NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Trí thức Việt kiều có cần Nhà nước "trải thảm đỏ" hay không?

“Làm sao để phát huy nguồn lực trí thức Việt kiều đóng góp vào công cuộc phát triển đất nước ? Góp ý cho TP.HCM định hướng phát triển công nghệ cao, liên kết - hợp tác trong giáo dục bậc đại học và trên đại học” – Đó là 2 nội dung chính của cuộc hội thảo – gặp gỡ của các chuyên gia Việt kiều diễn ra ngày 28-12-2007 tại TPHCM. Ban tổ chức đã nhận được gần 30 bài tham luận và góp ý của các nhà trí thức Việt kiều và đã có 16 tham luận được trực tiếp trình bày tại hội thảo với nhiều ý kiến thảo luận sôi nổi.

Trí tuệ, năng lực và tiềm năng của người Việt Nam ở nước ngoài là nguồn tài nguyên không nhỏ cho đất nước trong thời kỳ phát triển hiện tại mà không phải nước nào cũng có được. "Các trí thức, chuyên gia Việt kiều hàng đầu là những người có vốn liếng kiến thức rất quí báu, nếu tính gộp lại thì phải mất bao nhiêu tỷ Mỹ kim mới tích lũy được, mà nhà nước các cấp từ trung ương đến địa phương không mất tiền mà có thể nhờ vả được".

Vâng, lực lượng trí thức Việt kiều là một tài sản vô giá, là nguồn lực mạnh mẽ có thể góp phần quan trọng đưa đất nước vững vàng hội nhập quốc tế. Nhưng những năm qua, sự đóng góp của Việt kiều nói chung và đội ngũ trí thức nói riêng vẫn còn khiêm tốn so với thực lực; vẫn còn một khoảng cách khá lớn giữa mong muốn và thực tế.

Tâm tư của những người trí thức xa quê:

Được học tập, sống và làm việc nhiều năm ở những nước phát triển, bà con kiều bào đã quen với mức sống tiện nghi, đời sống xã hội văn minh, môi trường làm việc cao cấp với nền khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến.v.v. Do vậy khi trở về Việt Nam, một đất nước chưa phát triển, phải đối diện với nhiều khó khăn thực tại về kinh tế - xã hội, mà trong đó cũng còn không ít những chuyện tiêu cực của một số quan chức các cấp… cho nên đã có không ít trí thức Việt kiều cảm thấy xa lạ, không thể hoà nhập, hoặc có phần chán nản. Vì vậy, họ vẫn băn khoăn trước sự chọn lựa: nên trở về nước hay không?.

“Ở hải ngoại, có một số trí thức/chuyên gia rất muốn về giúp nước, nhưng trước những lời nói hay hành vi dèm pha hoặc xuyên tạc của một số người thiếu thiện chí hoặc những người chống cộng cực đoan, nên họ mang tâm trạng nước đôi”. Đây là ý kiến của một kiều bào Mỹ.

TS Trần Hà Anh, Chủ nhiệm CLB KHKT Việt kiều cho rằng: "Sự thiếu hiểu biết về thực tế của đất nước, tính phức tạp và áp lực đa dạng của môi trường cộng đồng, tầm ảnh hưởng của công tác truyền thông trong nước cũng đã làm cho nhiều trí thức kiều bào có thái độ do dự, chưa muốn dấn thân".

Những điều đó là một thực tế khách quan. Nhưng, có thể khẳng định rằng đa số các nhà khoa học, trí thức VK đều hướng về quê hương đất nước và mong muốn được đóng góp công sức vào công cuộc canh tân phát triển đất nước.

“Trong ngôi nhà sang trọng tiện nghi cao cấp ở nước ngòai tôi vẫn có cảm giác đấy không phải là ngôi nhà của chính mình, không do mình làm chủ. Tại sao chúng ta có thể làm giàu cho đất nước khác mà không trở về làm giàu cho đất nước mình?” Suy nghĩ như vậy nên Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê đã quyết định quay về Việt Nam từ nhiều năm qua.

Ông Hà Dương Đức, giám đốc công ty Officience, một Việt kiều đã trở về sống và làm việc tại VN đã chân thành bộc bạch: "Nếu được hỏi tại sao trở về VN? tôi trả lời ngay rằng, bởi vì ở quê hương tôi cảm thấy sống tốt hơn ở bất cứ nơi nào khác. Tôi gần gủi người thân trong gia đình, tìm lại bạn bè xưa, thân thuộc từng khu phố...".

Nhưng tại sao sự đóng góp của trí thức Việt kiều vẫn chưa mang lại hiệu quả như mong muốn? Theo kỷ sư trẻ Lương Tuấn Anh, “có 3 nguyên nhân chính khiến các chuyên gia VK còn ngần ngại khi quyết định về nước làm việc: Đồng lương không cạnh tranh với nước ngoài; điều kiện làm việc không phù hợp; phải thay đổi chỗ ở kéo theo thay đổi sinh hoạt gia đình”. Do vậy, Để giải quyết bài toán thu hút trí thức Việt kiều dưới góc độ kinh tế học, Tuấn Anh đề nghị 2 giải pháp: “Thứ nhất, Nhà nước phải có những yêu cầu hết sức cụ thể về việc kêu gọi VK về nước. Nên vạch ra chính sách cụ thể để phát triển những ngành nghề quan trọng, đặt ra những yêu cầu cụ thể (đánh giá đúng khả năng) cho các chuyên gia VK trong từng chính sách, và đưa ra những quyền lợi về thu nhập, điều kiện làm việc... Thứ hai, Nhà nứơc cần có những chính sách đem lại cảm giác được đón tiếp như những người thân trở về nhà. Mọi sự đón tiếp ân cần chu đáo đều là sự khích lệ rất lớn, giúp cho Việt kiều cảm thấy được trân trọng và họ sẽ sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn khi về nước làm việc".

Ý kiến này đã bị phản ứng, một Việt kiều bức xúc: "Nên có hình thức chào đón Việt kiều khi trở về ư? Tôi thật sự áy náy về điều này, vì mình cũng là một người VN bình thường. Tôi về VN với tâm tư được đóng góp cho đất nước. Tôi về và chấp nhận những thiếu thốn khó khăn, sẵn sàng đi xe máy hít khói bụi. Tôi muốn làm một phó thường dân và muốn được chia sẻ những khó khăn như người dân trong nước, muốn đi cùng một chuyến tàu như người dân trong nước..."

TS Nguyễn Quốc Vọng ( Việt kiều Úc ) hiện nay đã về Việt Nam công tác ở Trung tâm xuất sắc rau hoa quả của Viện Khoa học Nông nghiệp VN. Mặc dù về cuộc sống cá nhân, ông vẫn đang “sống nhà thuê, đi xe máy đến chỗ làm”… nhưng ông ung dung cho biết: “Làm việc theo phong cách của các nước tiên tiến cộng thêm với nhận thức mình đang làm việc cho quê hương đất nước, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều việc để đóng góp cho đất nước”.

Điều kiện để trí thức Việt kiều phát huy khả năng, đóng góp vào công cuộc phát triển đất nước

"Việc đóng góp tài chính là quan trọng cho sự phát triển của đất nước, nhưng đóng góp kỹ năng, chất xám, sản phẩm trí tuệ, công nghệ mới, công nghệ cao sẽ giúp nâng cao chất lượng cho sự phát triển, bảo đãm phát triển đất nước bền vững. Thu hút các nguồn lực chuyên môn của kiều bào là một biện pháp sáng suốt, bổ sung cho nhiệm vụ đào tạo nhân lực một cách hiệu quả". TS Trần Hà Anh, Chủ nhiệm CLB Khoa học Kỹ thuật Việt kiều TPHCM đã khẳng định như vậy.

Về chế độ, chính sách đối với trí thức kiều bào, theo TS Trần Hà Anh, cần phải đổi mới quan điểm đối với trí thức kiều bào: "Cần nhìn nhận và tôn vinh công sức mà kiều bào đã để ra để học tập, nghiên cứu khoa học, triển khai công nghệ, phấn đấu thăng tiến trong nghề nghiệp và đạt được những thành tích trong chuyên môn và quản lý, vươn lên giành những vị trí xứng đáng tại quốc gia đang định cư. Việc thu hút sự đóng góp chất xám, công nghệ, tay nghề của chuyên gia trí thức kiều bào một cách tích cực và hiệu quả, cần dựa trên cơ sở Nhà nứơc ta trân trọng và có chế độ chính sách phù hợp..."

“Trăm sông cũng trở về biển cả” (dân tộc), nhiều người tuổi đã cao, vì thương dân tộc mà muốn về nước phục vụ một thời gian rồi trở lại hải ngọai sống nốt tuổi già giữa đám con cháu. Với những người con ưu tú của dân tộc muốn về nước phục vụ một thời gian ngắn như vậy, thì nhà cầm quyền nên an tâm mà đối xử lịch sự với họ và để họ thỏai mái làm công tác khoa học phục vụ nhân dân. Trong sự tương kính như thế, trí thức/chuyên gia hải ngoại sẽ tìm thấy ‎ nghĩa của việc làm trong những năm sau cùng của cuộc đời, và họ sẽ khuyên con cái cũng là trí thức chuyên viên sẽ trở về nguồn cội (như kinh nghiệm của bao dân tộc lưu vong, như Do Thái chẳng hạn). Đó là ‎ kiến của Giảng sư Harvard Law School Tạ Văn Tài.

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Vọng nói rằng: “Việt Nam là quê hương của chúng ta. Nhưng đấy là một xã hội – bên những mặt được còn nhiều mặt chưa được, mà thị trường nhân dụng là mặt chưa được của Việt Nam”. "Sự trở về đóng góp của trí thức Việt kiều không hề là một cuộc trở về có trải thảm đỏ. Việt kiều phải trải qua con đường khá khó khăn: Tuy nhà nước có chính sách giúp trí thức Việt kiều nhanh chóng hòa nhập. Nhưng sử dụng được chính sách này lại phải một lần nữa kinh qua một quá trình thủ tục làm hồ sơ cực kỳ nhiêu khê”.

Để thu hút trí thức Việt kiều, theo Kỹ sư Lương Tuấn Anh, Nhà nước phải có yêu cầu hết sức cụ thể về việc kêu gọi Việt kiều về nước, vạch ra chính sách cụ thể để phát triển những ngành nghề quan trọng. Đánh giá đúng khả năng và sự đóng góp của trí thức Việt kiều bằng những quyền lợi về thu nhập, điều kiện làm việc…

Theo ông Hà Dương Đức, thì “Trở về không phải là điều kiện quan trọng nhất để đóng góp cho đất nước. Không nhất thiết cứ phải về nước mới có thể đóng góp. Rất nhiều kiều bào chưa có điều kiện để trở về quê hương, nhưng họ luôn mong muốn được đóng góp. Hãy tạo điều kiện thuận lợi cho việc gặp gỡ và trao đổi: Phải xây dựng được một công đồng gắn kết trên nền tảng của tri thức, vượt qua mọi khoảng cách. Cần tạo điều kiện cho họ bắt đầu quá trình đóng góp từ nơi họ đang sinh sống ở nứơc ngoài, xây dựng dần những mối quan hệ đối tác với trong nước mà không bắt buộc từ bỏ những gì họ đang có”.

Ông Tạ Văn Tài đề nghị: “Nên lập một tổ chức, hay định chế tư, bao gồm các thành viên trí thức trong và ngoài nước, họat động trên nguyên tắc tôn trọng chân lý‎ khoa học, cùng muốn đem khoa học phục vụ dân sinh, phục vụ dân tộc, đóng góp vào sự phát triển toàn diện của xã hội. Tổ chức này sẽ tập họp tòan bộ các nguồn dữ kiện kiến thức chuyên môn và các đường dây liên lạc; sẽ là cầu nối liên lạc giữa trí thức trong nước và ngoài nước, giữa cộng đồng dân tộc trong nước với kiều bào hải ngoại, giữa chính quyền trong nước với các bộ óc chuyên gia…" Nghĩa là tổ chức này sẽ là điểm gặp gỡ giữa Cung và Cầu về chất xám; là điểm tiếp xúc, liên hệ và tuyển dụng trí thức. Các trí thức/chuyên gia kiều bào trên khắp thế giới và các tổ chức/cơ quan hoặc cá nhân trong nước có nhu cầu Cung hoặc Cầu về kiến thức khoa học chuyên môn, chỉ cần qua “một cửa” này là có thể tìm được đối tác thích hợp.

Làn sóng Việt kiều hướng về đất nước, trở về quê hương sinh sống và làm việc ngày càng tăng, góp phần tạo nên những cơ hội và sức mạnh ngày càng lớn. Bên cạnh cơ chế chính sách ngày càng thông thoáng và thủ tục hành chính đơn giản; để thu hút và giữ chân các nhà trí thức làm việc ở quê nhà, thì Việt Nam cần chuẩn bị một cơ sở vật chất tương đối hoàn thiện. Có ý kiến đề nghị: Nên xây dựng một trung tâm dành cho việc đón tiếp với cơ sở hạ tầng và điều kiện thông tin tối ưu, mà ở đó các Việt kiều có thể thuê văn phòng làm việc với tiêu chuẩn quốc tế - nơi họ có thể tiếp tục công việc của họ ở nước ngoài, đồng thời có sự hỗ trợ cần thiết để phát triển dự án đầu tư của họ ở VN…

Để đơn giản hóa các thủ tục, vấn đề quan trọng - theo nhiều chuyên gia - là phải tổ chức cơ quan đầu mối tập trung tiếp nhận, giải quyết, đáp ứng các nguyện vọng của bà con Việt kiều. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác thông tin chính thống, thành lập cơ sở dữ liệu đầy đủ về về khả năng chuyên môn của trí thức Việt kiều, tạo điều kiện pháp lý để tháo gỡ những rào cản về tâm lý, xã hội, hành chính đối với Việt kiều, giúp họ hòa nhập nhanh chóng với cộng đồng trong nước...

Phần lớn ý kiến đều cho rằng trí thức Việt kiều chưa được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho đất nước một cách hữu hiệu. “Trong nước cần thể hiện sự quí trọng, phát huy năng lực sở trường của mọi chuyên gia, trí thức – nói cách khác là trọng dụng họ. Tạo điều kiện làm việc đầy đủ, môi trường làm việc và sinh sống thân thiện cho anh chị em Kiều Bào mới về nước. Sớm giải quyết các vấn đề liên quan đến nhà đất, cư trú, đi lại".

Trí thức VK có cần Nhà nước trải thảm đỏ hay không? - "Chúng tôi không cần trải thảm đỏ mà chỉ cần một môi trường làm việc đúng nghĩa với cơ chế thông thoáng, với những cầu nối giao lưu và những dự án cụ thể... ". Đó gần như là mẫu số chung và được nhiều người đồng tình hưởng ứng tại cuộc hội thảo.

Trí thức Việt kiều đóng góp vào công cuộc phát triển TP.HCM

“Phát huy nguồn lực trí thức Việt kiều đóng góp vào công cuộc phát triển TP.HCM. Thí điểm áp dụng tại Khu Công nghệ cao và Đại học Quốc gia TP.HCM” là nội dung của chương trình Gặp gỡ chuyên gia Việt kiều, được tổ chức trong 2 ngày 27 và 28/12/2007.

Chương trình do Uỷ ban nhân dân TP Hồ Chí Minh chủ trì, với sự phối hợp tổ chức của các đơn vị: Ban quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM, Đại học Quốc gia TP.HCM, Ủy ban về người VN ở nước ngoài TPHCM, Câu lạc bộ Khoa học và Kỹ thuật Việt kiều.

Nội dung chính của chương trình là:

Giới thiệu, thảo luận về mô hình hợp tác giữa trí thức Việt kiều với Khu Công nghệ cao TP.HCM và Đại học Quốc gia TP.HCM, trên cơ sở gắn việc phát triển nguồn lực khoa học công nghệ, đào tạo nhân lực với thị trường khoa học công nghệ trong và ngoài nước.

Phân tích nhu cầu tuyển dụng theo danh mục cụ thể của Khu Công nghệ cao TP.HCM, Đại học Quốc gia TP.HCM, các chế độ, điều kiện mà hai đơn vị này cung cấp cho các chuyên gia, trí thức kiều bào khi tham gia hợp tác.

Tổng hợp kinh nghiệm sử dụng nguồn lực trí thức Việt kiều, đề xuất một số điểm thiết thực cần thực hiện bắt đầu từ năm 2008, làm tiền đề xây dựng một chính sách hoàn chỉnh, lâu dài đối với nguồn lực trí thức người VN ở nước ngoài.

Ngày 27/12/2007, các đại biểu tham quan Khu Công nghệ cao và Đại học Quốc gia. Tại đây, lãnh đạo của 2 đơn vị và trưởng các bộ phận chuyên môn tự giới thiệu về những hoạt động cùng các dự án đã và đang thực hiện. Nêu lên những vấn đề cần tham khảo ý kiến, mời gọi sự hợp tác của các chuyên gia trí thức Việt kiều và cùng thảo luận về nhu cầu nhân lực.

Ngày 28/12/2007, tại khách sạn Rex, các chuyên gia trí thức Việt kiều sẽ tham gia hội thảo về "cơ chế chính sách nguồn nhân lực công nghệ cao TPHCM". Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thành Tài chủ trì hội nghị.

Có khoảng 60 chuyên gia trí thức VK tham dự với gần 30 bài tham luận sẽ được trình bày hội thảo.

Quyền Chủ nhiệm UBVNVNONN (Bộ Ngoại giao) Nguyễn Thanh Sơn sẽ đến dự và phát biểu trao đổi cùng các chuyên gia trí thức Việt kiều.

Trong việc nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến trên thế giới vào VN thời gian qua, đã có những đóng góp đáng kể của lực lượng trí thức người VN ở nước ngoài. Trong quá trình đổi mới để phát triển và hội nhập, đất nước nói chung và TPHCM nói riêng rất cần sự đóng góp trí tuệ của các chuyên gia trí thức Việt kiều. Các anh chị em trí thức Việt kiều vẫn luôn hướng về đất nước và mong được góp sức mình vào công cuộc chấn hưng đất nước, tuy nhiên sự đóng góp vẫn còn khiêm tốn so với thực lực.

Chương trình hội thảo lần này đi vào những vấn đề cụ thể tại hai địa điểm cụ thể, hy vọng sẽ khơi thêm dòng chảy trí tuệ giúp TP.HCM ngày một phát triển, xứng đáng là một trung tâm kinh tế - khoa học - công nghệ năng động của cả nước.

Quỳnh Lệ

Trí thức Việt kiều : một nguồn tài nguyên

Chương trình gặp gỡ chuyên gia Việt kiều với chủ đề Phát huy nguồn lực trí thức Việt kiều đóng góp vào công cuộc phát triển TP.HCM tổ chức cuối tháng 12.2007 vừa qua đã đặt ra nhiều gợi mở cho những giải pháp phát triển nguồn lực không chỉ ở tầm thành phố. Trong khuôn khổ một chương trình hai ngày, gần 60 chuyên gia Việt kiều đã gặp gỡ, tham quan, thảo luận về cơ chế chính sách, nhu cầu nhân lực, hướng phát triển khoa học - công nghệ...

Bài toán nguồn nhân lực

Trong giai đoạn hội nhập kinh tế hiện nay, Việt Nam thiếu gì mà trí thức Việt kiều có khả năng đáp ứng? TS Nguyễn Quốc Bình (Canada), hiện đã về nước, làm phó giám đốc Trung tâm Công nghệ sinh học TP.HCM, cho rằng khó khăn chính là nhân sự. Nhân sự có thể làm việc tương đương với thế giới, tức là người làm việc một cách chuyên nghiệp. Muốn đào tạo được những người đầu ngành không phải chỉ có thể đào tạo trong ghế nhà trường, và cũng không thể đào tạo trong 2 - 5 năm như đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ. Những người đó cần có thời gian tích luỹ kinh nghiệm trong môi trường tốt. Lực lượng Việt kiều có chuyên môn cao, có kinh nghiệm làm việc ở các nước tiên tiến, có ngoại ngữ tốt, chính là nguồn nhân lực đã được đào tạo sẵn chờ ta khai thác. Nếu chúng ta không mở rộng thu nhận nhân tài này thì chúng ta sẽ phải trả giá bằng thời gian. Nước Mỹ đã tận dụng tốt những người nhập cư tài giỏi trong những thế kỷ trước cho nên họ đã phát triển nhanh. Singapore hiện tại cũng đang thực hiện chính sách này.

Đồng tình với ý kiến này, GS-TS Nguyễn Văn Chuyển (Nhật Bản) lấy ví dụ Trung Quốc là quốc gia thứ ba trên thế giới đã bắn hoả tiễn lên mặt trăng. Trung Quốc ngày nay phát triển rất mạnh về khoa học - kỹ thuật (KH-KT): IT, máy móc, dược phẩm; cạnh tranh không chỉ về lượng mà đang bắt đầu chú trọng vào chất lượng của sản phẩm để cạnh tranh trên thương trường thế giới. Những thành quả này đều có công sức đóng góp của các Hoa kiều trở về từ các nước phát triển, đặc biệt từ Mỹ. Nam Triều Tiên cũng đã rất thành công trong vấn đề xây dựng KH-KT, nhờ vào việc thu hút kiều dân của họ từ nước ngoài về đóng góp cho đất nước từ hơn 20 năm qua. Sự thành công của Nam Triều Tiên và Trung Quốc là nhờ vào sự kết hợp hài hoà giữa lòng yêu thương và hỗ trợ thích đáng về kinh tế cho người trở về.

Việt Nam chúng ta có số lượng người Việt định cư hay làm việc ở nước ngoài không phải là ít, đặc biệt trong số đó nhiều anh chị Việt kiều giữ trọng trách tại các trường đại học và các công ty hàng đầu trên toàn thế giới, có kinh nghiệm và khả năng khoa học kỹ thuật cao, hơn nữa rất có tâm huyết cải cách giáo dục, xây dựng đất nước.

Sự lựa chọn cho công nghệ

Các chuyên gia đề nghị Nhà nước phải có những yêu cầu thật cụ thể về những lĩnh vực cần thu hút chất xám Việt kiều để định hướng cho nguồn "cung". Nhiều chuyên gia Việt kiều không về nước dự hội nghị lần này được, nhưng cũng "sốt sắng" gởi tham luận, ý kiến về đóng góp. TS Nguyễn Đức Thái (Nhật Bản) đề xuất: Nếu chúng ta xem định hướng phát triển của thế giới cho kỷ nguyên 21 thì Biotech là lĩnh vực hàng đầu để giải quyết những vấn đề cần bàn của xã hội từ thực phẩm, y tế đến năng lượng và môi trường. Nhìn vào chính sách phát triển của các nước láng giềng như Trung Quốc đang triệt để khai thác Biotech để chạy đua với các cường quốc Âu Mỹ. Đối với Thái Lan, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc... Biotech cũng là khoa học nền tảng trong việc canh tân hóa đất nước họ; trong thập niên qua các hãng Biotech đã mọc lên như nấm ở nhiều nơi trong khu vực Đông Nam Á. Các nước Phi châu đã lập những liên minh khoa học với nhau để triển khai Biotech cho canh nông và y tế nhằm giải quyết nạn khan hiếm thực phẩm và các bệnh dịch tễ.

Biotech ở Việt Nam cũng đang chuyển mình và đã có một số ứng dụng tuy giới hạn. Những kỹ thuật gene nền tảng đang được triển khai ở các trung tâm nghiên cứu đầu não ở Hà Nội và TP.HCM. Một số thành công đáng kể như kỹ thuật reverse genetic rất quan trọng để tạo vaccine; protein expression để tạo các protein trị liệu; kỹ thuật chuyển gene để tạo giống và trị liệu bằng gene. Những thành công này phần lớn chỉ ở mặt kỹ thuật và cần được khai triển nhanh để đưa vào công nghệ có giá trị ứng dụng. Đây là tiến trình đòi hỏi nhiều dữ kiện bệnh lý và thử nghiệm lâm sàng mà Việt Nam có nhiều lợi điểm so với những nước khác. Trung Quốc cũng có những lợi điểm này và họ đã áp dụng tối đa để cạnh tranh. Một thí dụ điển hình là gene P53 được khám phá từ Anh và Mỹ và liên hệ đến 80% các bệnh ung thư, nhưng Trung Quốc đang có những thử nghiệm lâm sàng rất thành công dùng gene này và có thể là nước có sản phẩm sinh học trị liệu P53 trước Anh và Mỹ.

TS Nguyễn Trọng Bình (Mỹ) có tham gia các chương trình hợp tác nghiên cứu và đào tạo trong nước nhận xét: "Hiện nay, các nghiên cứu về sinh học, công nghệ sinh học ở Việt Nam có một số thành công ở mức thí nghiệm tại phòng nghiên cứu mà chưa sẵn sàng hoặc có đủ khả năng đưa vào sản xuất đại trà theo hướng công nghiệp. Nói cụ thể, khâu Research For Development hầu như chưa có, khâu nghiên cứu tối thích (optimal research), nhất là khâu Q/C hàng sản xuất (Quality control) chưa có. Thí dụ mặt hàng sản xuất thuỷ sản chưa có Q/C chuẩn mực, do đó hàng thuỷ sản gửi bán sang Mỹ thường có món bị FDA trả lại vì không hợp vệ sinh và chứa hoá chất hoặc kháng sinh. Nếu nói đến các mặt hàng thuộc sinh học (Bio-pharmaceutical) hoặc kit chẩn đoán thì vấn đề Q/C đòi hỏi rất cao".

Việc đưa thành tựu trong phòng nghiên cứu vào nhà máy sản xuất đại trà theo hướng công nghiệp, đầy đủ tiêu chuẩn vệ sinh và cơ cấu quản lý chất lượng hàng hoá... vẫn còn nhiều thử thách. Thị trường các mặt hàng công nghệ sinh học là một thị trường lớn, một mũi nhọn của công nghệ hiện đại; để có thể sản xuất mặt hàng này theo tiêu chuẩn quốc tế, cần phải hoàn thiện toàn bộ quá trình sản xuất từ khâu quản lý, tổ chức nhà máy, nhân sự sản xuất, các chuyên gia...

Nỗi lòng người dấn thân

TS Trần Hà Anh, phụ trách Câu lạc bộ KH-KT Việt kiều nhận xét: Đóng góp chất xám đòi hỏi người cống hiến dấn thân nhiều hơn so với việc gởi tiền về nước. TS Nguyễn Quốc Vọng (Úc) đã về nước làm việc hẳn, hiện phụ trách một trung tâm sản xuất rau hoa quả thuộc Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam, có nhiều trăn trở thật sâu sắc: Việt Nam là quê hương của chúng ta. Nhưng đấy là một xã hội - bên những mặt được - còn có nhiều mặt chưa được, mà thị trường nhân dụng là mặt chưa được của Việt Nam. Ví dụ như ngành nông nghiệp, mặc dù có rất nhiều điều bất cập cần phải làm ngay để góp tay với 70% dân nông thôn, tức 58 triệu người, đối mặt với những khó khăn thách thức của thị trường thời hội nhập. Vậy mà không ai biết Bộ Nông nghiệp/Sở Nông nghiệp có cần tuyển nhân viên không? Nếu có thì cần những chuyên viên nào, cho bộ sở nào?

Tuy nhiên nếu ở nước ngoài chúng ta đã phải kiên trì theo dõi thị trường tuyển dụng hàng tháng trời để tìm một việc làm; chúng ta đã phải đắn đo suy nghĩ để viết một CV ngắn gọn nhưng nêu bật được những kỹ năng và kinh nghiệm của mình cho thích hợp với cái "position" mình nhắm đến ở đại học, viện nghiên cứu hay một công ty thì ở Việt Nam chúng ta cũng phải làm y như vậy. Cho nên dù ở trình độ nào, nhà nghiên cứu đầu ngành hay chỉ mới ra trường, trí thức Việt kiều cũng phải xem thị trường nhân dụng Việt Nam như nước sở tại. Phải nghiêm chỉnh nghiên cứu tình hình ngành nghề của mình ở Việt Nam để biết tình hình khoa học kỹ thuật đã đến đâu, chúng ta phải làm gì, ở đâu, với ai. Khi đã nghiên cứu nghiêm túc, trí thức Việt kiều sẽ thấy Việt Nam cũng có một kiểu làm, một hệ thống tuyển dụng dễ hiểu y như những quốc gia khác trên thế giới.

Tường Vy

"Kêu gọi Việt kiều về hẳn Việt Nam làm việc, sinh sống… không phải lúc nào cũng thuận lợi và không phải ai cũng có điều kiện để hưởng ứng. Theo tôi, không nhất thiết anh chị em Việt kiều phải về hẳn Việt Nam, chỉ cần anh chị em làm việc một vài tháng ở Việt Nam là tốt lắm rồi. Viện Khoa học công nghệ tính toán của Sở Khoa học - công nghệ TP.HCM đã bổ nhiệm Việt kiều làm đồng viện trưởng nhưng cơ chế làm việc chỉ ba tháng trong năm.

Xu hướng một bộ phận chuyên gia trí thức Việt kiều sắp nghỉ hưu nhưng đã có nhiều kinh nghiệm ở các lĩnh vực, nhất là công nghệ cao, có mong muốn về Việt Nam tham gia các chương trình, dự án phát triển và đào tạo nhân lực. Bộ phận Việt kiều vừa là doanh nhân, vừa là chuyên gia cũng có nhu cầu muốn hợp tác đầu tư. TP.HCM đang rất cần các nguồn lực chất xám này mà ưu tiên trước hết là công nghệ sinh học, công nghệ nano, khoa học công nghệ tính toán...".

PGS-TS Phan Minh Tân - Giám đốc Sở Khoa học công nghệ TP.HCM