NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Vai trò của cộng đồng người Việt ở nước ngoài trong qúa trình phát triển kinh tế Việt Nam - TS Nguyễn Trí Dũng , Kiều bào Nhật bản

Cho đến nay có rất ít hội nghị, hội thảo quốc tế đánh giá đúng mức về vai trò đầu tư của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tại Việt Nam. Ước tính hiện nay có gần 3 triệu người Việt Nam ở nước ngoài sinh sống trên 100 quốc gia, lãnh thổ; và có khoảng trên 400 ngàn người có trình độ đại học và sau đại học. Thu nhập của họ khoảng 40 tỷ USD. Kiều hối trong năm 2005 ước tính khoảng 4,5 tỷ USD. Rất khó đánh giá đúng mức về sự đóng góp kinh tế này nhưng theo ước tính có thể hơn 5 tỷ USD. Đây chưa nói về giá trị chất xám về thông tin, kinh nghiệm quản lý, hoạt động xúc tiến đầu tư, hợp tác kinh tế; những đóng góp về Khoa Học Kỹ Thuật, đào tạo nguồn nhân lực … trong hơn 30 năm qua.

Trong khi đó, vốn trực tiếp đầu tư nước ngoài được thực hiện trong 12 năm qua (1988-2000) khoảng 17,6 tỷ USD và nguồn vốn viện trợ phát triển ODA sau 7 hội nghị tài trợ tính đến cuối năm 1999, vốn giải ngân chỉ khoảng 6 tỷ USD. Tổng số vốn đầu tư nước ngoài khoảng 23,6 tỷ USD. Như vậy trung bình khoảng 2 tỷ USD/ năm. Tổng số đầu tư nước ngoài từ 2001 – 2005 khoảng 10,3 tỷ USD, trung bình cũng 2 tỷ USD / năm.

Những số liệu này cho thấy vai trò kinh tế của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đối với quá trình phát triển kinh tế hoàn toàn không nhỏ. Nhưng sự đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tuy vẫn được quan tâm, nhưng chưa được đáng giá đúng mức và chưa đưa vào quốc sách. Lý do cũng dễ hiểu vì hầu hết các đầu tư người Việt Nam ở nước ngoài tại Việt Nam thông qua những hình thức không chính thức, âm thầm, ở qui mô nhỏ chưa tập trung vào những ngành kinh tế chủ yếu cần thiết cho Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa Việt Nam.

Nếu được đưa vào kế hoạch quốc gia, được hỗ trợ bởi chính sách luật pháp thích hợp, tôi tin rằng nguồn năng lượng này sẽ đóng góp đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế Việt Nam.

Từ sau khi có Luật Khuyến Khích Đầu Tư Trong Nước tổng số vốn đầu tư của người Việt Nam ở nước ngoài còn rất khiêm tốn so với tiềm năng.

Với chính sách mới nhằm khuyến khích đầu tư của người Việt Nam ở nước ngoài như luật khuyến khích đầu tư trong nước. Gần đây con số đầu tư có tăng nhưng vẫn chậm, chưa có tính cách đột biến thể hiện đúng tiềm năng đóng góp cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài .

Chưa có tính đột biến vì nó chưa làm thay đổi cơ bản những đặc trưng đầu tư của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài , từ tính cách gián tiếp, không chính thức, phân tán âm thầm đến tính cách chính thức tập trung ở qui mô lớn hơn vào những ngành có công nghệ mới thực sự đóng góp giúp Việt Nam thay đổi cơ cấu kinh tế hiện nay. Sự phát triển của lực lượng doanh nghiệp trong nước cũng như của lực lượng người Việt Nam ở nước ngoài sẽ thực sự đóng góp cải thiện môi trường đầu tư thông thoáng.

Nghị Quyết 36 của Bộ Chính Trị đã nhận thức đúng đắn tình hình thực tế, định ra những đường lối chính sách cơ bản đối với người Việt Nam ở nước ngoài để vận dụng đúng đắn nguồn nội lực ở nước ngoài trong sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hân hoan đón nhận tinh thần Nghị Quyết này sau 30 năm kể từ khi chiến tranh giải phóng giành độc lập dân tộc thắng lợi. Nhưng đến nay vẫn chưa thấy tinh thần nghị quyết này được thực hiện. Thật sự chúng tôi hoàn toàn không thể hiểu lý do tại sao? Thực tế phần lớn nhiều cấp chính quyền cơ sở cũng chưa thực sự thấu hiểu tinh thần nghị quyết này. Kết quả là phần lớn tiềm năng thật sự của người Việt Nam ở nước ngoài phải tiếp tục chờ đợi, không có cơ hội đóng góp, hoặc có đóng góp cũng ở mức hạn chế thấp nhất; người đã đầu tư để hoạt động kinh doanh luôn luôn ở tư thế lo âu mệt mỏi với một cơ chế hành chánh luôn luôn thay đổi không ổn định.

Vì những suy nghĩ như trên tôi xin đề nghị hội thảo 2006 này sẽ không nói lập lại “ Những vấn đề của người Việt Nam ở nước ngoài ” mà sẽ tập trung về đề tài “ Phải làm sao để Nghị Quyết 36 được thực hiện triệt để”.

Ngoài những kiến nghị thường hay phát biểu tại nhiều hội nghị cũng như được đề cập đến trong hội nghị này về các vấn đề thủ tục cải cách hành chánh, hải quan, thuế, vốn . v.v… tôi xin kiến nghị một số vấn đề đặc biệt liên quan đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài để thực sự thu hút nguồn đầu tư kinh tế và đóng góp chất xám của cộng đồng này.

Thứ nhất: Quyền sở hữu nhà đất của người Việt Nam ở nước ngoài đến lúc phải có một chính sách thực tế hơn. Hiện nay người Việt Nam ở nước ngoài dù mang quốc tịch Việt Nam, hộ chiếu Việt Nam đang thực sự đầu tư tại Việt Nam vẫn chưa được xem như người Việt Nam trong nước. Không có quyền sở hữu cũng như không được giao đất để phát triển kinh doanh. Có trường hợp giao đất rồi lại chuyển sang thuê đất, nay nghị định cho phép giao đất thì khi làm thủ tục xin giao đất lại gặp nhiều rào cản rất vô lý.

Cho đến nay nhiều trí thức và nhà đầu tư đã về đây lâu năm có nhiều đóng góp vẫn chưa được tư cách mua nhà. Số người thực sự được hưởng chế độ mua nhà còn bị hạn chế quá ít.

Thứ hai: Việc thực hiện các chế độ nghị định ban hành phải nghiêm túc, thực tế và hợp lý hơn. Ví dụ như có chế độ ưu đãi đầu tư nhưng chỉ ít người được hưởng những chế độ này vì những qui định rất phức tạp, không phù hợp với thực tế kinh doanh. Khi đến làm việc với chính quyền ở nhiều cấp, tâm lý nói chung là “đi xin” để “được cấp”. Thiếu hẵn một môi trường hợp tác vì sự nghiệp chung.

Cũng có cơ quan có thái độ hợp tác, nhưng đây là trường hợp mang tính cá biệt của cá nhân phụ trách có tinh thần trách nhiệm. Nói chung cơ chế hành chánh là nặng nề.

Đối với các doanh nghiệp, ý nghĩa đầu tư rất đơn giản. Đây là một quá trình vận động nguồn vốn có hiệu suất phát triển doanh nghiệp. Nếu đầu tư vào những ngành kinh tế chủ yếu cần cho chính sách phát triển kinh tế quốc gia như : công nghệ cao, nông nghiệp, IT, giáo dục đào tạo v.v hiệu suất lãi không cao nên họ cần có những chính sách ưu đãi miễn thuế để sớm thanh toán vốn vay đầu tư ban đầu, mở rộng sản xuất, vay thêm nguồn vốn mới, đầu tư công nghệ mới. Nhưng mọi quá trình phát triển ngừng lại để chờ đợi không biết đến bao giờ.

Thứ ba: Để giải quyết những trì trệ này, xin kiến nghị UBND TPHCM là địa bàn có nhiều đầu tư của người Việt Nam ở nước ngoài nhất, nên có chính sách tập trung làm thí điểm xây dựng những trường hợp điển hình, rút kinh nghiệm, thực hiện nhanh những chế độ hiện hành. Vấn đề là làm sao thực hiện được những thay đổi đột biến.

Thứ tư: Để thực sự tổ chức thu hút nguồn đầu tư của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ cho các chính sách phát triển kinh tế của Việt Nam, nên có một cơ quan chức năng chuyên trách có đủ tầm cỡ. Việc thu hút lực lượng trí thức sẵn có của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài để đóng góp vào xây dựng công nghệ tri thức trong nước là công việc không thể bỏ qua vì nó sẽ góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung.

Trên đây là vài ý kiến xin được đóng góp với hội nghị, chúc hội nghị thành công. Câu Lạc Bộ Khoa Học Kỹ Thuật người Việt Nam ở nước ngoài cũng rất mong hợp tác và nhận được hỗ trợ của các cơ quan ban ngành, của các bạn có mặt trong hội nghị này.