tăng tất nhiên có chịu ảnh hưởng bởi việc giá vàng thế giới liên tục tăng mạnh trong thời gian gần đây. Tuy nhiên điều đáng lưu ý là giá vàng trong nước còn tăng nhanh hơn giá vàng thế giới. Vào ngày 19/11, tuy giá vàng thế giới giảm 10 USD/ounce còn 1.134 USD/ounce, giá vàng trong nước vẫn tăng 100.000 đồng/lượng so với ngày hôm trước, đưa giá vàng tính bằng tiền đồng lên 27,27 triệu đồng/lượng tại TP. Hồ Chí Minh và 27,29 triệu đồng/lượng tại Hà Nội.

Như vậy, giá vàng trong nước ngày 19/11 đã cao hơn giá vàng thế giới đến 400.000 đồng/lượng (nếu tính theo giá USD trên thị trường tự do ở mức 19.360 đồng/USD mà các báo đã đưa tin). Biến động mạnh của giá vàng trong nước gần đây không chỉ chịu ảnh hưởng của giá vàng quốc tế liên tục tăng mà còn bị tác động cộng hưởng của việc tăng giá đồng USD trên thị trường tự do. Chính sự cộng hưởng đó là thủ phạm chính của việc tăng đột biến giá vàng trong nước.

Chính sách tỷ giá của chúng ta được mô tả như là mềm dẻo, dựa trên tín hiệu thị trường và hướng đến ổn định. Trong những năm qua, điều này đã được minh chứng. Mặc dù cán cân thương mại thường xuyên khiếm hụt, chúng ta có được một tài khoản vốn thặng dư thường xuyên và dự trữ ngoại tệ quốc gia vẫn tăng vừa phải. Tỷ giá chính thức của đồng bạc Việt Nam trong tương quan với đồng USD được ấn định gần sát với tỷ giá của nó trên thị trường tự do. Trong trường hợp cần thiết, khi có một vài biến động nhỏ, Ngân hàng Nhà nước chỉ cần nới rộng biên độ cho phép là các ngân hàng thương mại có thể rộng tay giao dịch mua bán bình thường ngoại tệ với khách hàng. Cũng đã có lúc, như trong năm 2007, tỷ giá USD trên thị trường tự do còn thấp hơn trong hệ thống ngân hàng, khi nguồn cung USD tăng vọt do đầu tư gián tiếp từ nước ngoài gia tăng và hệ thống ngân hàng không đủ lượng tiền đồng để mua USD.

Hiện nay, tình hình đã khác trước. Tỷ giá USD niêm yết tại các ngân hàng thương mại đều đạt mức kịch trần (17.870 VND/USD) của biên độ cho phép 5% và không có sự chênh lệch nào giữa giá mua vào, giá bán ra, hoặc chênh lệch giữa giá chuyển khoản và tiền mặt như thường thấy. Nhưng điều đáng lưu ý là tuy áp dụng giá kịch trần, các ngân hàng thương mại vẫn không thể mua bán USD với giá nói trên. Do tỷ giá đồng/USD mà Ngân hàng Nhà nước công bố không phản ánh đúng cung cầu thị trường nên các ngân hàng thương mại rất khó mua được USD từ doanh nghiệp. Lãnh đạo một ngân hàng rất mạnh về nguồn USD tiết lộ: "Có ngày chúng tôi không mua được đồng USD nào".

Giá tiền đồng của USD trên thị trường tự do đã vượt ngưỡng 10% so với tỷ giá chính thức do Ngân hàng Nhà nước quy định tức là gấp đôi biên độ 5% cho phép và thực tế cho thấy xu hướng vượt ngưỡng đang tăng. Điều này đưa đến những hệ lụy khó khăn. Thứ nhất, các doanh nghiệp có USD (các doanh nghiệp xuất khẩu) không vội bán USD, còn các doanh nghiệp cần USD (các doanh nghiệp nhập khẩu) lại vội mua USD, nhu cầu cánh kéo này sẽ làm căng thẳng thêm cung cầu USD và tạo áp lực đẩy giá USD lên. Thứ hai, có một trạng thái tâm lý trên thị trường với kỳ vọng là giá USD đối với đồng Việt Nam sẽ gia tăng và sự dự báo này, như nhiều nhà phân tích kinh tế đã nhận xét, thường có nguy cơ tự hoàn thành (self fulfilling).

Vấn đề tỷ giá không bao giờ là dễ dàng. Chính sách tỷ giá không chỉ hướng đến chuyện nên khuyến khích xuất khẩu hay không khuyến khích nhập khẩu, không phải chỉ cân nhắc gánh nặng đối với ngân sách quốc gia của các khoản nợ nước ngoài, không phải chỉ giải quyết bài toán về khiếm hụt cán cân thương mại hay thặng dư tài khoản vốn, không phải chỉ là chuyện củng cố dự trữ ngoại tệ quốc gia... mà còn là vấn đề giá cả, lạm phát, lương bổng... Và trên hết đó là niềm tin, niềm tin của người dân, của doanh nghiệp, của nhà đầu tư trong và ngoài nước rằng chúng ta đang có những hành động đúng đắn, những biện pháp đúng đắn để những bất ổn không thể xảy ra, những dự báo mang tính chất đầu cơ bị dập tắt và không thể tự hoàn thành.

Một chính sách tỷ giá phù hợp phải thực tế, được điều chỉnh theo tín hiệu của thị trường và hướng về lợi ích toàn cục của nền kinh tế đất nước. Tỷ giá ngoại tệ chỉ có thể ổn định khi cung cầu ngoại tệ ổn định. Nhà xuất khẩu phải kết hối để cho nhà nhập khẩu có ngoại tệ nhập hàng, nhưng tỷ giá áp dụng phải công bằng, nếu không nói là nên dành một chút ưu tiên cho nhà xuất khẩu, những người làm ra những đồng ngoại tệ quý giá cho nền kinh tế. Chính nhờ thực thi kiên trì chính sách ưu đãi xuất khẩu và kiềm chế nhập khẩu trong nhiều thập niên mà cho đến nay, Trung Quốc trở thành nước có dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới và vẫn đang cố kiềm giữ giá trị đồng nhân dân tệ ở mức thấp. Chúng ta chưa thể áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi, mặc dù theo các nhà kinh tế, đó có thể là giải pháp ít xấu nhất đối với sự tiến thoái lưỡng nan về tiền tệ quốc tế.

Trong điều kiện neo tỷ giá, điều chỉnh tỷ giá tiền đồng Việt Nam phù hợp tín hiệu của thị trường với một liều lượng đúng mức là điều cần xem xét để giải tỏa những áp lực căng thẳng không đáng có trên thị trường tiền tệ hiện nay, đưa nó về một trạng thái cân bằng mới, ổn định hơn. Những biện pháp cần thiết về lãi suất tiền đồng cũng cần được triển khai đồng bộ như một biện pháp vừa hỗ trợ cho chính sách tỷ giá, vừa chủ động hướng đến mục tiêu kiểm soát hiện tượng lạm phát đang manh nha.

Những chính sách kinh tế vĩ mô thành công thường là những chính sách mang lại niềm tin cho công chúng, cho doanh nghiệp, cho những nhà đầu tư, họ tin vào kết quả ổn định kinh tế mà các chính sách ấy mang lại. Nhưng theo nhà kinh tế Paul Krugman, thị trường cũng tự nó có điều mà ông gọi là trò chơi của niềm tin, và trò chơi này hình như nhắm vào sự bất toàn của các chính sách để tự hoàn thành những dự báo đầu cơ của nó. Một chính sách đúng nhưng thiếu liều lượng không khác gì thuốc kháng sinh trị đúng bệnh nhưng dùng không đủ liều có thể đưa đến tình trạng kháng thuốc còn nguy hiểm hơn.