NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Cà Mau có gần 130 ha nuôi tôm công nghiệp chuyển sang nuôi các loại cá

Tính từ đầu năm đến nay, Cà Mau có gần 130/1.100 ha nuôi tôm công nghiệp chuyển sang nuôi các loài thuỷ sản khác như: cá kèo, cá chẽm, cua.

Nguyên nhân của sự chuyển đổi là do thời tiết nắng nóng kéo dài dẫn đến tình trạng tôm chết. Thêm vào đó, chi phí đầu vào phục vụ cho nuôi trồng thuỷ sản như: giống, thức ăn… đều tăng, trong khi giá tôm bán ra thị trường giảm, làm cho phần lớn người dân nuôi tôm lâm vào hoàn cảnh khó khăn và có định hướng nuôi những loài thủy sản có lợi nhuận cao hơn. Với nguyên nhân đó, hiện nay làm cho các nhà máy, xí nghiệp chế biến tôm trong tỉnh chỉ hoạt động khoảng 40% công suất do thiếu nguyên liệu, không đáp ứng cho nhu cầu chế biến.

Nhằm tháo gỡ cho bà con cũng như đối với các nhà máy, xí nghiệp chế biến và xuất khẩu tôm trong tỉnh. Sở Thủy sản Cà Mau chỉ đạo Trung tâm khuyến ngư tiếp tục điều tra và tìm hướng xử lý giúp nông dân sản xuất đạt hiệu quả nhất.

Trà Vinh phát triển nuôi cá kèo

Bước đầu toàn tỉnh Trà Vinh có trên 130 hộ dân ở các huyện Cầu Ngang, Duyên Hải, Châu Thành và Trà Cú thả nuôi hơn 5,6 triệu con cá kèo giống trên diện tích 78 ha với sản lượng thu hoạch được gần 100 tấn cá thương phẩm.

Điển hình như hộ bà Ngô Thị Lến, ở ấp Kinh Đào, xã Long Vĩnh, huyện Duyên Hải thả nuôi 600.000 con cá kèo giống (cỡ giống thả 4.000 - 5.000 con/kg) trên tổng diện tích 10.000 m2. Sau thời gian nuôi 6 tháng, sử dụng 100% thức ăn công nghiệp, tỷ lệ sống đạt 50%, trọng lượng đạt trung bình 24 gam/con, sản lượng thu hoạch 7.200 kg.

Với giá bán bình quân 45.000 đồng/kg, bà Lến đã thu được 324 triệu đồng, sau khi trừ các khoản chi phí (thức ăn, con giống, cải tạo ao) còn lãi 204,2 triệu đồng. Đây là mô hình nuôi cá kèo thu được lợi nhuận cao nhất từ trước đến nay ở Trà Vinh và được thực hiện trong ao sau vụ nuôi tôm sú. Thấy được hiệu quả từ nghề nuôi cá kèo, hiện nay có nhiều hộ dân ở các xã Mỹ Long, Hiệp Mỹ của huyện Cầu Ngang; Long Hữu, Long Toàn, Long Vĩnh... của huyện Duyên Hải bắt chước làm theo.

Anh Đào Thanh Lâm công tác tại Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh cho rằng nuôi cá kèo thật sự rất hiệu quả, dễ nuôi, tiêu tốn ít thức ăn vì cá kèo chủ yếu ăn các loài phiêu sinh vật, thích hợp với các hộ gia đình ít đất, ít vốn. Chỉ cần vài trăm mét vuông hay một vài công đất là có thể nuôi được. Anh Phương ở xã Long Hữu, huyện Duyên Hải cho biết trước đây người dân vùng này sau vụ nuôi tôm sú thường thả nước cho cá kèo sinh sống tự nhiên, tới mỗi con nước ròng thì mở cống cho cá chạy ra để thu hoạch. Nay bà con thấy nuôi hiệu quả nên mua con giống về thả, có cho thêm thức ăn công nghiệp nên năng suất cao hơn. Nhiều người còn nuôi kết hợp để cá kèo ăn thức ăn thừa của các loài tôm, cá khác.

Tuy nhiên, theo anh Đào Thanh Lâm thì cá kèo khó đánh bắt trong môi trường ao nuôi. Để nuôi cá kèo đạt hiệu quả, người nuôi thường phải trải lưới mùng dưới đáy ao để ngăn chúng đào hang; nếu không đến chừng thu hoạch hết sức khó khăn, phải áp dụng nhiều biện pháp đánh bắt và phải thực sự có kinh nghiệm mới thu hoạch hết được.

Nuôi cá vân hồi giữa rừng

“Cá vân hồi nuôi được ở Đà Lạt, một nửa là của trời cho”- ông Phạm Văn Đa, một người làm giàu từ loài cá này, nói như vậy. Ông đa sẽ càng giàu hơn nếu nuôi thành công cá tầm...

Do điều kiện khó khăn sau khi rời quân ngũ, Phạm Văn Đa từ Nam Định khăn gói cùng vợ con vào chân núi Quảng Thừa, phường 4, Đà Lạt (Lâm Đồng) định cư tính đến nay đã hơn 20 năm. Từ một nông dân thuần khiết chỉ biết làm rừng, làm rẫy, chăn nuôi, Phạm Văn Đa đã trở thành triệu phú với sự thành công của việc nuôi cá vân hồi trong thung lũng Quảng Thừa.

Ý tưởng từ những chuyến đi

Từ những năm 1980, khi Phạm Văn Đa mới đặt chân đến Quảng Thừa, hầu như ở đây còn rất hoang vu, rậm rạp. Đến tận bây giờ vẫn chỉ lác đác những hộ dân di cư vào sinh sống. tuy chỉ cách trung tâm TP Đà Lạt chừng 8 km nhưng đường vào Quảng Thừa vẫn lởm chởm đất đá, chưa hề được trải nhựa bao giờ. Những ngày đầu vợ chồng ông Đa định cư ở đây chỉ với một cái lán nhỏ, ngày hai buổi phát rừng, làm rẫy, chăn nuôi heo. Mặc dù chưa có điện thắp sáng, chưa có nước máy, chưa có đường giao thông dân sinh nhưng ngay từ những ngày đầu người lính từng có 10 năm chiến đấu trong rừng đã thích và muốn gắn bó với nơi này.

Toàn bộ khu Quảng Thừa là sự hợp lại của những quả đồi nhỏ, những con suối, những rừng cây còn nằm trong trạng thái tự nhiên chưa có sự can thiệp nhiều của bàn tay con người. Từ những chuyến đi rừng, ông Đa phát hiện ở đây có nhiều điều khá đặc biệt mà nơi khác không có, đặc biệt là những mạch nước ngầm trong suốt và tinh khiết. Đỉnh núi Quảng Thừa cao 1.700 – 1.800 m so với mực nước biển, bao bọc, phủ kín là rừng thông và cây lá rộng. Ngay dưới chân núi là một thung lũng kéo dài đến tận hồ Tuyền Lâm với một mạch nước ngầm mát lạnh, trong lành. Phát hiện được những điều đặc biệt này, ông Đa đã khoanh vùng với diện tích gần 3 ha ở thung lũng, ban đầu chỉ chăn nuôi gia cầm, heo, trồng rau. Sau nhiều năm được cải tạo, khu đất đã dần bằng phẳng và mọc lên những gốc cà phê, gốc hồng cho thành quả kinh tế khá khả quan.

Để đủ sức nuôi gia đình, ngoài thời gian làm rẫy, ông Đa còn thu gom những cây rừng đổ bán củi, làm chất đốt. Sau khi đã định hình được mô hình làm vườn, chăn nuôi, tận dụng nguồn nước, ông nảy ra ý tưởng đào ao nuôi cá nước ngọt, ban đầu chủ yếu là cá rô phi, cá trắm. Cá sinh trưởng khá tốt, kinh tế gia đình tạm ổn. Do mày mò nghiên cứu, thông qua đài, báo, truyền hình, Phạm Văn Đa biết được thông tin có giống cá vân hồi nuôi thành công ở Sapa. Anh đi khảo sát và thấy điều kiện ở đây có nhiều điểm tương đồng với Sapa nên anh nảy ra ý tưởng nuôi cá vân hồi. Ý tưởng của anh nhanh chóng thành hiện thực khi giữa năm 2006, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Việt Nam đặt trạm nghiên cứu tại xã Hiệp Thạnh, Đức Trọng (Lâm Đồng) chọn khuôn viên trang trại của anh làm nơi nuôi cá vân hồi thứ hai ở Việt Nam sau Sapa.

Cá đẻ ra vàng

Sau khi khảo sát kỹ, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Việt Nam kết luận trang trại ông Đa nằm đầu nguồn suối nước lạnh, thích hợp với giống cá vân hồi có nguồn gốc châu Âu. Đây là con suối ôn đới duy nhất tại Lâm Đồng, có nước tinh khiết lọc qua các khu rừng, ngấm qua các kẽ đá, nhiệt độ dao động 12-200C. Viện quyết định giao việc nuôi cá vân hồi cho gia đình ông Đa dưới sự giám sát và hướng dẫn kỹ thuật của viện và Trung tâm Nghiên cứu cá nước ngọt Lâm Đồng. Mỗi năm nuôi trung bình 2 lứa, mỗi lứa 1.500 con. Ban đầu, cá giống phải chuyển về từ Sapa nhưng hiện nay đã ấp nở được tại chỗ. Cá vân hồi thích nghi, sinh trưởng rất tốt. Nước tinh khiết từ Quảng Thừa chảy xuống chỉ cần xử lý qua hồ lắng là đưa thẳng vào sử dụng. Quy trình nuôi, chăm sóc cá cũng không quá cầu kỳ: Mỗi ngày cho ăn 4 lần, liều lượng vừa đủ; cứ 20 ngày lại thay nước cho cá một lần.

Lượng nước càng nhiều, cá sinh trưởng càng nhanh và không cần dụng cụ bổ trợ bơm ôxy. nếu nước sạch, cá thường không bệnh tật gì. Nói về vấn đề này, ông Đa tâm sự: “Dường như trang trại cá này có gần một nửa là trời cho, vì từ khi bắt đầu nuôi đến giờ cá không xảy ra bệnh tật, cám cho ăn cũng hoàn toàn dùng cám trong nước chứ không phải nhập ngoại như trước kia, nên giá thành cũng thấp”. Ông Đa cho biết thêm mỗi năm trại cá hồi của ông xuất trại 3.000 con, trung bình 1,2 - 1,7 kg/con, giá thành 150.000 đồng/kg.

Sau khi trừ mọi chi phí từ khâu cá giống ( trung bình 15.000 đồng/con ) đến thức ăn, kỹ thuật, gia đình ông thu lời 250 triệu đồng đến 300 triệu đồng/năm. Vợ ông Đa vui mừng nói: “Bây giờ nếu tiền lời từ cá mà quy ra vàng mỗi năm gần hai trăm chỉ”.

Từ những thuận lợi đó, ông Đa không ngừng phối hợp cùng Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu nuôi cá nước ngọt Lâm Đồng mở rộng diện tích nuôi, cũng như xây dựng thêm nhiều bể lắng nước sạch. Đặc biệt, cuối năm 2008 đầu 2009 này, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản Việt Nam đã đưa giống cá tầm về trang trại ông Đa nuôi thí điểm. “Nếu giống cá tầm được nuôi thành công và sinh trưởng tốt thì sẽ là món quà vô giá đối với gia đình tôi trong mùa Xuân 2009”- ông Đa nói.