NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm - TS Nguyễn Trọng Bình , Kiều bào Mỹ

An toàn thực phẩm - nhà quản lý ở đâu?

Từ California, TS. Nguyễn Trọng Bình , gửi về bài viết, chỉ rõ các khâu mấu chốt để nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta hiện nay.

Vừa qua báo VNnet đưa tin cả nước ta, mỗi năm phát hiện thêm 200.000 người bị bệnh ung thư. Ðây là một con số khá lớn, gây quá nhiều tổn hại cho gia đình và xã hội.

Nguyên nhân chính của bệnh tật là do môi trường sống xuống cấp ( không khí, nguồn nước uống ô nhiễm ), thiếu vệ sinh và những hoá chất độc hại vào có thể qua đường hô hấp, thực phẩm và dược phẩm không được quản lý nghiêm túc.

Điều lo ngại nhất hiện nay chính là an toàn vệ sinh thực phẩm . Do không kiểm soát được chất lượng từ khâu nguyên liệu, chế biến, bảo quản, mà hiện nay, thực phẩm cho thị trường trong nước và xuất khẩu đã trở thành mối bức xúc. Xì dầu có hàm lượng chất độc hại cao, thực phẩm chế biến có chứa urê, phóc môn, thịt có chứa hoóc môn tăng trọng, hóc môn sinh trưởng, nhiễm trùng gây bệnh. Hàng thủy sản có chứa chất kháng sinh, hoá chât gây ung thư, ảnh hưởng di truyền.

Dược phẩm lưu hành trên thị trường không được quản lý nghiêm ngặt; có trường hợp dược phẩm được biến tấu thành "thực phẩm" để "lách" sự quản lý của cơquan hữu trách.

Nhà quản lí ở vị trí nào ?

Để nâng cao mức độ an toàn cuộc sống, khâu quản lý là khâu quan trọng hàng đầu, mang tính hướng dẫn toàn sinh hoạt xã hội.

Muốn sản xuất hàng hoá với số lượng và chất lượng ổn định, an toàn vệ sinh thực phẩm của các mặt hàng tiêu dùng trong nước cũng như cho xuất khẩu mang tính cạnh tranh cao, cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa 4 "nhà" ( nhà quản lý, nhà doanh nghiệp, nhà sản xuất, và nhà khoa học kỹ thuật) được thực hiện nghiêm túc. Nhưng cần phải nói rõ, vai trò của nhà quản lí là trước nhất, mang tính dẫn dắt và chỉ hướng.

Nhà quản lý (trong các lĩnh vực: y tế, thú y, thủy sản, nông, lâm, ngoai thương) đưa ra những quy luật về tiêu chuẩn hàng hoá (tiêu chuẩn quốc gia cho các mặt hàng xuất và nhập khẩu), phương thức sản xuất, bao bì, bảo quản có chất lượng tương đồng hoặc cao hơn tiêu chuẩn của các quốc gia khách hàng. Các cơ quan quản lý liên hệ thi hành nghiêm ngặt những quy luật này .

Thực tế, ta vẫn thấy những sự kiện sai phạm xảy ra dù đã có luật hướng dẫn .Thí dụ kháng sinh Chloramphenicol là chất cấm dùng trong nuôi trồng thú y thủy sản, và tại nước ta, hóa chất này cũng đã trong danh mục các chất bị cấm (danh mục của Bộ Thủy sản VN ký ngày 2/2/2005). Nhưng vừa qua, Chloramphenicol ở nồng độ cao vẫn được phát hiện trong thủy sản xuất khẩu .

Nhà doanh nghiệp và nhà sản xuất (lao động) cần kết hợp chặt chẽ với nhau để thực thi những quy định mà các nhà quản lý đã đưa ra; các mặt hàng vi phạm phải bị thu hồi và xử lý thích ứng (thông thường là tiêu hủy). Hiện nay ở nước ta, hoạt động doanh nghiệp và sản xuất còn dựa theo quy mô tự phát, cá thể và nhỏ lẻ. Do đó, việc áp dụng các luật lệ của quản lý thực hiện khá khó.

Nhưng nay đứng trước thử thách bảo vệ uy tín của hàng sản xuất và thị trường tiêu thụ, doanh nghiệp sẽ phải tìm ra lối đi để có thể cải tạo cơ cấu tổ chức theo hướng đại trà và đồng nhất. Chỉ có nền sản xuất đại trà và đồng nhất theo hướng khoa học hiện đại và quản lý nghiêm túc, hàng hoá mới có thể sản xuất với giá rẻ và chất lượng cao và sức cạnh tranh mạnh.

Trong quá trình tổ chức lại cơ cấu sản xuất, nhà khoa học kỹ thuật (trong và ngoài nước) cần đưa thông tin về tiêu chuẩn hàng hoá quốc tế để nâng cao tiêu chuẩn hàng hoá trong nước và xuất khẩu. Ðồng thời, họ sẽ giúp đào tạo chuyên gia, chuyển giao công nghệ, thiết bị phương thức tổ chức cùng khoa học kỹ thuật. Từ đó, ta có thể sản xuất theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đại trà.

Trong sự "rối ren" của tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay của nước ta, thì vai trò của nhà quản lí chất lượng là căn bản nhất, quan trọng nhất. Và đến lúc đẩy mạnh và làm rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý.

Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm

Gần đây báo chí trong nước loan tin gây chú ý cuả mọi người tiêu thụ về ngộ độc thực phẩm: Người dân cả nước lo lắng vì thông tin nước tương có chất 3-MCPD gây ung thư.

Tìm đến thống kê của Cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm năm 2006, cho biết trong các vụ ngộ độc thực phẩm, nguyên nhân chủ yếu là do thực phẩm nhiễm vi sinh vật (38,8%), hóa chất độc hại (10,9%), và thực phẩm chứa chất độc hại (25,4%).

Thực phẩm là nguồn mang lại các chất bổ dưỡng để nuôi cơ thể mà nay lại chứa cả những chất đôc hại, điều này làm mọi người lo âu: thực phẩm ăn uống hàng ngày có an toàn hay không ? Những thức ăn hàng ngày mang chất bổ dưỡng cho cơ thể hay tích tụ độc tố vào cơ thể qua thức ăn và uống ?

Qua báo chí ta hãy nhìn qua các chất độc hại được báo lưu ý gần đây.

Trong 6 tháng đầu năm, cơ quan Bảo vệ thực vật đã kiểm tra 865 hộ nông dân sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật trên rau, chè. Có 111 hộ sử dụng thuốc sai quy định, 32 hộ không đảm bảo thời gian cách ly, 17 hộ sử dụng thuốc hạn chế dùng cho rau, 8 hộ dùng thuốc cấm... Tại Tiền Giang và Cà Mau, qua kiểm tra 122 hộ trồng rau, có đến 58 hộ sử dụng thuốc cấm và ngoài danh mục dùng cho rau. Cũng trong 122 hộ này, có 31 hộ sử dụng thuốc nhiều lần, 33 hộ thu hoạch trong thời gian còn cách ly... Nhiều cơ sở buôn bán thuốc Bảo vệ thực vật còn bán cả thuốc cấm, thuốc ngoài danh mục.

Ở sản phẩm động vật, theo báo cáo của Cục Thú y, nhiều mẫu xét nghiệm tại các lò giết mổ không đạt chỉ tiêu về E.coli, S. aureus, Samonella (các loại khuẩn gây hại), trong đó có cả các lò giết mổ tập trung. Có 57/90 mẫu không đạt tiêu chuẩn về khuẩn, 21/90 mẫu không đạt các chỉ tiêu tồn dư kháng sinh, kim loại nặng và hoá chất Bảo vệ thực vật.

Theo báo cáo của Bộ NNPTNT, vừa qua, Nhật Bản đã thông báo trong gạo VN xuất khẩu bị nhiễm hoá chất Bảo vệ thực vật Acetamipri với mức tồn dư 0,03ppm, vượt ngưỡng cho phép (0,01ppm) và quyết định kiểm soát 100% hàng thủy sản nhập từ VN. Tháng tư vưà qua Mỹ từ chối một số hàng thủy sản cuả VN với lý do bao bì kém, nhiễm trùng và chứa nồng độ kháng sinh (Chloramphenicol) cao. Và Nga đã ngừng nhập khẩu gạo VN.

Theo Bộ Y tế, hàng năm VN có 200.000 người bị ung thư, trong đó có 150.000 người chết. Khoảng 35% trong số bệnh nhân ung thư do nguyên nhân sử dụng thực phẩm độc hại.

Theo báo cáo của Chi cục Bảo vệ thực vật, qua kiểm tra 2.069 mẫu thì có 71 mẫu vượt mức cho phép dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật, chiếm 4,62% (tăng cao so với cùng kỳ năm 2006). Những tin này sẽ ảnh hưởng mạnh đến sản xuất và xuất khẩu .

Ngày nay với mậu dịch toàn cầu rộng mở, trong các mặt hàng mậu dịch mặt hàng nông lâm, thuỷ sản và thực phẩm chế biến cuả các quốc gia được trao đổi rộng rãi với nhau giữa nước nọ với nước kia . Ngoài vấn đề vệ sinh thực phẩm, thực phẩm bị nhiễm trùng; đến nay những cơ quan quản lý thực phẩm trên thế giới đã cảnh báo những chất nguy hiểm có thể hiện hữu trên bàn ăn hàng ngày của chúng ta . Những nguồn chất độc hại đó có nguồn gốc từ đâu ?

Các hoá chất vi phạm trong thực phẩm được nhắc đến như có:

3-MCPD gây ung thư cho dộng vật thí nghiệm trong phòng nghiên cứu, đã tìm thấy trong nước tương bán trên thị trường. 3-MCPD sinh ra trong quá trì thủy phân nguyên liêu có lẫn tạp chất béo vói acíd HCl ở nhiệt độ cao .

Semicarbazide thuốc trừ sâu, nó vào trong cơ thể sẽ làm tăng nguy cơ ung thư, hư gan, sảy thai, gây khuyết tật trong quá trình hình phát triển thai . Từ đầu năm 2003, nó đã bị đưa vào danh sách những chất tránh sử dụng liên quan đến thực phẩm .

Trong một số gạo xuất sang Nhật đã bị từ chối vì có chứa độ Acetamipri (thuốc trừ sâu) cao gấp 3 lần . Acetapirid có trong danh sách các chất cần phải quản lý .

Chất phẩm đỏ (Sudan Red I-IV) đã bị cấm sử dụng trong thực phẩm từ năm 2003 sau khi tìm thấy độc tính gây ung thư trên một số động vật .

Những chất độc hại khác tìm thấy trong thủy sản do quá trình nuôi cấy và bảo quản : urea, Clor, kháng sinh (Chloramphenicol); thậm chí trong quá trình nuôi cá thuốc thuốc trừ sâu Dipterex cũng đã được sử dụng để kháng khuẩn và các giống giáp xác trong hồ nuôi cá da trơn.

Theo bản tin của tờ Thời Báo Kinh Tế Việt Nam, chính phủ Nhật đã quyết định kiểm tra 100% các lô hàng thủy sản nhập cảng từ Việt Nam. Nếu phẩm chất không cải thiện, chắc chắn sẽ bị cấm mà như vậy Việt Nam sẽ mất một thị trường lớn để tiêu thụ thủy sản. Nhìn một cách tổng quát, hàng VN xuất sang EU, Mỹ, Nhật và Nga thường đang gặp vấn đề về bao bì, vệ sinh an toàn thực phẩm và có chứa một số hoá chất vi phạm . Theo thống kê cuả phòng thương mại; năm vừa qua mặt hàng thủy sản xuất khẩu thu được khoảng 1 tỷ 6 đô la, là một trong 6 mặt hàng xuất khẩu vượt qua ngưỡng 1 tỷ đô .

Thị trường trong nước ngoài mặt hàng thủy sản, mặt hàng thịt và rau xanh cũng vi phạm vệ sinh an toàn, thuốc tăng trưởng "nhập lậu" bừa bãi . Chi cục Quản Lý Thị Trường Hà Nội và Chi Cục Bảo Vệ Thực Vật Hà Nội đã kiểm tra hàng loạt điểm bán rau an toàn trong thành phố. Hầu hết các điểm kinh doanh rau an toàn đều vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, trong đó có cả siêu thị.

Nơi có trách nhiệm với An Toàn thực phẩm ?

Phải chăng trách nhiệm về an toàn thực phẩm và quản lý chất lượng nằm trong tay những cơ quan quản lý và cơ sở sản xuất ? Tại những nước thành viên cuả WTO, có liên hệ mậu dịch với nhau, họ giải quyết rất nhanh để bảo vệ giá trị hàng xuất khẩu cuả họ.

Về mặt quản lý, thông thường các cơ quan thuộc cấp Bộ như: Y Tế, Nông, lâm, Thuỷ sản , và Môi trường giữ vai trò định hướng, làm luật quản lý và cấp ngân sách cho các cơ quan quản lý . Sau đó các cơ quan mang chức năng như Cơ quan quản lý Thực phẩm và dược (FDA); cơ quan Vệ sinh môi trường ( Environmental Hygiene) và cơ quan định tiêu chuẩn thực phẩm (hàng hoá) có trách nhiệm thực thi và áp dụng luật lệ đã định .

Nhiều quốc gia đã tiếp thu nhưng phương pháp thử nghiệm và phương cách quản lý an toàn thực phẩm cuả quốc tế . Hai hệ thống tiêu chuẩn quốc tế được nhiều quốc gia tiếp thu và dùng trong quản lý an toàn thực phẩm và dược . Đó là hai hệ thống quốc tế Thực hiện nhà sản xuất tốt (Good Manufacturing Pratice-GMP-) ; Phân tích độc hại và điểm tới hạn (Hazard Analysis and Critical Control Point- HACCP-) . Cơ quan kiểm tra quản lý có bổn phận phải công bố ngay với nhà sản xuất và giới tiêu thụ về những lô hàng, mặt hàng sản xuất đã vi phạm những tiêu chuẩn sản xuất thực phẩm để thu hồi và huỷ bỏ những sản phẩm này .

Về phía nhà sản xuất phải tuân thủ nhiêm túc những luật lệ về sản xuất và chịu trách nhiệm về mặt hàng sản xuất ; thu hồi và chịu những xử lý theo luật .

Hướng về tương lai :

Ngày nay phương tiện truyền thông toàn cầu nhanh và rộng hơn trước do đó những tin vi phạm về an toàn thực phẩm được loan truyền và giới tiêu thụ chú ý trên quy mô toàn cầu . Thêm vào đó những thiết bị và phương pháp phân tích nhanh nhạy hơn xưa do đó đã có thể tìm ra những chất độc hại trong thực phẩm nhiều hơn trước vì vậy việc quản lý, tổ chức sản xuất và các phương thức sản xuất thực phẩm cũng cần phải nâng cao, phải hiện đại hoá để quản lý chất lượng an toàn của thực phẩm, bảo đảm quyền lợi và sức khoẻ của người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu .

Phải chăng tình trạng vệ sinh an toàn các sản phẩm rau quả, nông nghiệp, thủy sản hiện nay đang trong tình trạng báo động ? Đang thôi thúc việc cần có chính sách và quy hoạch lại cơ cấu quản lý và sản xuất các mặt hàng rau quả, nông sản và thuỷ sản cho cả hai thị trường tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ? Những mặt hàng thực phẩm không hợp tiêu chuẩn vệ sinh an toàn xuất khẩu sẽ được xử lý ra sao ?

Để phát triển bền vững và tiến nhanh vào quá trình công nghiệp hoá , hiện đại hóa đất nước, sức khoẻ và năng lực người dân là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu . Hiện nay theo thống kê chất lượng con người VN đứng thứ hạng 109/177 (Lao Động số 158 Ngày 11/07/2007) . Việc nâng cao chất lượng con người, mà ăn uống dinh dưỡng để nâng cao là một yếu tô quan trọng, tương lai con người VN sẽ ra sao khi trong thực phẩm hàng ngày chứa những độc tố ảnh hưởng đến sức khoẻ của nguồn lao động hiện nay và nguy hiểm hơn nữa, các chất độc ấy di hại tiếp đến gen di truyền và phát triển cuả thế hệ kế tiếp ?

BS Trần Danh Cường, Phó giám đốc Trung tâm Chẩn đoán trước sinh cho biết: “Tỉ lệ trung bình các trường hợp dị tật ở thai nhi là khoảng 3,5%. Riêng khảo sát tại Viện C, tỷ lệ này là 5,4% và phần lớn đều do chế độ dinh dưỡng không đúng hay bị nhiễm độc”.

Theo BS Cường, các yếu tối môi trường sống bị ô nhiễm, nhiều hóa chất, chất độc, yếu tố dinh dưỡng, bệnh tật của người mẹ… là những nguyên nhân khiến tình hình dị dạng thai cũng gia tăng. Trong đó, nguyên nhân gây dị dạng thai chủ yếu là do độc tố, thứ hai là dinh dưỡng. Ngoài ra, đột biến về di truyền (thường do tiếp xúc với hóa chất, thuốc trừ sâu, tia X, phóng xạ…) cũng gây dị dạng thai, nhưng ít gặp hơn so với nguy cơ độc tố và dinh dưỡng.

Vì vậy việc "cần làm ngay" là việc quyết tâm quản lý và tổ chức lại các cơ sở sản xuất nghiêm túc theo các phương pháp hợp với tiêu chuẩn an toàn thực phẩm quốc tế. Quyết tâm này không những bảo vệ sức khoẻ cuả giới tiêu thụ, người dân trong nước mà còn bảo vệ uy tín; phẩm chất của các mặt hàng xuất khẩu. Kết quả là nâng cao sức cạnh tranh hàng hoá VN cùng một mặt bằng với hàng hóa quốc tế .