NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Trồng rau công nghệ cao - một trong những "con đường" đưa nông sản Việt Nam thâm nhập thị trường thế giới - TS Nguyễn Quốc Vọng , Kiều bào Úc

Dòng sông và cánh đồng, mảnh vườn và gốc rạ, mái tranh cùng ngọn khói lam chiều…tất cả như đã thấm sâu, như khắc ghi trong tâm hồn, trong sâu thẳm ký ức người đàn ông ấy, để dẫu thời trai trẻ hay khi đã thành danh nơi xứ người, anh vẫn mải miết đi tìm một chân trời mơ ước: được làm một điều gì đó cho người nông dân xứ mình. Và anh đã trở về, sau bao khó khăn, như một sự gửi gắm, như niềm kỳ vọng của người cha đáng kính khi đặt tên cho đứa con bé bỏng của mình : Nguyễn Quốc Vọng !

Có lẽ tấm gương hy sinh vì dân vì nước của người cha – nhà thơ Nguyễn Đình Thư đã trở thành điểm tựa , là nỗi khắc khoải trong tim cậu bé mồ côi cha khi mới lên 2 tuổi, phải sống trong cảnh đất nước chiến tranh, chìm trong đau thương, chia cắt. Cậu học trò trường Quốc học ( Huế ) Nguyễn Quốc Vọng luôn mong mỏi “lớn lên phải làm điều có ích cho quê hương, cho đồng bào mình”. Rồi chính hương đồng gió nội, chính vườn cau, ruộng lúa, chính bờ ruộng, khóm rau đã nuôi lớn cậu bé nhà quê đã khiến cậu chỉ muốn học để làm một “người nông dân có tri thức”. Vậy là rời xứ Huế mộng mơ, vào Sài Gòn để học ngành nông học, Nguyễn Quốc Vọng muốn tiến sâu vào sự tiến bộ, vào những khoa học kỹ thuật tiên tiến của nghề nông.

Tốt nghiệp đại học loại giỏi, năm 1969 anh được nhận học bổng của Chính phủ Nhật Bản. Lấy bằng tiến sĩ nông học tại Đại học Tokyo, làm nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ tại hãng hạt giống Takii, Nhật Bản, con đường công danh, sự nghiệp mở ra trước mắt với một tương lai sáng lạn cho người thanh niên xứ Huế. Nhưng như một “gánh nợ”, hay đúng hơn, là nỗi khắc khoải trong tâm của một người con Việt, Nguyễn Quốc Vọng luôn khao khát được trở về. Nhất là khi ấy, quê nhà Việt Nam đã được thống nhất.

Khắc khoải một “con đường” trở về

Năm 1977, sau khi lấy bằng Tiến sĩ nông học, Nguyễn Quốc Vọng làm đơn xin được trở về Việt Nam, mang những kiến thức, kinh nghiệm mình tích lũy được cống hiến cho quê hương còn đói nghèo vì chiến tranh tàn phá. Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật khuyên anh không nên vội về! Ra đi từ miền Nam, tình hình lúc ấy không hề thuận lợi cho những người như anh! Buồn, và nén lòng chờ đợi.

Năm 1979, lần đầu về thăm quê hương sau 10 năm xa cách. Ấn tượng để lại trong anh sao mà chua xót: nước mình, dân mình nghèo quá. Ăn cơm độn khoai, áo không đủ mặc, vườn ruộng đìu hiu. Anh bàn với vợ - chị Nguyễn Thanh Tuyền, cùng nhau về nước. Anh có những kiến thức nông học, chị với những hiểu biết, kinh nghiệm của một nhà hóa học chuyên về ngành dệt, sẽ thích hợp biết bao nếu góp tay giúp người dân bớt nghèo. Anh làm việc với Viện Nông nghiệp Hà Nội và bày tỏ mong muốn của mình. Câu trả lời: anh chị khoan hẵng về. Cứ ở “bên ngoài”, sự đóng góp sẽ hiệu quả hơn. Lại tiếp tục đợi chờ!

Nhưng một người luôn luôn muốn “dấn thân” cho ngành khoa học mà mình yêu thích, một người luôn mong mỏi được đem những gì mình biết về “chia sẻ” với người dân quê mình như TS Vọng lại không thể vào làm việc ở những cơ quan nghiên cứu nhà nước vì vào thời đó Chính phủ Nhật Bản không thu dụng người nước ngoài. Làm cho các hãng tư nhân thì anh lại không muốn, ở đó cũng không đủ điều kiện để anh nghiên cứu. Lại càng khó có thể làm gì “ở bên ngoài” để giúp “từ xa” cho quê hương mình. Lại băn khoăn, bứt rứt!

May sao ( không biết có nên gọi là “may” không!? ) Chính phủ Australia thời kỳ ấy đang thực hiện chính sách di dân, thu hút các dân tộc khác đến định cư trên xứ sở đất rộng, người thưa này. Và những nhà khoa học trí thức như anh luôn được trọng dụng. Năm 1980 Nguyễn Quốc Vọng sang Australia định cư. Anh vào làm việc tại Bộ Nông nghiệp bang New South Wales với vai trò là chuyên viên nghiên cứu và tạo giống rau quả, chủ yếu về rau quả Á châu như cà chua, dưa leo, xà lách và trà xanh Nhật Bản.

Định cư ở Nhật gần 12 năm, Nguyễn Quốc Vọng hiểu rất rõ về nhu cầu cũng như tình hình thị trường rau quả của Nhật Bản. Anh đưa ra dự án xây dựng và phát triển ngành xuất khẩu rau quả của Australia với thị trường Nhật. Bộ Nông nghiệp đắn đo: trước giờ Australia chỉ xuất khẩu thịt bò, lúa mì, bông vải…Nguyễn Quốc Vọng lập luận: tại sao lại bắt nông dân phải “hy sinh” cho một ngành khác, trong khi đó, nếu có sự chuẩn bị cho một ngành mới, đầy tiềm năng thì chắc chắn sẽ thành công. Bộ Nông nghiệp bang New South Wales ủng hộ. Và ngay khi anh đang bắt tay vào nghiên cứu những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của người dân Nhật, phía Nhật Bản đã “đánh tiếng” đặt hàng. Nguyễn Quốc Vọng trở thành chuyên gia đầu ngành về rau quả Á châu và trà xanh Nhật Bản khi phát triển mạnh mẽ ngành này tại Australia, tạo nên hiệu quả kinh tế cao, góp phần đáp ứng nhu cầu nội địa và xuất khẩu rau quả của Australia. Những sản phẩm do anh nghiên cứu dành riêng cho khách hàng là kiều bào Nhật và những cộng đồng dân châu Á khác cũng được tiêu thụ mạnh mẽ. Có thể nói anh là người góp phần không nhỏ vào việc phát triển nông nghiệp Australia.

Với gần 200 tiểu luận nghiên cứu và bài báo đăng ở các sách và tạp chí khoa học và báo chí phát hành tại Australia, Hoa Kỳ và Nhật Bản, Nguyễn Quốc Vọng cũng đã nghiên cứu và đưa vào sử dụng 5 giống cà chua, trong đó có 2 giống F1-rin đã từng được sử dụng rộng rãi tại 10 quốc gia trên thế giới vì tính tồn trữ cao. Anh được nhiều trường đại học ở Australia và Việt Nam mời làm giáo sư thỉnh giảng và hướng dẫn nhiều luận án tiến sĩ, thạc sĩ. Đang làm việc tại Viện Nghiên cứu Rau Hoa Quả Gosford, Trung tâm Nghiên cứu Quốc gia Nhà lồng thuộc Bộ Nông nghiệp New South Wales, Nguyễn Quốc Vọng lại càng có nhiều điều kiện để nghiên cứu, thí nghiệm và đưa vào thực tiễn những giống cây trồng có chất lượng cao. Điều này lại càng khiến anh trăn trở: tại sao không đem những điều này về “chia sẻ” với người nông dân quê mình ?

“Bơi” trong “dòng sông” quê hương

Là một chuyên gia trong lĩnh vực rau quả, là người luôn đau đáu với nền nông nghiệp ở quê nhà, TS Nguyễn Quốc Vọng hiểu rất rõ Việt Nam hoàn toàn có lợi thế để sản xuất rau sạch dạng công nghệ cao, Việt Nam có khả năng xuất khẩu rau quả chứ không chỉ là gạo. Ngay từ những năm 1992 - 1993, TS Vọng đã chủ trương Việt Nam nên đa dạng hóa, chuyển đổi giống cây trồng. Anh cho rằng Việt Nam có 5 lợi thế để sản xuất rau sạch dạng công nghiệp. Bên cạnh các lợi thế như :

Ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại của thế giới vào hoàn cảnh VN để nhanh chóng sản xuất rau quả có năng suất cao, đáp ứng thị trường nước ngoài; Lao động nông thôn Việt Nam vừa trẻ, vừa rẻ kéo theo giá thành nông sản VN sẽ rẻ, có thể cạnh tranh với các quốc gia khác, kể cả Trung Quốc; Khí hậu và đất đai VN thích hợp với nhiều chủng loại rau; VN có một thị trường trong nước với trên 80 triệu dân cùng 2 triệu khách du lịch mỗi năm sẽ là một thị trường đủ lớn để thẩm định chất lượng trước khi xuất khẩu; là lợi thế thứ 5 đầy hấp dẫn: VN nằm ở một vị trí trung tâm của thị trường xuất khẩu châu Á lớn như Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông… với 12 tỉ USD rau quả, trái cây được nhập khẩu mỗi năm. Nếu VN đạt được kim ngạch xuất khẩu chỉ 10%/năm của thị trường này thì VN sẽ có thêm 1,2 tỉ USD mỗi năm. Và như vậy vấn đề lao động ở nông thôn cũng sẽ được giải quyết vì rau quả cần nhiều lao động hơn trồng lúa!

Những suy nghĩ, trăn trở, những nghiên cứu và suy tư của TS Vọng về ngành rau quả VN cũng chính là điều thôi thúc anh bắt tay vào xây dựng đề án sản xuất rau công nghệ cao ở Việt Nam theo đề nghị của ông Ngô Thế Dân, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Việt Nam, khi ông qua Australia (1999). Đề án “Nghiên cứu sản xuất rau sạch dạng công nghệ cao và tăng cường năng lực về kiểm tra chất lượng, quản lý sau thu hoạch cho ngành sản xuất rau” của anh đã được Chính phủ Australia chấp nhận tài trợ để đào tạo chuyên viên VN những kỹ thuật sản xuất rau công nghệ cao; đồng thời chuyển giao công nghệ giữa Australia và VN; tạo mối liên kết giữa “ba nhà”: nhà nông, nhà nước và nhà kinh doanh. Dự án được thực hiện từ năm 2001 – 2003 với sự phối hợp của Viện Rau quả Hà Nội, Trường Đại học Nông Lâm Huế và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, phía Australia do TS Vọng làm Giám đốc điều hành. Dự án đã đạt được những kết quả khả quan và chính từ tầm quan trọng của nó mà dự án thứ 2 lại được triển khai, lần này “hướng” về miền Tây sông nước, cụ thể là Đại học Cần Thơ. Dự án sẽ “bắt tay” với nhà kinh doanh là siêu thị Metro để phân phối rau quả công nghệ cao. TS Vọng cho biết hiện dự án đang thực hiện trồng các loại rau quả công nghệ cao ở vùng Đức Trọng, Đơn Dương (Lâm Đồng), đặc biệt đang khôi phục lại vùng trồng cà chua Đơn Dương vốn đã bị “hoang hóa” vì sâu bệnh.

Trò chuyện với NVX, TS Nguyễn Quốc Vọng luôn trăn trở: “VN có một tiềm năng rất lớn về xuất khẩu rau quả, thế nhưng VN lại đang thiếu một “chứng chỉ”. Ở VN chúng ta hay nói đến “thương hiệu”, nhưng chính chất lượng cao, an toàn của sản phẩm, được đảm bảo trong một thời gian liên tục mới là thương hiệu. Nghĩa là hàng nông sản VN phải được kiểm tra nghiêm túc về an toàn vệ sinh và chất lượng, khi ấy thương hiệu VN mới thật sự có giá trị. Khi ấy, việc xuất khẩu nông sản VN, đặc biệt là trái cây, rau củ mới có cơ hội thâm nhập thị trường to lớn của thế giới”. TS Vọng đã viết rất nhiều bài báo về vấn đề này đăng tải trên các phương tiện truyền thông ở VN. Anh khẳng định: “VN đang chuẩn bị gia nhập WTO, đây là cơ hội tốt để VN thâm nhập thị trường nông sản thế giới có kim ngạch khoảng 548 tỉ USD/năm. Tuy nhiên nông nghiệp VN sẽ phải đối đầu với nhiều thách thức mới rất phức tạp và khó khăn”.

Tại sao một TS nông học với nhiều thành công và được trọng dụng ở xứ người lại “loay hoay” mãi về một nền nông nghiệp vốn còn nghèo và lạc hậu như VN? Đơn giản: anh là người đã “tắm đẫm” cái không khí “quê mùa” ấy từ thuở ấu thơ và anh yêu nó, say nó như say một mối tình! Cũng vì thế, hết 60% thời gian của anh hiện nay là dành cho VN: bay đi bay về quê hương mỗi năm 2 lần; đi Hà Nội, lên Lâm Đồng, xuống miền Tây, qua lại Australia…anh như con cá đang vẫy vùng tự do trong dòng sông quê hương, thỏa chí thực hiện mong ước của mình.

Người “mắc nợ” nông dân Việt Nam!

Kiểm tra tiến trình thực hiện dự án, xem xét, tính toán đầu ra cho bài toán xuất khẩu nông sản VN, về Australia lại lao vào tổ chức hội thảo đánh giá dự án…TS Nguyễn Quốc Vọng đang là một “nhà ngoại giao” cho nông dân, cho ngành nông sản VN khi nối kết giữa các nhà khoa học, nhà nông, nhà kinh doanh VN với Chính phủ nước sở tại để nhận từ họ sự giúp đỡ, chuyển giao công nghệ. Bạn bè anh có người hỏi “Mày khùng hả?” khi thấy anh cứ đi đi về về, “lao” đầu vào những việc “chân đất” cực nhọc. Anh chỉ cười! Anh biết chứ, về VN là đối đầu với những khó khăn, với nhiều phức tạp trong công việc, trong cuộc sống; nhưng anh yêu mảnh đất này, anh hạnh phúc khi được làm những điều mình mơ ước, nhất là bên anh luôn có người bạn đời sẵn sàng thông cảm, sẻ chia.

Cũng như anh, chị Tuyền cũng có những suy tư, trăn trở về công việc, về quê hương, cũng muốn làm điều gì đó cho mảnh đất mình đã sinh ra. Chị đã luôn bên anh, động viên và hỗ trợ anh, dù chỉ là “nhắc anh ấy những gì ảnh quên, nghe phụ anh ấy những gì ảnh nghe không kịp, bởi 2 người vẫn hơn 1 người!”. Anh chị đã quyết định sẽ trở về VN, xây dựng một trang trại ở Lâm Đồng, như một mô hình sản xuất rau công nghệ cao, để thực hiện những ước nguyện của mình: chuyển giao công nghệ cho bà con nông dân; thay đổi quan niệm rề rà, chậm chạp của nghề nông, giúp bà con nông dân hiểu thế nào là làm nông một cách bài bản.

TS Vọng luôn băn khoăn: “Khi VN gia nhập WTO, người nông dân sẽ phải đối đầu với thách thức là nền sản xuất nhỏ, manh mún sẽ không thích hợp với công nghệ cao, sẽ bị đào thải. Vì sức ép của thị trường cần có một lượng hàng hóa lớn, chất lượng cao, an toàn vệ sinh và giá rẻ, VN phải phát triển công nghệ cao trong nông nghiệp. Điều này buộc nông dân phải nhanh chóng thay đổi tư duy và kỹ thuật cho hợp với yêu cầu mới”. Để người nông dân sống được với nghề của mình, để ngành nông sản VN có thể thâm nhập thị trường thế giới, TS Vọng lại đang “lao vào” xây dựng, thuyết phục các nhà quản lý VN và chính anh đang tiến hành qua dự án của mình để làm sao người nông dân “bắt tay” được với nhà kinh doanh, nhà nước để cùng hợp tác làm việc, chuyển giao công nghệ về kỹ thuật canh tác, quản lý sau thu hoạch… Anh cho rằng, nông dân cần có một hiệp hội của mình, khi chính họ đứng ra đảm đương công việc của mình, dưới sự trợ giúp của Nhà nước, họ sẽ đóng góp tích cực và hữu hiệu cho ngành nông nghiệp. Và anh khẳng định: “Nếu nông dân được tham gia vào những hiệp hội có tổ chức hợp lý để qua đó họ được nhanh chóng trang bị đầy đủ kỹ thuật công nghệ cao, thì việc cạnh tranh tốt với hàng ngoại tại sân nhà và chỉ tiêu đạt 4 tỉ USD xuất khẩu nông lâm sản vào năm 2010 không phải là điều vượt quá tầm tay”.

Tại sao lại không chứ? Ngành nông sản VN sẽ có nhiều cơ hội để vươn xa ra thị trường quốc tế khi nó đã có đầy đủ tiềm năng, chỉ cần có những bước đi hợp lý, khoa học và đồng bộ, và cần có những “cú hích” từ những con người đầy tâm huyết với quê hương như TS Nguyễn Quốc Vọng, cảm nhận hạnh phúc khi được “xắn tay áo” lăn lộn cùng mưa nắng với người nông dân. Bởi cả anh và người bạn đời của mình đều tâm niệm: “Gần 40 năm sống ở nước ngoài, đã tiếp xúc, làm việc với môi trường hiện đại, tiên tiến ở Nhật, ở Australia, chúng tôi hiểu về VN sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng có sao đâu, được trở về làm việc trên quê hương mình là vui rồi, hạnh phúc rồi. Làm việc cho người nước ngoài bao nhiêu năm, nay chúng tôi sẵn sàng đóng góp cho sự tiến bộ của đất nước. Người nông dân VN đã phải chịu thiệt thòi trong chiến tranh, giờ sống trong hòa bình mà cuộc sống vẫn còn nghèo khó. Phải làm điều gì đó để “trả nợ” cho người nông dân. Đó không chỉ là trách nhiệm mà còn là hạnh phúc của chúng tôi”.

Chiều đã xuống. Lát nữa đây TS Vọng lại bước vào một cuộc họp với Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam. Những ngày sau lại bay đi Hà Nội, rồi lại lên Lâm Đồng…Tất tả và bận rộn như một người nông dân thứ thiệt, nhưng là “nông dân có trí thức”, “nông dân công nghệ cao”, vị TS nông học ấy muốn trao tặng tất cả trái tim, tấm lòng và khối óc mình cho mảnh đất quê hương. Những gì anh “gieo” xuống đã đâm chồi nảy lộc!

Tố Phương