NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và Doanh nghiệp xã hội - GS Hà Tôn Vinh , Kiều bào Mỹ

Để phát triển bền vững và hội nhập nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam cần thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, cần nhấn mạnh đến sự gắn kết giữa kinh doanh với trách nhiệm xã hội một cách cụ thể.

Trách nhiệm xã hội

Thế nhưng “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” hãy còn là một khái niệm rất mới đối với nhiều công ty kinh doanh sản xuất trong nước. Một người am hiểu vấn đề, Giáo sư Hà Tôn Vinh, tổng giám đốc tổ hợp giáo dục, đào tạo và tư vấn Stellar Management ở Việt Nam, phân tích về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bài phỏng vấn do Thanh Trúc thực hiện:

GS Hà Tôn Vinh: Khái niệm gọi là “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”, tiếng Anh gọi là Corporate Social Responsibility, viết tắt CSR, là một khái niệm không mới lắm, được áp dựng tại những nước phát triển. Nói chung là dựa vào một số các yếu tố rất quan trọng: sự hợp tác giữa nhiều tổ chức, trong đó có chính phủ, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các viện và các đại học, nhằm đưa đến nhằm tạo sự tôn trọng gọi là tôn trọng môi trường, tôn trọng xã hội, tôn trọng vấn đề sử dụng người lao động, không hủy hoại môi trường, đưa vị thế của doanh nghiệp lên cao hơn. Đó là khái niệm căn bản của CSR.

Thanh Trúc: Thưa giáo sư, cái ý thức, vai trò, và sự cần thiết của trách nhiệm xã hội của công ty hay doanh nghiệp trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang lúc mở cửa, phát triển và hội nhập như thế nào?

GS Hà Tôn Vinh: Trước đây các doanh nghiệp thường nghĩ rằng vai trò của họ trong xã hội là đóng thuế. Nhưng mà dần dần chúng ta thấy đóng thuế là không đủ. Có nhiều doanh nghiệp ngoài chuyện đóng thế còn sử dụng môi trường, sử dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nước và họ còn lạm dụng hay gọi là lợi dụng nữa, thành ra có cái khái niệm là không những phải đóng thuế đóng góp cho xã hội mà phải sản xuất mà không làm hại môi trường. Có nhiều doanh nghiệp họ trốn thuế hay là họ đóng thuế ít thì cái chuyện đó ở đâu cũng có. Một thời gian sau chúng ta thấy là nhiều doanh nghiệp bắt đầu lợi dụng môi trường hay tài nguyên thiên nhiên để sản xuất. Họ trục lợi cho doanh nghiệp của họ.

Đến giai đoạn thứ hai thì chúng ta thấy là doanh nghiệp muốn sản xuất tốt thì ngoài chuyện đóng góp cho xã hội còn không làm hại môi trường. Môi trường đây có nghĩa là môi trường thiên nhiên, môi trường lao động, môi trường sinh hoạt, rồi môi trường một cách gọi là dân chủ, tôn người tiêu dùng…chẳng hạn như vậy.

Thì chúng ta thấy gần đây có một số những cái vi phạm rất là trắng trợn. Tôi đọc báo thấy vừa qua tại miền Nam, một công ty môi trường mà đổ rác thải xuống hồ hơn bốn trăm tấn trong những năm vừa qua. Là một công ty môi trường đi thu thập rác hay những đồ phế thải nhưng mà thay vì xử lý họ lại đổ vào lòng hố. Đó là một thí dụ. Thứ hai là một công ty Đài Loan sản xuất bột ngọt tên là Vedan. Họ đổ tất cả chất thải xuống sông Thị Vải, làm không những cả môi trường chết mà còn làm thiệt hại rất nhiều cho người dân sinh sống trong vùng sông đó. Đó là một trong những cái cho thấy không phải chỉ đóng thuế là đủ mà phải không làm hại môi trường và phải đóng góp vào môi trường sinh sống mà chúng ta gọi là môi trường thiên nhiên rồi vấn đề nước vấn đề không khí âm thanh tiếng động, cả cái môi trường lao động nữa, làm sao cho con người lao động không bị lạm dụng, rồi những chất thải xử lý như thế nào, nghĩa là sử dụng tài nguyên thiên nhiên mà đóng góp lại cho môi trường cho thiên nhiên. Đó là vai trò nồng cốt của CSR .

Doanh nghiệp chưa ý thức

Thanh Trúc: Theo giáo sư tới lúc này doanh nghiệp Việt Nam đã có ý thức hay đã được nâng cao ý thức về vấn đề “Trách Nhiệm Xã Hội Của Công Ty” chưa ?

GS Hà Tôn Vinh: Thực sự khái niệm CSR là vai trò cũng như trách nhiệm của doanh nghiệp mới được đưa vào Việt Nam. Trước đây doanh nghiệp Việt Nam không quen thuộc với khái niệm đó. Gần đây Phòng Thương Mại Và Công Nghiệp Việt Nam và Liên Hiệp Quốc, chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc, mới đưa một chương trình hai năm để mà hỗ trợ cho doanh nghiệp. Nó gồm ba phần chính là tạo dựng một cái partnership, môt sự hợp tác, giữa chính phủ, chính quyền, doanh nghiệp, các tổ chức tư nhân, các viện và các đại học, để mà đưa vấn đề đó vào trong doanh nghiệp.

Thứ hai là làm sao tổ chức những lớp học những chương trình đào tạo cho những nhà lãnh đạo hiện tại hay tương lai của các doanh nghiệp. Và thứ ba là đưa ra cái gọi là sự hợp tác, một mạng lưới cho tất cả các doanh nghiệp cũng như các tổ chức hợp tác với nhau để cùng làm cho đất nước được phát triển bền vững hơn.

Thì qua đó ta thấy là doanh nghiệp Việt Nam hiện thiếu rất nhiều, thứ nhất là sự hiểu biết về khái niệm đó, thứ hai là một chiến lược hay một chương trình hành động phản ánh được vai trò của doanh nghiệp trong việc đóng góp cho xã hội. Điểm thứ ba là chưa có nhiều những qui chuẩn hay là những qui tắc hành động cho các doanh nghiệp. Giả dụ như trong trường hợp Vedan, bây giờ các hội nông dân các hội thủy sản họ đòi bồi thường. Thì chuyện đó là bình thường. Nhưng mà bồi thường theo nguyên tắc nào, bồi thường bao nhiêu và bồi thường cho ai? Tất cả những cái đó còn là vấn đề bỏ ngỏ là vì bây giờ chưa có nguyên tắc là phải bồi thường thế nào, làm sao bồi thường. Phía Vedan đưa ra những con số có thể phù hợp có thể không phù hợp, chắc chắn những con số đó người dân không đồng ý, vậy bây giờ giải quyết thế nào? Thường thì các tổ chức trên thế giới như Liên Hiệp Quốc và Việt Nam có Phòng Thương Mại Và Công Nghiệp, đứng ra vận động để đưa vấn để trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp vào trong các doanh nghiệp, tổ chức những khóa đào tạo, đưa giáo trình vào đại học, tổ chức những buổi hội thảo, tổ chức những mạng lưới để các doanh nghiệp và các cơ quan chính phủ cùng hợp tác.

Thanh Trúc: Thưa giáo sư Hà Tôn Vinh, ông có tham gia một chương trình qua đó khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được đưa vào vào trong các đại học của Việt Nam?

GS Hà Tôn Vinh: Theo tôi được biết và qua nghiên cứu của chúng tôi thì các đại học ở Việt Nam bây giờ chưa có một giáo trình hay chương trình đào tạo chính qui hay bài bản về vấn đề CSR.

Thứ hai là khái niệm CSR vào Việt Nam cũng mới đây và Liên Hiệp Quốc cũng vừa mới tài trợ cho bên phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam một chương trình để đưa vào trong các đại học. Chúng tôi làm việc với một đại học Hoa Kỳ cũng hợp átc với Phòng Thương Mại Và Công Nghiệp Việt Nam và một số các đại học. Hiện thời có bốn đại học được đề nghị, chúng tôi mời một số các giảng viên, chuyên gia trên thế giới, có kinh nghiệm có chuyên môn về CSR, sang Việt Nam. Chúng tôi đã đề nghị Đại Học Kinh Tế thành phố Hồ Chí Minh, Đại Học Ngoại Thương Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Quản Trị Kinh Doanh của Đại Học Quốc Gia Hà Nội, là bốn đối tác hợp tác đầu tiên.

Thanh Trúc: Thưa giáo sư Hà Tôn Vinh, vừa rồi ông đã trình bày về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Ông cũng đã từng trình bày về khái niệm.

GS Hà Tôn Vinh: Gọi là Social Entrepreneurship hay Social Enterprise, các doanh nghiệp xã hội.

Đóng góp cho môi trường

Đối với nền kinh tế có sức tăng trưởng đáng kể như Việt Nam, “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” và “Doanh nghiệp xã hội” là hai vấn đề thiết thân hầu có thể duy trì sự phát triển bền vững.

Khái niệm về Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp đã được giáo sư Hà Tôn Vinh, tổng giám đốc Tổ Hợp Đào Tạo, Giáo Dục Và Tư Vấn Stellar Management ở Việt Nam, trình bày trong bài trên.

Hôm nay ông Hà Tôn Vinh giải thích tiếp về Doanh Nghiệp Xã Hội, một vai trò quan trọng mà các doanh nghiệp trong nước phải thực hiện vào khi Việt Nam mong muốn bắt kịp đà tiến triển của cộng đồng kinh tế thế giới:

GS Hà Tôn Vinh: Doanh Nghiệp Xã Hội, trước đây như chúng ta vừa nói là phải đóng thuế hay đóng góp cho chính phủ. Nhưng mà đến giai đoạn thứ hai là doanh nghiệp không làm hại môi trường mà phải đóng góp cho môi trường. Giai đoạn thứ ba là doanh nghiệp cần phải đưa những kinh nghiệm của mình, những người lãnh đạo những người quản lý doanh nghiệp cần đưa những kinh nghiệm trong doanh nghiệp của mình để đóng góp cho xã hội.

Lấy thí dụ những người đã thành công trong vấn đề quản lý doanh nghiệp quản lý các công ty. Bây giờ họ có thể nghỉ một năm, có thể nghỉ ngắn hạn hay dài hạn, và họ tham gia làm việc xã hội hay là thiện nguyện hay tình nguyện cho các tổ chức xã hội, để xây dựng những tổ chức xã hội đó vững mạnh hơn. Đó là sự đóng góp.

Hay là lãnh đạo các công ty có thể một năm tài trợ cho một số nhân viên, trả lương để những nhân viên đó hay những người quản lý đó làm cho các đại học hay cho các công ty, để giúp các đại học đó phát triển nhiều hơn, hiểu vấn đề xã hội nhiều hơn, hiểu vấn đề doanh nghiệp nhiều hơn. Hay là làm cho các tổ chức từ thiện.

Một cái khái niệm nữa là Social Entrepreneurship, làm doanh nghiệp không chỉ để phục vụ cho cái gọi là lợi nhuận mà còn phục vụ cho xã hội. Tức là không những làm cho công ty tốt đẹp hơn, có lợi nhuận nhiều hơn, nhưng còn làm sao cho môi trường sinh sống của chúng ta, môi trường sinh thái của chúng ta tốt đẹp hơn, lành mạnh hơn, ít tiếng động hơn, ít ồn ào hơn. Và còn đóng góp cho văn hóa, cho giáo dục, ngay cả vấn đề bảo vệ những di tích lịch sử hay tôn giáo.

Thanh Trúc: Thưa ông, tất cả những điều ông vừa trình bày thì đối với những xã hội tiên tiến như Hoa Kỳ hoặc các nước trong khối EU, đều có áp dụng và thấy được hiệu quả của nó. Thiết tưởng Việt Nam cũng cần phải theo trong giai đoạn gọi là hội nhập, thì ông thấy Việt Nam đã theo được đến mức nào hay vẫn còn trong khái niệm chứ chưa được thực hiện?

GS Hà Tôn Vinh: Thực sự là bây giờ các doanh nghiệp đều muốn phát triển và phát triển bền vững. Vậy thì áp dụng những nguyên tắc qui chuẩn về CSR (Corporate Social Responsibility, Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp) hay là về Social Entrepreneurship hay trở thành những Social Enterprise là Doanh Nghiệp Xã Hội, thì làm cho uy tín của doanh nghiệp tăng lên. Mà khi uy tín của doanh nghiệp tăng lên, thương hiệu của doanh nghiệp tăng lên, thì có nghĩa là doanh nghiệp sẽ được lợi.

Đây không phải là cái lợi một chiều từ doanh nghiệp đến cho cộng đồng. Không phải chỉ doanh nghiệp đóng góp cho cộng đồng theo nghĩa đó. Nhưng vì đóng góp cho cộng đồng mà uy tín của doanh nghiệp tăng lên và chính vì thế doanh nghiệp được hưởng lợi.

Các công ty ở nhiều nước tiên tiến đóng góp rất nhiều cho xã hội, từ tiền bạc, từ bảo vệ môi trường đến đóng góp cho người lao động, đóng góp cho vấn đề nhân quyền trong lao động và đóng góp ngay cả những vấn đề giao dục cho xã hội. Chính vì thế những người gọi là consumers, những người tiêu dùng, họ chấp nhận họ tin tưởng những công ty đó thực sự đóng góp. Chính vì thế họ mua hay là họ làm cho những công ty như vậy được phát triển bền vững và phát triển rất lớn.

Tăng uy tín thương hiệu

Thanh Trúc: Khi mà nói về Doanh Nghiệp Xã Hội thì trên thế giới có biết bao nhiêu công ty lớn đã thực hiện được vai trò Doanh Nghiệp Xã Hội thí dụ công ty Microsoft của ông Bill Gates chẳng hạn, hay những đại công ty những đại tổ hợp Coca Cola, Pepsi, IBM, Ford…

GS Hà Tôn Vinh: Bây giờ nói tới những tập đoàn lớn của nước ngoài như Ford, IBM rồi GM (Genaral Motors) hay Toyota hay Coca…Tất cả những công ty đã thành công là vì được sự ủng hộ của người tiêu dùng. Tại sao họ được ủng hộ? Không những là những doanh nghiệp đó có sản phẩm tốt, có chất lượng tốt, giá cả phải chăng, mà người dân thấy rằng những công ty đó thực sự có đóng góp lại cho xã hội. Thí dụ hãng Ford bao nhiêu năm nay đã lập ra Ford Foundation, một quĩ Ford hỗ trợ cho vấn đề bảo tồn văn hóa, hỗ trợ cho vấn đề bảo vệ môi trường, hỗ trợ cho sinh viên.

Hay như ông Bill Gates và bà vợ, lập ra Bill and Melinda Gates Foundation, lo vấn đề HIV/AIDS tại các nước Châu Phi, đại khái như thế.

Thì ở Việt Nam bây giờ chúng tôi nhận thấy đã bắt đầu có khà nhiều tập đoàn. Ngoài chuyện đóng thuế cho chính phủ, họ đã tổ chức xóa đói giảm nghèo bằng cách là trong những trường hợp có lũ lụt thì họ đóng góp họ gây quĩ. Rồi họ đóng góp trong những chương trình hỗ trợ những người có công với đất nước, hay là hỗ trợ những bản những thôn của người dân tộc hay những chương trình về văn hóa về giáo dục, chương trình dành cho sinh viên nghèo. Tất cả những cái đó là những bước tiến để khẳng định rằng họ muốn trở thành một yếu tố một thành tố của xã hội. Chính vì thế họ được xã hội nhìn nhận bằng cách tiếp tục mua tiếp tục ủng hộ.

Chính vì thế chúng tôi nghĩ rằng sau này, dần tới, các doanh nghiệp nên tổ chức những quĩ xã hội, những quĩ cộng đồng, những quĩ giáo dục hay văn hóa để vừa đóng góp cho xã hội vừa có thể cách nào đó tăng uy tín tăng thương hiệu của mình lên.

Thanh Trúc: Có một câu hỏi là những tổ hợp sản xuất thuốc lá uy tín trên thế giới như Philip Morris, 555 hay Dunhil chẳng hạn, thưa họ có đóng được cái vai trò Doanh Nghiệp Xã Hội hay không?

GS Hà Tôn Vinh: Trong bao nhiêu năm, gần như cả một trăm năm nay, những công ty thuốc lá đã sản xuất nhiều và tạo nên một số rất đông những người lệ thuộc vào thuốc lá, lệ thuộc vào vấn đề hút hay nghiện hút. Họ làm thiệt hại cho các quĩ xã hội rất nhiều, bệnh viện hay là ngân sách nhà nước rồi môi trường.

Gần đây chúng ta thấy là ngoài chuyện chính phủ các nước chế tài họ, không cho họ được bán thuốc là đại trà như trước, không được quảng cáo như trước và cũng cấm những người hút thuốc lá không được hút ở những nơi mà có những người khác, phải ra ngoài hút hoặc là không hút.

Ngoài ra thì các công ty đó cũng bắt đầu đóng góp cho xã hội bằng những chương trình để cho nhiều người biết rằng hút thuốc lá có hại cho sức khỏe. Điểm thứ hai là họ cũng đóng góp vào những quĩ phòng chống hút thuốc hay đề phòng trẻ em phụ nữ không nên hút thuốc lá. Đó là một phần thôi, nhưng mà cái tai hại của thuốc lá rất ư là lớn và vẫn là có những dấu ấn rất tiêu cực trong xã hội.

Tôi nghĩ là đến một lúc nào đó thì chính phủ các nước, có thể nhất là Việt Nam, cũng nên dần dần chuyển đổi các công ty thuốc lá thành những hoạt động xã hội khác và đưa thuốc lá hoàn toàn ra khỏi vấn đề kinh tế buôn bán thuốc lá ở trong nước.

Thanh Trúc: Tóm lại Doanh Nghiệp Xã Hội cũng là một vấn đề cấp thiết đối với đất nước Việt Nam, đối với các doanh nghiệp Việt Nam?

GS Hà Tôn Vinh: Vâng, hoạt động xã hội của doanh nghiệp là vấn đề thiết thân với doanh nghiệp và xã hội nữa. Ngày xưa nói đóng thuế là đủ bây giờ không đủ. Làm hại không làm hại môi trường cũng không đủ mà phải đóng góp cho môi trường. Môi trường đây đừng nghĩ rằng chỉ là song ngòi hay không khí mà là tất cả những gì liên hệ đến cuộc sống. Môi trường sinh thái thì đúng hơn. Đó là người lao động, trẻ em, rồi không dùng những chất độc hại để trồng cà phê, không lạm dụng trẻ em để mà làm rẻ, giả dụ như vậy.

Thanh Trúc: Xin cảm ơn những lời giải thích của ông.