NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Ván Bài Chứng Khoán Việt Nam : Người Khóc Kẻ Cười - Việt Khanh , Kiều bào Mỹ

Năm 2006 khi nhìn về Việt Nam, các nhà đầu tư, các nhà làm chính sách, các kinh tế gia thế giới, vân vân, đều chia xẻ chung một sự phấn khởi. Họ nói về Việt Nam, một thị trường chứng khoáng non trẻ đầy hứa hẹn, về sự cải tổ của chính phủ , rằng Việt Nam tương lai sẽ là một thành viên của tổ chức Mậu Dịch Thế Giới WTO, và sau chót hết là sự tiên đoán trên con đường đi tới Việt Nam sẽ là một quốc gia năng động, phát triển nhanh chóng nhất trong khu vực Châu Á. Một trong những tập đoàn tài chính hàng đầu của Mỹ công ty Merrill Lynch với tổng tài sản lên tới 1.800 tỷ Mỹ Kim chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính, ngân hàng đầu tư và quản lý đầu tư, vào tháng 3 năm 2006 đã công bố một bản báo cáo rất lạc quan về thị trường chứng khoán Việt Nam. “Hãy mua cổ phiếu Việt Nam ngay bây giờ - hãy mua cho quỹ để dành của bạn, cho riêng bạn, hay cho các con của bạn. Mua bây giờ và cất món tiền đầu tư đó vào một chỗ riêng trong vòng 10 năm. Đến năm 2016 chúng ta sẽ trở lại để bàn về cách dùng các món tiền lãi đó, dùng mua quà cho bạn hay trả cho các chi phí Đại Học của các con của bạn. Với bản báo cáo thật mầu hồng nói trên, Merrill Lynch đã góp tay trong việc đưa cơn sốt đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam trong suốt cuối năm 2006 và vào đầu năm 2007.

Vào ngày chủ nhật 15 tháng 7 năm 2007, nhóm nghiên cứu của Merrill Lynch tuy nhiên lại đưa ra một kết luận mới: "Từ lúc chúng tôi đưa VN vào khuyến nghị đầu tư, thị trường chứng khoán nơi đây đã tăng 212%, vượt trên mức tăng trưởng bình quân của khu vực tới 167%. Với tất cả những nhận định ở trên, chúng tôi hạ mức khuyến nghị phân bổ vốn đầu tư của mình vào Việt Nam xuống con số 0 và dùng số vốn đó rót vào thị trường Trung Quốc." Khuyến nghị rút toàn bộ vốn của Merrill Lynch khỏi thị trường Việt Nam được đưa ra trên 4 yếu tố: giá trị giao dịch trên thị trường chính thức, diễn biến chỉ số VN-Index, EPS (chỉ số thu nhập/cổ phần), P/E (tỷ số giá/lợi nhuận). Quỹ tiền tệ quốc tế IMF trong khi đó cũng lên tiếng cảnh giác người Việt Nam về nguy cơ xói mòn của thị trường chứng khoán khi chỉ số lợi nhận P/E đang ở mức quá cao, hiện là 73 điểm, cao nhất trong khu vực. Theo IMF, đây là “chỉ dấu bất ổn của thị trường chứng khoán Việt Nam” và lãnh đạo Việt Nam “cần phải có biện pháp khuyến cáo và ngăn ngừa mức đột biến của thị trường.”

Sự thối lui của tập đoàn tài chánh Merrill Lynch khỏi thị trường Việt Nam và cảnh báo của quỹ tiền tệ quốc tế IMF về mối nguy của thị trường chứng khoán Việt Nam như trên, có thể được giải thich ra sao?

Giải thích một cách đơn giản về chỉ số P/E, thì P là Purchase tức Mua, và E là Earning tức Thu lợi. Một người đầu tư mua một cổ phiếu giá 200 ngàn, được chia lãi là 20 ngàn một năm, thì chỉ số P/E sẽ là 10. Chỉ số P/E của một doanh nghiệp lành mạnh theo quốc tế phải trong khoảng từ 8 đến 15. Tuy nhiên theo nhận định mới công bố của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam thì hiện nay trên thị trường Việt Nam có những cổ phiếu được tranh mua “lại có chỉ số P/E quá cao. Đó là cổ phiếu các công ty Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí PVD có chỉ số P/E tới 328, công ty Cổ phần Vận tải Xăng Dầu Đường Thủy VIP có chỉ số 112,” vân vân. Tức là người sở hữu một cổ phiếu có chỉ số P/E là 328 thì phải chờ chừng đó năm ( 328 năm ) thì mới thu lại được vốn.

Với những dữ kiện trên người có suy nghĩ chắc hẳn phải thắc mắc, vậy thì tại sao các cổ phiếu có số năm thu hồi vốn đến trên 300 năm lại được tranh mua tại Việt Nam như vậy? Đi tìm nguyên nhân, những chuyên gia kinh tế cho biết trong cơn sốt chứng khoán các nhà đầu tư cá thể tại Việt Nam phần lớn chỉ dựa vào cảm tính của mình, hoặc của bạn bè, hay của người tư vấn. Mục tiêu của họ là làm sao đánh nhanh và rút gọn với chiến lợi phẩm tức là họ mua cổ phiếu này ngày hôm nay với mức giá này, ngày mai giá có thể lên cao hơn một chút thì người ta bán ngay. Tuy nhiên không phải ai cũng có khả năng tìm hiểu về giá trị các cổ phiếu, tính toán giỏi và có lời. Trả lời một câu hỏi của báo chí rằng những thiệt hại có thể lường trước với các nhà đầu tư cá nhân là gì, nhất là khi thị trường đảo chiều? Một giới chức nhà nước Việt Nam, ông Tổng giám đốc Công ty chứng khoán Sài Gòn (SSI) Nguyễn Duy Hưng đã giải thích: “Giống hệt câu chuyện mua đất ngày xưa. Anh mua đất Hoàn Kiếm, đến ngày nó đắt hết cỡ lại chuyển sang mua ở Đống Đa, rồi khi đất nội thành Hà Nội đều tăng cao hết cỡ, người ta lại chuyển sang mua cả đất ruộng. Ngay cả những miếng đất trước đây kêu gọi khai hoang, Nhà nước cho thêm tiền cũng chẳng ai dám nhận, mà lúc đó họ cũng đổ xô mua. Nhiều người mua đất nhưng chưa bao giờ nhìn thấy miếng đất của mình. Trong đầu mang máng nhớ mình có miếng đất ở đâu đấy, đến lúc thị trường đảo chiều, không bán được nhưng chẳng biết để làm gì. Những ai mua đất bằng tiền tiết kiệm của mình còn đỡ. Ai mua bằng tiền vay ngân hàng thì mất luôn cả nhà cửa, đất đai.”

Thị trường chứng khoán Việt Nam do đó đang trong cơn sốt gây ra bởi những người đầu tư chuyên môn, những kẻ nắm chính sách và dùng xảo thuật như những ảo thuật gia tạo mê hoảng phẫn khích cho một quần chúng khờ khạo . Thiệt hại ngay trước mắt sẽ là những người ham lợi nhưng thiếu kinh nghiệm hay kém hiểu biết. Nguy hiểm hơn là cơn sốt chứng khoán cũng liên quan đến cả các ngân hàng Việt Nam hiện đang cho vay, cầm cố chứng khoán, cổ phiếu. Nếu như thị trường chứng khoán Việt Nam có sự biến động, sụt giảm, thì không những chỉ ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán mà sẽ còn ảnh hưởng dây chuyền đến cả hệ thống ngân hàng toàn quốc.

Trở lại bảng phân tích của Merill Lynch, một trong bốn lý do mà công ty đã rút toàn bộ vốn đầu tư của khách hàng họ ra khỏi thị trường chứng khoán Việt Nam đó là do chỉ số EPS bình quân tại Việt Nam trong năm 2007 [qua đó EPS là chỉ số thu nhập trên mỗi cổ phần] chỉ đạt 10% so sánh với Indonesia là 41.5%, Đài Loan là 22%, và Trung Quốc là 22,8%. Sang đến năm 2008 thì chỉ số EPS bình quân tại Việt Nam lại tụt xuống chỉ còn 8%. Cạnh đó Merill Lynch cũng dựa vào giá trị giao dịch trên thị trường chính thức, diễn biến chỉ số VN-Index. Giá trị giao dịch trên thị trường chính thức thì rõ ràng kể từ giữa năm 2007 đã có sự sụt giảm trong giá trị trao đổi của các cổ phiếu. Hiện tượng sút giảm này bắt nguồn từ những tin tức cho biết các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu bán ra các loại cổ phiếu có giá cao quá thực tế. Kevin Snowball từ PXP Vietnam Asset Management Ltd. cho biết các quỹ đầu tư nước ngoài đã bán ra các cổ phiếu Việt Nam, ông ta nói “trong 10 tuần qua thì có tới 9 tuần các quỹ đầu tư nước ngoài bán đi các cổ phiếu Việt Nam.” Một giáo sư chuyên ngành hành chính kinh doanh tại Sàigòn, ông Phạm Phụ cũng xác nhận: "Hai năm trước, tôi mua cổ phiếu của công ty VSH. Giá cổ phiếu tăng bảy lần từ khi tôi mua chúng. Tôi nghĩ tăng như thế là quá đáng và tháng trước tôi đã bán hết chúng đi." Bên cạnh việc các quỹ đầu tư nước ngoài và những người đầu tư khôn ngoan đã đang bán đi các cổ phiếu Việt Nam vì họ tiên đoán giá cổ phiếu Việt Nam trong tương lai sẽ bị sụt giảm là sự kiện chỉ số VN-Index trong thị trường chứng khoán Việt Nam hiện tiếp tục đi xuống. Chỉ nội trong hai ngày 14 và 15 của tháng 3 năm 2007, thị trường chứng khoán Việt Nam đã mất thêm 48,69 điểm, là mức giảm mạnh nhất với 102 cổ phiếu bị giảm giá, chỉ có 2 cổ phiếu tăng giá. Nguyên do là giới đầu tư chứng khoán xôn xao qua tin tức bản dự thảo Quy chế Quản lý các Quỹ Đầu tư Nước ngoài do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước nhà nước Việt Nam sắp đưa ra. Một nhà phân tích tài chính nổi tiếng, tiến sỹ Marc Faber, người từng dự báo đúng cuộc khủng hoảng thị trường chứng khoán thế giới năm 1987, tiên đoán thị trường chứng khoán Việt Nam có thể sẽ bị giảm 50%.

Với những lời cảnh báo như thế tuy nhiên nhiều người trong nước vẫn không tin, bởi vì họ cho rằng kinh tế Việt Nam đang tiếp tục tăng trưởng tốt, trung bình ở mức 8% mỗi năm trong suốt thập niên qua, và đầu tư từ nước ngoài thì vẫn tiếp tục chảy vào trong nước. Kết quả là những người này tiếp tục đi vay nợ ngân hàng, thậm chí cầm cố nhà cửa để tham gia vào trào lưu mua chứng khoán. Theo báo chí Việt Nam thì đây là giới người mới có tiền, nhất là tại các thành phố, họ không muốn để lỡ cơ hội kiếm tiền xem ra có vẻ dễ dàng này. Ngay những người như lái xe taxi, sinh viên, bà nội trợ vân vân, cũng đổ xô tham gia thị trường chứng khoán, đua nhau đầu tư vào các loại cổ phiếu mà bạn bè nói là lãi nhiều, bất kể đây là lãnh vực đầu tư rủi ro rất cao mà chỉ những người có hiểu biết chuyên môn mới nên tham gia. Hiện tượng này làm các nhà chuyên môn về tài chính không yên tâm. Thị trường chứng khoán Việt Nam bây giờ không còn thuần nghĩa là nơi đầu tư lành mạnh, mà là một canh bạc, có kẻ ăn người thua.

Các nhà đầu cơ tài phiệt thì tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường chứng khoán Việt Nam bằng cách tung ra những tin đồn có lợi cho họ. Họ chỉ cần tạo nên những ảo tưởng về một hay một số chứng phiếu có lợi nhuận cao để dụ người ham lợi vào mua. Khi giá lên cao thì họ sẽ bán ra. Khi cần mua vào thì họ lại cho những tay cò mồi tung ra những tin đồn làm cho giá sụt xuống. Khi thấy thị trường Việt Nam không còn những yếu tố xúc tác hấp dẫn đưa đến những sự thu lợi cao thì các nhà tài phiệt sẽ tìm đường rút lui.

Tóm tắt, một sự sụt giảm mạnh trong thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ làm nhiều ngàn người, đã đổ hết tiền tiết kiệm của mình vào sàn chứng khoán, lâm vào cảnh phá sản. Trong khi các nhà đầu tư lớn thì đã nhanh chóng rút số đầu tư của họ khỏi thị trường Việt Nam. Báo cáo rút toàn bộ vốn đầu tư của khách hàng của họ khỏi thị trường chứng khoán Việt Nam của tập đoàn tài chánh Merill Lynch chỉ 15 tháng sau khi tập đoàn này đưa ra những lời khuyến dụ đầu tư đầy lạc quan vào thị trường chứng khoán Việt Nam như đã nói trên là một thí dụ điển hình.