NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

TRUNG TÂM CÔNG NGHỆ SINH HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ NHU CẦU HỢP TÁC VỚI TRÍ THỨC VIỆT KIỀU

Giới thiệu về Trung tâm Công nghệ Sinh học TP. Hồ Chí Minh

Trung tâm Công nghệ Sinh học TP. Hồ Chí Minh được thành lập theo Quyết định số: 161/2004/QĐ-UB ngày 02 tháng 7 năm 2004, của UBND TP. Hồ Chí Minh với các chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao, đào tạo, sản xuất, thương mại hóa các sản phẩm về công nghệ sinh học thuộc các lĩnh vực: nông nghiệp, y tế và môi trường. Là một mô hình trọng điểm thực hiện một cách đồng bộ từ nghiên cứu đến thử nghiệm, sản xuất, thương mại hóa sản phẩm Công nghệ Sinh học với quy mô lớn không chỉ tại Thành phố Hồ Chí Minh mà cả khu vực. Việc hình thành Trung tâm Công nghệ Sinh học đạt tiêu chuẩn quốc tế nhằm mục đích kết hợp nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo về công nghệ sinh học theo tinh thần chỉ đạo của Chỉ thị số 50/CT-TW ngày 04/3/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc đẩy mạnh phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;

Định hướng hoạt động

- Nghiên cứu ứng dụng: Trong giai đọan đầu, cùng với việc xây dựng đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học và đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, họat động của Trung tâm tập trung vào công tác nghiên cứu ứng dụng. Ưu tiên cho nghiên cứu đưa vào sản xuất các chế phẩm sinh học phục vụ cho nông nghiệp do chi phí đầu tư thấp. Trong lĩnh vực y tế, ưu tiên ứng dụng các công nghệ sắp hết hạn hay đã hết hạn bản quyền để đưa vào sản xuất tại trung tâm hay hợp tác với các đơn vị kinh doanh khác. Hiện nay, một số sản phẩm về dược sinh học như Insuline, Interferon, một số vacxin tái tổ hợp… đã và đang hết hạn bản quyền. Việc sản xuất mang tính thừa kế các công nghệ đó, chúng ta không phải trả tiền bản quyền, giảm bớt được chi phí khá lớn trong giá thành, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho Việt nam.

- Đào tạo và hợp tác quốc tế: Nhiệm vụ đào tạo một lực lượng đội ngũ cán bộ có chuyên môn cao về Công nghệ Sinh học được đặt lên hàng đầu. Trung tâm phải là nơi tập trung các chuyên gia, cán bộ khoa học giỏi trong lĩnh vực Công nghệ Sinh học ứng dụng. Việc đào tạo đội ngũ sẽ được gắn liền với nghiên cứu ứng dụng, với sản xuất tại chỗ, phục vụ cho từng công đoạn sản xuất. Mục tiêu đề ra sau năm 2010 trở đi, khi Trung tâm đã định hình và đi vào hoạt động hiệu quả, hàng năm có thể tiếp nhận sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh. Mở rộng quan hệ quốc tế với các viện trường, hiệp hội của các nước có nền công nghệ sinh học phát triển để tiếp nhận thông tin, chuyển giao công nghệ và phối hợp nghiên cứu, đào tạo nhân lực.

- Sản xuất: là một phần họat động của Trung tâm. Trung tâm sẽ đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất và đóng gói một số sản phẩm dựơc sinh học với công nghệ được chuyển giao từ trong nước hoặc ngòai nước. Nhà máy sẽ xây dựng trên tiêu chuẩn GMP với độ an toàn cấp 2. Dây chuyền hoàn chỉnh để sản xuất từ khâu giữ giống, nhân giống, lên men, chuẩn bị môi trường, thu hoạch, chiết tách, tinh chế các sản phẩm protein có hoạt tính. Ngoài ra, sẽ xây dựng các xưởng sản xuất các chế phẩm sinh học phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Về cây trồng, sẽ có một bộ phận trồng thử nghiệm cây chuyển nạp gene, sản xuất cây giống sạch bệnh ở quy mô lớn.

- Kinh doanh: Mô hình phát triển của Trung tâm dự kiến sẽ phát triển mạnh bộ phận kinh doanh, thương mại hóa sản phẩm nhằm đưa nhanh các sản phẩm sinh học ra thị trường trong nước và xuất khẩu. Lợi nhuận thu được từ việc kinh doanh sẽ được tái đầu tư, phục vụ cho việc mở rộng nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và sản xuất.

Nhu cầu đào tạo, hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ:

Đối với Việt Nam, việc phát triển công nghệ sinh học là lĩnh vực mới, chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm, lực lượng cán bộ khoa học giỏi, trình độ cao trong lĩnh vực này còn thiếu rất nhiều. Chưa kể việc đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, việc đào tạo đội ngũ còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy, cùng với chủ trương của Chính phủ về triển khai Chương trình phát triển công nghệ sinh học đến năm 2010 – 2020 thì việc xây dựng chính sách thu hút chất xám, các trí thức Việt kiều làm việc hợp tác trong lĩnh vực này là rất cần thiết và hiệu quả.

Theo chủ trương của Thành phố Hồ Chí Minh, dự án xây dựng Trung tâm Công nghệ Sinh học sẽ được xây dựng trên khuôn viên 23 ha với tổng kinh phí đầu tư khỏang 100 triệu USD, với nguồn kinh phí đầu tư chủ yếu từ ngân sách Thành phố. Nếu dự án được đầu tư đồng bộ và đầy đủ thì số lượng cán bộ khoa học làm việc cho Trung tâm sẽ cần từ 300 – 400 người, trong đó lực lượng cán bộ có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ trở lên chiếm 50%.

Việc đào tạo cán bộ trở nên cấp bách, tuy nhiên giải pháp gửi đi đào tạo chỉ có hiệu quả khi :

- Chúng ta phải có đủ nguồn kinh phí để gửi đi đào tạo ở các nứơc có trình độ cao về công nghệ sinh học.

- Thời gian đào tạo thạc sĩ – 2 năm, tiến sĩ – 4 năm nhưng các cán bộ được đào tạo này chưa có kinh nghiệm nhiều, vẫn cần phải có các nhà khoa học đầu đàn hướng dẫn.

Một giải pháp khả thi nhưng cần có chính sách hỗ trợ của Nhà nước đó là mời gọi các nhà khoa học, trí thức Việt kiều về làm việc lâu dài cho Trung tâm. Nhu cầu của Trung tâm cần có sự hợp tác và làm việc của các nhà khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu, tham gia đào tạo ( thực hành ), tham gia về lĩnh vực chuyển giao công nghệ và vận hành trong dây chuyền sản xuất về công nghệ sinh học.

Hiện nay, Trung tâm đang ký hợp đồng với 01 trí thức Việt kiều – TS. Nguyễn Quốc Bình dạng chuyên gia làm việc dài hạn, tòan phần - hợp đồng với thời hạn 5 năm.

Từ thực tế họat động của Trung tâm Công nghệ Sinh học Thành phố, Để sự hợp tác có hiệu quả, theo chúng tôi phải có các yếu tố sau đây:

- Trung tâm thực sự là đơn vị có nhu cầu về hợp tác với các nhà khoa học, các trí thức Việt kiều giỏi trong lĩnh vực công nghệ sinh học. Việc hợp tác này cả trong lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ.

- Trung tâm phải có đầy đủ điều kiện cơ sở vật chất và môi trường họat động phù hợp với ngành nghề chuyên môn mà trí thức Việt kiều đang có.

- Ban lãnh đạo đơn vị, nơi mà có trí thức Việt kiều làm việc phải thực sự là cởi mở, hợp tác và công tâm tạo điều kiện cho các nhà khoa học làm việc.

- Chế độ tiền lương, mặc dù không thể bằng như ở ngoài nước, tuy nhiên cũng phải có ưu tiên để đảm bảo điều kiện làm việc và ăn ở của nhà khoa học đó. Ngòai ra, cũng cần có tạo điều kiện để nhà khoa học có thể dễ dàng tham gia vào các họat động trong lĩnh vực hợp tác quốc tế: tham gia hội thảo, hội nghị, trao đổi khoa học, hợp tác nghiên cứu.

- Về hình thức làm việc của các nhà khoa học, trí thức Việt kiều:

+ Hình thức chuyên gia: cố vấn, trưởng một bộ phận kỹ thuât, có thể tham gia trong Ban lãnh đạo một đơn vị, nhưng không làm trưởng.

+ Làm việc theo hợp đồng chuyên gia ngắn hạn: tùy theo từng dự án và nội dung hợp tác.

+ Làm việc theo hợp đồng lâu dài ( 5 năm ) bán thời gian hoặc tòan phần.

Kiến nghị:

- Đối với Chính phủ: nhanh chóng ban hành các văn bản, chính sách để cụ thể hóa chế độ đãi ngộ và khuyến khích sự hợp tác trí thức Việt kiều.

- Đối với Thành phố: là nơi tập trung các chất xám từ nhiều nguồn, trong đó lực lượng khoa học, trí thức Việt kiều. Do đó Thành phố cần mạnh dạn đề xuất các quy định cụ thể trên cơ sở chủ trương chung của Nhà nước, tạo điều kiện cho các đơn vị thực sự đang có nhu cầu hợp tác với trí thức Việt kiều dễ dàng triển khai.

TS. Dương Hoa Xô Giám đốc Trung tâm Công nghệ Sinh học TP. HCM