NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Về việc phát triển Điện Hạt Nhân tại Việt Nam - GS TS Nguyễn Khắc Nhẫn , Kiều bào Pháp

Trong thời gian qua, giới chuyên gia trong và ngoài nước có nhiều cuộc tranh luận về việc phát triển Điện Hạt Nhân tại Việt Nam. Những người ủng hộ dự án cho rằng đây là việc làm cần thiết, thậm chí tất yếu, sớm muộn gì cũng phải làm để đáp ứng nhu cầu điện, phục vụ tăng trưởng kinh tế cao. Trong nghiên cứu sơ bộ ban đầu, Việt Nam dự tính vào năm 2020 là sớm nhất, sẽ xây dựng nhà máy Điện Hạt Nhân đầu tiên tại tỉnh Ninh Thuận, ở miền Trung.Thế nhưng, không ít chuyên gia lại cảnh báo về những tốn kém, nguy hiểm và rủi ro khi phát triển Điện Hạt Nhân. Đây cũng là quan điểm của ông Nguyễn Khắc Nhẫn, nguyên cố vấn kinh tế, dự báo, chiến lược EDF (Công ty điện lực Pháp) và giáo sư Đại học Bách khoa Grenoble.

Thưa giáo sư, một số chuyên gia năng lượng Việt Nam cho rằng cần phải phát triển Điện Hạt Nhân để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế trong những thập niên tới. Theo thông tin mà giáo sư có được thì nhu cầu điện của Việt Nam vào năm 2020 sẽ là bao nhiêu và nếu như Việt Nam quyết định phát triển Điện Hạt Nhân thì bước đầu, dự án Ninh Thuận, dự kiến thực hiện vào năm 2020, sẽ đáp ứng được bao nhiêu phần trăm nhu cầu tiêu thụ điện trong nước ?

Trước hết, tôi xin kính chào quý vị khán giả.

Như tôi đã có dịp trình bày trên báo chí : Điện Hạt Nhân không kinh tế mà còn nguy hiểm cho đất nước. Điện Hạt Nhân không đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Với chiến lược phát triển ngành điện Việt Nam được công bố ở Hà Nội tháng 10 vừa qua, đến 2020 nước nhà sẽ cần 200 đến 250 tỷ kWh. Theo tôi, nhu cầu sẽ thấp hơn nhiều, dưới 150 tỷ kWh.

Với 2 lò 1000 MW trị giá 4 tỷ USD ( mỗi năm sản xuất 2 x 6 tỷ kWh ), tỷ lệ Điện Hạt Nhân năm 2020 ( có nghĩa phải xây dựng nhà máy 7,8 năm trước ) sẽ vào khoảng 5 - 6%. Nêu lý do cân bằng năng lượng là không đúng vì như thế có nghĩa là nước ta sẽ có hàng loạt nhà máy ĐHN !

Giáo sư đã viết nhiều bài lưu ý về những tốn kém, nguy hiểm và rủi ro khi phát triển Điện Hạt Nhân. Trước tiên, xin giáo sư cho biết, về mặt kinh tế nếu tính trong tổng thể, ĐHN có rẻ hơn các loại năng lượng khác hay không ?

Điện Hạt Nhân không rẻ hơn các loại điện chạy than, dầu hay khí. Kinh phí đầu tư cao hơn, từ 2 đến 5 lần các nhà máy cổ điển. Ở châu Âu, giá thành 1 kWh các loại nhà máy này có thể xem như tương đương, khoảng 3 đến 5 cUSD. Ở Mỹ, giá thành 1 kWh Điện Hạt Nhân cao hơn 60% điện chạy than hay khí. Ở những nước đang phát triển như ta, nếu tính hết những chi phí xử lý nhiên liệu, tháo gỡ, lưu giữ chất thải phóng xạ, bảo hiểm an toàn, thì Điện Hạt Nhân chắc chắc sẽ không kinh tế và giá điện sẽ phải tăng, khổ cho dân chúng.

Ta nên dành nguồn tài chính ( eo hẹp ) cho các lĩnh vực ưu tiên như giáo dục, nghiên cứu, y tế, xã hội…

Các chuyên gia Việt Nam nói rằng hiện nay, còn quá sớm để quyết định lựa chọn loại lò phản ứng. Ngoài vấn đề này ra, theo giáo sư, việc phát triển Điện Hạt Nhân có những bất trắc, khó khăn gì ? Phải chăng đó là việc phụ thuộc vào những khâu : nguồn nhiên liệu phóng xạ, kỹ thuật xử lý chất thải và tác động của nó tới môi trường ?

Tôi xin lỗi, tôi không đồng ý kiến về câu dầu. Nếu muốn có Điện Hạt Nhân năm 2020, phải biết lựa chọn kiểu lò nào, bây giờ không phải là quá sớm. Như tôi đã trình bày trên các báo chí và đài phát thanh, chúng ta đang ở thế kẹt vì hiện nay trên thị trường chỉ có lò PWR ( Pressurized Water Reactor ) được thông dụng nhất, lại bị xem như lỗi thời ( kỹ thuật này xuất hiện từ năm 1954 !). Lò thế hệ III, EPR ( European Pressurized Reactor ) 1600 MW ( quá lớn đối với hệ thống điện của ta ), cùng một kỹ thuật, cũng chưa có nước nào xây cất ( Pháp và Phần Lan đang chuẩn bị ). Lò thế hệ IV thì phải đợi sau 2040 ! Ngoài vấn đề công nghệ lò, còn nhiều chướng ngại vật, như việc nhập khẩu uranium giàu 3,5% - 3,7%, việc xử lý nhiên liệu và lưu giữ chất thải phóng xạ. ( Đó là chưa kể khâu tháo gở và dập phá hết sức tốn kém – hàng trăm triệu hay hàng tỷ USD – và phải đợi 50 năm !).

Tchernobyl đã gây ra 3 triệu nạn nhân, nước ta cũng có trên một hai triệu nạn nhân về chất độc màu da cam, và biết bao thương binh còn bệnh tật. Tội gì ta phải đón rước thêm chất thải phóng xạ, ngàn đời còn nguy hiểm.

St Exupéry có câu : « Chúng ta không thừa hưởng đất đai của tổ tiên. Chúng ta mượn tạm của con cháu !».

Vạn vật vẫn vô thường. Đừng quên rằng trong chớp nhoáng, tạo hóa có thể lên cơn, nỗi giận, gây bão tố, động đất, sóng thần khủng khiếp !

Điện Hạt Nhân cũng không giải quyết vấn đề môi trường, mà trái lại. Đổi CO2 với chất thải phóng xạ, chẳng khác nào như đổi dịch tả với dịch hạch hay SIDA với SARS ( Severe Acute Respiratory Syndrome )! Một số công nghiệp ngoại quốc có thế lực đề cao quá độ vai trò chống hiệu ứng nhà kính để cứu vãng tình trạng khủng hoảng của Điện Hạt Nhân, kéo dài 25 năm nay.

Hiện nay, một số nước phát triển cao như Pháp, Đức tìm cách giảm dần vai trò Điện Hạt Nhân trong khi đó nhiều nước đang phát triển, như Trung Quốc, lại đầu tư nhiều vào lĩnh vực này. Xin giáo sư giải thích hiện tượng trái ngược này.

Anh nhận xét rất đúng. Cũng như nhiều nước Âu châu, Đức đã can đảm tuyên bố bỏ Điện Hạt Nhân. Đó là một hy sinh lớn lao ( cả trăm tỷ USD ) và cũng là một bài học cho thế giới. Nước Pháp đang tiếp tục Điện Hạt Nhân nhưng sẽ hạ dần tỷ lệ và sẽ tăng tỷ lệ năng lượng tái tạo . Sở dĩ Trung Quốc phải xây thêm lò Điện Hạt Nhân là vì nhu cầu mênh mông. Mục đích là để giảm số lượng dầu mỏ nhập khẩu quá đắt và cũng để có thêm kinh nghiệm cho vũ khí nguyên tử. Tuy nhiên, tỷ lệ Điện Hạt Nhân Trung Quốc sẽ không lớn vì chủ yếu dựa vào năng lượng hóa thạch và năng lượng tái tạo, đặc biệt là thủy điện lớn và nhỏ.

Khác với Trung Quốc, tiềm năng thiên nhiên của Việt Nam còn dồi dào, thừa đủ cho nhu cầu hàng chục năm tới.

Ta không nên hấp tấp, nghe luận điệu tuyên truyền, vụ lợi, của ngoại quốc.

Khi lưu ý những điều bất cập, hậu quả của việc phát triển Điện Hạt Nhân, giáo sư cho rằng Việt Nam nên chú ý phát triển các nguồn năng lượng tái tạo và có chính sách tiết kiệm năng lượng. Xin giáo sư cho biết rõ hơn hai gợi ý này.

Vâng, trong số 9 bài về Điện Hạt Nhân, tôi đã viết với tất cả nhiệt tình dành cho quê hương, có một bài rất dài về năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng.

năng lượng tái tạo, đặc biệt điện gió và mặt trời, sẽ kinh tế vào năm 2030 tức là 10 năm trước khi các lò thế hệ IV ra đời.

Lẽ cố nhiên, năng lượng tái tạo sẽ không thể thay thế tất cả các loại năng lượng cổ điển, nhưng nó sẽ góp phần hết sức quan trọng cho hòa bình thế giới và việc phát triển lâu bền của nhân loại.

Nước nào cũng cần có một chiến lược dài hạn và hữu hiệu về tiết kiệm năng lượng vì đó cũng là một nguồn năng lượng quý báu, dễ khai thác. Tôi có cảm tưởng như bên nhà còn xem nhẹ vấn đề này.

Không khéo, dư điện lúc nào ta lại không biết !

Điện Hạt Nhân : Nên dè dặt đối với những luận điệu tuyên truyền của ngoại quốc

“Tôi rất vui mừng được biết nhiều quan điểm mới về Điện Hạt Nhân ở nước nhà qua báo NLĐ, đặc biệt với các bài có tinh thần trách nhiệm quý báu của nhà văn Nguyên Ngọc. Tiếp theo bài của TS Đinh Ngọc Lân, tôi xin phép góp thêm ý kiến và bình luận vài con số.”

Đó là ý kiến của GSTS Nguyễn Khắc Nhẫn từ Grenoble (Pháp) gởi về cho NLĐ . Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc để rộng đường tham khảo.

Lò thế hệ III EPR ( European Pressurized Reactor ) sẽ có công suất 1600 MW thay vì 1450 MW như đã nêu.

Trong số các lò thế hệ IV đang được 10 nước nghiên cứu ( Generation IV International Forum – GIF ), lò nhiệt độ cao VHTR ( Very High Temperature Reactor ) 850° C sẽ có hiệu suất rất lớn 50 %.

Tôi không đồng ý về những con số ghi trong bài nghiên cứu”the future of nuclear power” năm 2003 của MIT ( Massachusetts Institute of Technology ). Bài này quá lạc quan chỉ thỏa mãn những mơ ước hão huyền của những công ty muốn xây cất hàng loạt nhà máy Điện Hạt Nhân khắp 5 châu. Không phải vô tình mà họ thổi phồng những tỷ lệ Điện Hạt Nhân của một số nước. Mục đích của họ là đánh tan sự nghi ngờ của thế giới đối với thị trường Điện Hạt Nhân bị chìm lặng đã gần 30 năm trời.

Tôi đã có dịp trình bày những lý do vì sao cơn khủng hoảng Điện Hạt Nhân trở nên trầm trọng thêm (mở cửa thị trường điện lực, thời gian thu lại vốn quá dài, chống đối của dân chúng...). Xin nhắc lại đây vài chi tiết quan trọng :

- Tỷ lệ Điện Hạt Nhân 6,5 % trong tổng kết nhu cầu năng lượng sơ cấp toàn cầu không thay đổi từ nay đến 2020.

- Đến 2020, tổng công suất Điện Hạt Nhân thế giới sẽ hạ xuống còn 320.000 MW thay vì 358 000 MW hiện nay.

Như thế có nghĩa là từ 2020 đến 2050, tỷ lệ Điện Hạt Nhân không thể nào nhẩy vọt một cách nhanh chóng và công suất những lò hạt nhân trên thế giới không thể tăng gấp ba, lên đến 1.000.000 MW !

Ta có thể tính được số lò Điện Hạt Nhân rất lớn mà Mỹ và Nhật phải ồ ạt xây cất để đạt tý lệ 50% và 60% vào nửa thế kỷ tới. Mỹ 715 lò ( 1000 MW ) thay vì 104 hiện nay. Nhật 85 lò thay vì 54 lò hiện nay.

Với nhịp độ này sẽ có vấn đề thiếu địa điểm tốt để xây cất nhà máy, thiếu công ty chế tạo lò để sản xuất, thiếu nhiên liệu Uranium giàu!

Đối với nhà đầu tư tư nhân, Điện Hạt Nhân kinh tế hay không là câu hỏi đầu tiên quan trọng nhất, bất kể các vấn đề an toàn, chất thải phóng xạ, tai nạn rủi ro, khủng bố, chống hiệu ứng nhà kính, môi trường...

Đừng quên rằng Mỹ hết sức thận trọng về vấn đề an toàn và luật lệ, họ chờ xem hiệu quả các lò thế hệ IV ra đời, sớm lắm cũng không trước 2030-2035.

Đến chân trời này, năng lượng tái tạo như gió, mặt trời đã trở nên kinh tế và có thể cạnh tranh với dầu, khí, mà giá sẽ tăng vọt lên vì các mỏ bắt đầu khan hiếm!

Tôi đã cho biết là hiện nay giá Điện Hạt Nhân ở Mỹ cao hơn giá điện chạy than hay khí ít nhất là 60 %. Sau đây là những con số mà ông Thomas B. Cochran, giám đốc NRDC’s nuclear program đã công bố ở Mỹ ngày 15/4/2004:

Nhà máy (vận hành 40 năm) Cents USD/kWh
Điện Hạt Nhân 6,7
Than 4,2
Khí (giá trung bình ) 4,1
Khí (giá hạ ) 3,8

Đứng về phương diện kinh tế, Điện Hạt Nhân ở Mỹ chỉ có thể phát triển trở lại ngày nào chính phủ đánh thuế carbone (carbon tax) từ 100 USD/tấn C đến 200 USD/tấn C tùy nhà máy chạy than hay khí.

Pháp đã tuyên bố sẽ dần dần hạ tỷ lệ Điện Hạt Nhân 77 % hiện nay để tăng phần năng lượng tái tạo.

Ở Nhật sau những sự cố đa xảy ra gần đây, dư luận mất nhiều tin tưởng ở Điện Hạt Nhân, nên khó phát triển mạnh.

Trung Quốc và Ấn Độ, với nhu cầu quá lớn, cực chẳng đã, phải tiếp tục xây dựng một số lò thế hệ II PWR ( Pressurized Water Reactor) vì không thể chờ đợi lò thế hệ IV. Tuy nhiên, tỷ lệ ĐHN ở hai nước này cũng không thể đạt mức 30 % vào năm 2050.

Philippines tuy đã bỏ ra 2,3 tỉ USD để xây cất nhà máy Điện Hạt Nhân Bataan năm 1976, gần xong năm 1984 thì phải đóng cửa vì sợ động đất và vì địa điểm không tốt, ở không xa núi lửa Pinatubo.

Riêng ở nước ta, nếu muốn có tỷ lệ Điện Hạt Nhân 20 % từ 2020 đến 2050, Công ty điện lực Việt Nam phải xây cất trung bình mỗi năm 2 lò ĐHN, đây không phải là một chuyện dễ !

Nói rằng Việt Nam chỉ có thể dùng lò PWR thì tôi không đồng ý chút nào. Trong số 436 lò đang vận hành ở 33 nước trên thế giới, gần 80 % thuộc kiểu PWR, nên kinh nghiệm gặt hái với loại lò này rất lớn, điều ấy không ai chối cãi được. Tuy nhiên, lò PWR (cũng như lò EPR vì cùng một kỹ thuật) được nhiều chuyên gia xem như đã lỗi thời!

Nói rằng lò PWR an toàn hơn lò RBMK của Nga vì có thêm nhà giam hãm (enceinte de confinement) là đúng nhưng không vì thế mà đương nhiên sẽ tránh khỏi những tai biến rùng rợn, xếp ở cấp 7 cao nhất của thang độ ( Echelle INES – International Nuclear Event Scale ) như Tchernobyl.

Nếu không, tại sao phải bỏ bạc tỉ USD để nghiên cứu lò thế hệ IV ? Và tại sao EDF ( Electricite de France ) không tiếp tục dùng lò PWR cho kinh tế và dễ khai thác hơn mà phải chuẩn bị mua lò EPR để lần lượt thay thế những lò đến tuổi phải thôi vận hành?

Bảo rằng không có con đường nào khác Điện Hạt Nhân thì phủ nhận vai trò hết sức quan trọng, đối với nhân loại và đối với đất nước ta, của các chiến lược tiết kiệm năng lượng và những chương trình phát triển năng lượng tái tạo.

Vì cớ gì ta lại phải tự ràng buộc, hấp tấp mua lò PWR để cho vận hành năm 2017-2020 ? Các độc giả nghĩ như thế nào nếu chúng ta hứa sẽ tặng các cháu gái 5 tuổi ở Ninh Thuận, nếu học ngày đêm đứng nhất nhì trong lớp, 2 xe hoa 4 cv Renault ( kiểu taxi Saigon, xuất hiện cùng thời điểm với kỹ thuật lò PWR của tàu ngầm Mỹ Nautilus năm 1954 ) đưa về nhà chồng cho oai với láng giềng, trong ngày hôn lễ 15 năm tới ?

Điện hạt nhân không kinh tế mà còn nguy hiểm cho đất nước

Tiếp theo bài « Phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam » của PGS.TS. Vương Hữu Tấn, Viện trưởng Viện Năng Lượng Nguyên Tử Việt Nam , đăng trên Thời báo KTSG ngày 13-5-2004 và bài của tôi viết đăng hai ngày 29-4-2004 và 6-5-2004, tôi xin phép góp một số ý kiến sau đây :

I. « Điện hạt nhân chưa được nghiên cứu và cân nhắc kỹ ».

Theo tôi, nước ta không có vấn đề cân bằng năng lượng đến 2030 vì tài nguyên nội địa đa dạng và tương đối còn khá phong phú so với nhiều quốc gia khác. Lẽ cố nhiên, chúng ta phải có chiến lược tiết kiệm, triệt để sử dụng tối ưu, hợp lý, có hiệu quả năng lượng và đồng thời nổ lực phát triển chương trình năng lượng tái tạo. Hiện nay, con số tổng kết về phung phí, thất thoát rất quan trọng; nếu tiết kiệm được thì đó là một nguồn năng lượng vô cùng quý báu.

Theo Viện Năng Lượng Nguyên Tử Việt Nam thì :

1. Nhà máy Điện Hạt Nhân đầu tiên ở Ninh Thuận sẽ có 2 tổ máy (2 x 1 000 MW). Công suất này lớn, sẽ khó khai thác. Chúng ta sẽ phải mua lò thế hệ II ( PWR, BWR, VVER, RBMK ) đã lỗi thời hay sao?

2. Năm 2020, nước ta sẽ thiếu từ 36-65 tỉ kWh và năm 2030, từ 119 - 188 tỉ kWh.

Mỗi năm, 2 lò 1000MW chỉ cho trung bình 12 tỉ kWh, như vậy những tỉ kWh kia sẽ được sản xuất bằng nhiên liệu gi ? Chẳng lẽ ta phải xây cất một loạt từ 6 đến 11 lò cho năm 2020 và đến 2030 ta phải có từ 20 đến 31 lò ? Cả một công nghiệp Điện Hạt Nhân đồ sộ, và với phương tiện nào ? Lý luận như thế để chứng minh rằng Điện Hạt Nhân không giải quyết vấn đề cân bằng năng lượng cho đất nước.

Về an ninh cung cấp năng lượng cũng khó thực hiện được, vì ta sẽ phải tiếp tục lệ thuộc lâu dài với ngọai quốc, về thiết bị, nhiên liệu, nhất là Uranium làm giàu ra 3,5% 235U, vì việc xử lý nhiên liệu, lưu giữ chất thải phóng xạ, chưa kể phần chuyên viên kỹ thuật...

Mua tích trữ nhiều năm nhiên liệu hạt nhân sẽ không kinh tế ( tiền ứng đọng không sinh lời ), nó sẽ ảnh hưởng không tốt đến giá điện. Ngoài ra, ta cũng chưa đủ điều kiện để làm chủ một số khâu sản xuất nhiên liệu : từ khi trích U ở các mỏ ra đến lúc chế tạo nhiên liệu đưa vào lò. Rất ít nước trên thế giới có thể bỏ hàng tỉ USD để đầu tư vào nhà máy làm giàu U. Chương trình Điện Hạt Nhân của EDF, nhất nhì thế giới, đã thu hút 200 tỉ USD. Pháp phải huy động một lực lượng rất lớn đầu tư vào tất cả các khâu của chu trình kín (cycle fermé). Tuy nhiên, tỉ lệ độc lập vẫn không quá 50%.

Cho nên, nhập khẩu nhiên liệu hay năng lượng có sao đâu ? Về phương diện kinh tế, vấn đề an ninh và độc lập năng lượng, trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay, không còn ý nghĩa như xưa nữa.

II. « Điện Hạt Nhân không nhất thiết đóng góp vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước ».

Phát triển Điện Hạt Nhân không tăng cường mạnh tiềm lực khoa học, công nghệ và công nghiệp quốc gia như ta tưởng. Nó là một lĩnh vưc riêng biệt vì tính cách an toàn ( nên đòi hỏi rất nhiều kinh phí ). Nó chỉ là một phần của ngành năng lượng, nhưng nó sẽ thu hút hết nguồn tài chính quốc gia. Ta sẽ không còn đủ sức đầu tư vào các lĩnh vực then chốt : giáo dục- nghiên cứu, y tế và xã hội. Lấy ví dụ điển hình ở Trung tâm nghiên cứu hạt nhân Grenoble thành lập năm 1956 mà tôi được biết rõ, người ta biết chuyển hướng rất sớm, đã sang nghiên cứu từ lâu ngành micro ( 10 - 6m ) điện tử và gần đây nano ( 10 - 9m ) công nghệ ( 50 ngàn lần nhỏ hơn sợi tóc !). Các lò nghiên cứu hạt nhân Mélusine, Siloé và Siloette của Trung tâm này (nay gọi là CEA) đang phải tháo gở (tốn gần 200 triệu USD). Nhắc lại đoạn đường 50 năm qua để độc giả nhìn nhận chiến lược ngược chiều, sai lầm, nếu ta lựa chọn ngành Điện Hạt Nhân làm nền tảng công nghiệp xứ sở.

Làm Điện Hạt Nhân sẽ đưa nước nhà vào một con đường bế tắc với bao chướng ngại vật. Mỗi nhà máy kẹt ít nhất 100 năm vì phải chờ 50 năm mới tháo gỡ đươc. Nên nhớ rằng giới khoa học đã đặt câu hỏi có nên tiếp tục một kỹ thuật già nửa thế kỷ ( kỹ thuật PWR xuất hiện cùng một lúc với tầu ngầm Nautilus của Mỹ năm 1954 ). Nhiều chuyên gia cho rằng việc sử dụng chất phân rã ( matière fissile ) để làm điện không phải là một thượng sách. Cái may của nước ta, cũng như gần 170 nước khác, là chưa kẹt vào đó. Viện Năng Lượng Nguyên Tử Việt Nam muốn làm chủ ngành Điện Hạt Nhân để làm gì? Phí công, mất của, mà còn nguy hiểm cho con cháu.

Chúng ta không nên lạm dụng danh từ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tiến triển khoa học ngày nay và việc toàn cầu hóa đã làm nhiều nước ( trong đó có Pháp ) phải dẹp dần một số công nghiệp không có triển vọng.

Nói rằng các cường quốc đều thông qua chương trình phát triển Điện Hạt Nhân để nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và công nghiệp quốc gia thì là quá đáng. Sự thật, thừa nhận rằng các nước có bom nguyên tử đều bắt đầu bằng chương trình Điện Hạt Nhân, để có sự hợp tác quốc tế công khai về mặt kỹ thuật cũng như tài chính thì đúng hơn.

III. « Điện Hạt Nhân không giải quyết vấn đề môi trường trong phát triển năng lượng bền vững »

Nhiều nhóm thế lực (lobby) quốc tế đã đầu tư quá nhiều tỉ USD vào lĩnh vực hạt nhân nên lợi dụng việc chống hiệu ứng nhà kính để cứu vãn tình trạng khủng hoảng đã kéo dài từ 25 năm nay; họ nêu khẩu hiệu Điện Hạt Nhân góp phần giải quyết vấn đề môi trường. Sự thật không phải vậy. Không ai phủ nhận vai trò Điện Hạt Nhân trong vấn đề CO2, nhưng đảm bảo rằng Điện Hạt Nhân là một nguồn năng lượng « sạch » thì thật là phi lý. Thí dụ Tchernobyl với trên 3 triệu nạn nhân ( trong số đó có hàng chục ngàn người thiệt mạng, hàng trăm ngàn người bị thương, lâm bệnh tật suốt đời ).Thông tin này ( ít được phổ biến ) do cố vấn sứ quán Ukraine ở Pháp trực tiếp cho tôi biết tại hội thảo quốc tế về điên hạt nhân ở Paris tháng 4 vừa qua. Ông Viện trưởng Viện Năng Lượng Nguyên Tử Việt Nam đã quá lạc quan khi dám tuyên bố « với công nghệ điện hạt nhân hiện nay sẽ không có tai nạn kiểu như Tchernobyl ! ». Nhiều nước Đông Âu vẫn tiếp tục khai thác một số lò RBMK (Tchernobyl), VVER (kỹ thuật Nga) còn thiếu an toàn tuy đã được tu bổ. Cộng đồng Châu Âu đã yêu cầu những nước xin gia nhập cộng đồng đóng cửa các lò RBMK. Vì vũ trụ vẫn vô thường, tai nạn vẫn có thể xảy ra : động đất, bão lụt, máy bay khủng bố hay khai thác sai lầm. Không có công ty nào trên thế giới lúc bán lò hạt nhân cho ta dám ký hợp đồng bảo đảm sẽ không có tai biến lớn xảy ra xếp ở cấp 7 cao nhất của thang độ ( Echelle INES- International Nuclear Event Scale ) như trường hợp Tchernobyl, mặc dù xác suất rủi ro là một phần triệu .

Theo ông Viện trưởng (bài kỳ hai 20/05) : « sau năm 2050 chúng ta mới phải lo chôn cất chất thải phóng xạ dài ngày. Lúc đó chắc chắn đã có công nghệ mới để xử lý, biến chất thải dài ngày thành ngắn ngày hoặc không còn phóng xạ ». Tôi thì lo ngay bây giờ. Suốt nửa thế kỷ, khoa học chưa tìm ra giải pháp, làm sao dám tin tưởng ở sự thành công trong tương lai ? Bảo rằng chất thải sẽ không còn phóng xạ là coi rẽ những hiện tượng vật lý. Với tinh thần trách nhiệm, ta không thể để con cháu thừa hưởng cặn bả độc hại, mặc kệ cho chúng tùy nghi xử lý ?

Vài lò hạt nhân ở Việt Nam không có nghĩa lý gì trước khối lượng CO2 của Trung Quốc thải ra. Than là nguồn năng lượng chính của nước này ( 3/4 tổng số nhiên liệu ). Về số lượng dầu tiêu thụ, Trung Quốc vừa được sắp hạng 2 trên thế giới, chỉ đứng sau Mỹ. Nước Mỹ, có một trách nhiệm rất lớn về CO2 phát ra, nhưng vì coi nhẹ vấn đề môi trường, họ đã từ chối ( như Nga và Trung Quốc ) việc xác nhận quy ước Kyoto (1997) để chống hiệu ứng nhà kính. Với chỉ 5% dân số thế giới, Mỹ tiêu thụ một cách phung phí và vô tư 25% năng lượng của toàn cầu. Mỗi người dân Mỹ trung bình sử dụng trên 8 tep (tấn dầu), tức là 18 lần con số 0,45 tep của một người dân Việt Nam. Mỗi người Pháp được 4,4 tep. Điều cần biết là tất cả những nhà máy điện trên thế giới chịu trách nhiệm 1/4 số luợng CO2 được thải lên trời ( 24 tỷ tấn năm 2002 ). Nhiều mô hình khí hậu dự đoán rằng nhiệt độ trung bình thế giới có khả năng tăng lên từ 1,5 đến 6°C từ đây đến chân trời 2100. Đến đó mực nước biển cũng có thể cao hơn từ 10 đến 90 cm. Tuy vậy, một số thăm dò ý kiến gần đây cho biết là phần đông các nước chấp nhận hậu quả nguy cơ khí hậu hơn là tai biến hạt nhân. Nạn hạn hán ( 41 - 42°C ) mùa hè 2003 ở Pháp làm 15 ngàn người lớn tuổi bị thiệt mạng và EDF suýt phải cúp điện nói lên sự mỏng manh (fragilité) của một chương trình Điện Hạt Nhân đồ sộ ( 77% Điện Hạt Nhân ).

IV. « Xu hướng phát triển Điện Hạt Nhân trên thế giới hiện nay không thuận lợi cho Việt Nam ».

Theo tôi, thị trường Điện Hạt Nhân quốc tế còn lu mờ. Rất nhiều chuyên gia cùng cho rằng cuộc khủng hoảng sẽ kéo dài đến 2020. Bằng chứng là tỷ lệ 6,5% của nhiên liệu hạt nhân trong tổng kết nhu cầu năng lượng sơ cấp toàn cầu sẽ không thay đổi từ đây đến đó. Theo cơ quan năng lượng quốc tế, tổng công suất Điện Hạt Nhân thế giới sẽ hạ xuống còn 320.000 MW ( năm 2020 ) thay vì 358.000 MW ( năm 2000 ). Hiện nay, toàn cầu có 440 lò. Trong 4 năm qua, chỉ 32 lò đang được xây cất, phần lớn ở Châu Á. Con số nhỏ bé này nói lên sự trầm trọng của cuộc khủng hoảng.

Ở Châu Âu, nhiều nước như Đức, Thụy Điển, Bỉ, Ý, Anh, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ … đều đã tuyên bố rút lui hoặc không hưởng ứng sự phát triển Điện Hạt Nhân nữa. Pháp, tuy có sự chống đối mạnh, nhưng vì không thể đợi lò thế hệ IV ( 2035 - 2040 ) để lần lượt thay thế các lò đã lớn tuổi phải ngưng vận hành, sẽ bắt buộc bỏ ra 3 tỉ USD để xây cất lò mẫu EPR thế hệ III ( 1.600 MW ) vào năm 2007. Phần Lan cũng sẽ mua một lò này.

Về phần nước Mỹ, gần 30 năm nay, không có xây dựng thêm lò nào cả. Vì nạn thiếu điện ở Californie và nhiều nơi khác, chính phủ đã lên tiếng muốn trở lại phát triển Điện Hạt Nhân. Nhưng ngoài những ràng buộc về luật lệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn, khủng bố, thời gian xây cất, còn có sự chống đối của dân chúng. Hai chướng ngại vật lớn nhất của nhà đầu tư Mỹ là kinh tế và tài chính. Ai dám bỏ tiền ra khi mà giá Điện Hạt Nhân cao hơn 60% giá điện chạy than hay khí ( NRDC Mỹ, 04/2004 ) ? Ai chịu đầu tư nếu phải đợi tối thiểu 7,8 năm trời mới thu được vốn? Thị trường Điện Hạt Nhân không phải là thị trường ngắn hạn. Ngân hàng không dại ký giao kèo bảo hiểm về những rủi ro trong thời gian vận hành và nhất là tai biến, khủng bố. Vì những lý do trên, công suất đặt hạt nhân của Mỹ đến 2020 sẽ hạ xuống chứ không tăng lên được.

Những khó khăn vừa nêu trên không phải chỉ dành riêng cho nước Mỹ mà thôi. Thêm vào đó, sự mở cửa thị trường điện lực càng làm cuộc khủng hoảng trở nên gay gắt. Vì điện không tích trữ được (non stockable), sản xuất ra là phải tiêu thụ ngay. Nếu không có nhà nước thì ai lo kế hoạch đầu tư dài hạn, ai chú trọng đến vấn đề an toàn ?

Ở Việt Nam, Điện Hạt Nhân không thể kinh tế, vì trong giá điện phải tính các chi phí liên hệ đến việc xử lý nhiên liệu, an toàn, bảo hiểm, lưu giữ chất thải phóng xạ, tháo gỡ. ( EDF phải để dành 20 tỉ USD cho khâu này vì tháo gỡ một nhà máy Điện Hạt Nhân tốn khoảng 330 triệu USD ).

Dù muốn dù không, tất cả các nước trên thế giới đều phải, song song với việc áp dụng chính sách tiết kiệm và gia tăng hiệu suất, triệt để phát triển năng lượng tái tạo. Nhân loại phải lợi dụng « giai đoạn chuyển tiếp này ( từ đây đến 2030 ) » để chuẩn bị thay thế một cách kinh tế các nguồn năng lượng hóa thạch ( dầu, khí, than…) bởi các nguồn thông lượng ( énergie de flux ) tức là năng lượng tái tạo. Nước Đức, tuy đã có 19 lò hạt nhân ( 30% Điện Hạt Nhân ) và mặc dù mỗi năm phải nhập khẩu hàng chục, hàng trăm tấn nhiên liệu đã cam đảm hy sinh Điện Hạt Nhân. Đức dẫn đầu về năng lượng gió ( trên 12.000 MW ) và đă có nhiều thành tích khả quan với năng lượng mặt trời. Đây là gương sáng chói cho toàn cầu. Chiến lược dài hạn của Anh Mỹ, đến chân trời 2050, không trông cậy ( hoặc rất ít ) vào Điện Hạt Nhân mà lại đặc biệt chú trọng đến việc sản xuất hydrogène từ các nguồn hóa thạch và kỹ thuật giam giữ (séquestration) carbone, gia tăng hiệu suất năng lượng và phát triển năng lượng tái tạo (mặc dù có vấn đề về số lượng, môi trường và kinh tế).

Việt Nam ta nên tránh Điện Hạt Nhân, vì không kinh tế và vì hậu quả chiến tranh còn gieo bao đau thương, trên lãnh thổ ta rải rác còn nhiều chất độc (màu da cam chẳng hạn), chúng ta không nên tặng thêm cho con cháu chất thải phóng xạ ngàn năm còn nguy hiểm !

Grenoble 27-5 2004

TS Nguyễn Khắc Nhẫn

Nguyên Cố vấn Nha kinh tế, dự báo chiến lược - EDF - Paris

G.S Trường Đại học Bách khoa Grenoble

G.S Viện kinh tế, chính sách năng lượng Grenoble