NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam - Vietnam Airlines

Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam ( Vietnam Airlines ) được thành lập vào tháng 04 năm 1993, là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam. Hãng nằm dưới sự quản lí của một hội đồng 7 người do Thủ tướng chỉ định. Hãng từng là cổ đông lớn nhất của hãng hàng không thứ hai của Việt Nam – Pacific Airlines nhưng cổ phần của hãng đã được chuyển sang Bộ Tài chính vào tháng 01 năm 2005.

Năm thành lập : 1956

Trạm trung chuyển chính : Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất - Sân bay quốc tế Nội Bài .

Điểm đến quan trọng : Sân bay quốc tế Đà Nẵng .

Chương trình hành khách thường xuyên : Bông Sen Vàng .

Số máy bay : 88 ( tính đến năm 2011 )

Số điểm đến : 20 nội địa , 26 quốc tế và 2 theo mùa .

Công ty mẹ : Tổng Công ty Hàng không Việt Nam .

Tổng hành dinh : Hà Nội, Việt Nam

Trang web : http://www.vietnamairlines.com

Vietnam Airlines là cổ đông lớn nhất với tỷ lệ nắm giữ cổ phần 69,93% Jetstar Pacific Airlines. Hãng nắm 49% trong Cambodia Angkor Air, hãng hàng không quốc gia Campuchia, và 100% trong VASCO, một hãng bay nhỏ chuyên bay ở khu vực miền Nam Việt Nam.

Hãng được đánh giá 3 sao, theo tiêu chuẩn của Skytrax . Ngày 10 tháng 6 năm 2010, hãng chính thức gia nhập liên minh SkyTeam, trở thành hãng hàng không đầu tiên của Đông Nam Á gia nhập liên minh này .

Cho đến cuối năm 2011, tổng công ty chiếm khoảng 80% thị phần thị trường hàng không nội địa tại Việt Nam và khoảng 40% thị phần khách du lịch bay đến và rời Việt Nam.

Lịch sử

Lịch sử ngành hàng không dân dụng ở Việt Nam bắt đầu từ ngày 8 tháng 6 năm 1951, với sự thành lập của hãng hàng không dân dụng đầu tiên Air Vietnam. Với số vốn 18 triệu piastre ( tức 306 triệu franc Pháp ), hãng được hình thành bởi 6 cổ đông ban đầu là Chính phủ Quốc gia Việt Nam (50%), hãng Air France (33,5%), Vận tải hàng không Ðông Dương (SITA) (11%), Vận tải biển ( Messageries maritimes ) (4,5%), Hiệp hội hàng không vận tải ( Union aéronautique des transports ) (0,5%), và Aigle Azur Indochine (0,5%). Năm 1968, hãng tái cơ cấu lại vốn, chính phủ Việt Nam Cộng hòa mua lại các phần góp và tăng vốn kiểm soát lên 75% và Air France giảm còn 25%.

Từ một đội bay nhỏ gồm 5 chiếc Cessna 170, với các điểm đến chủ yếu tới những thị trấn nhỏ khắp Việt Nam , Air Vietnam dần phát triển mạnh lên thêm về số lượng máy bay cũng như hệ thống đường bay quốc tế trong suốt 24 năm tồn tại.

Ở miền Bắc, ngành hàng không dân dụng bắt đầu từ ngày 15 tháng 1 năm 1956, khi Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Nghị định số 666/TTg thành lập Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam. Đây được xem là ngày thành lập chính thức của Hàng không Việt Nam hiện tại. Với một đội máy bay nhỏ gồm 5 chiếc của miền Bắc, hàng không Việt Nam mở đường bay quốc tế đầu tiên tới Bắc Kinh. Trong những năm sau đó, về danh nghĩa, nhiều tuyến bay quốc tế được mở đến các nước trong khối Xã hội chủ nghĩa, thậm chí đến một số nước phương Tây, nhưng trên thực tế đều thực hiện quá cảnh sang Trung Quốc.

Năm 1976, sau khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam, bên cạnh những cơ sở vật chất đã tiếp quản trước đó, chính phủ Việt Nam tịch thu các tài sản còn lại của Air Vietnam và chuyển cho Tổng Cục Hàng không Dân dụng quản lý và sử dụng. Đội bay Hàng không Dân dụng Việt Nam, ngoài các máy bay Boeing 727 thu được của Air Vietnam, còn được tăng cường bởi các máy bay của Liên Xô như Tupolev Tu-134, Tupolev Tu-154... Một số đường bay quốc tế mới đến Viêng Chăn và Băng Cốc được mở lần lượt vào các năm 1976 và 1978. Bấy giờ, tên giao dịch của Hàng không Dân dụng Việt Nam là Vietnam Civil Aviation; đối với một số tuyến bay đến các nước phương Tây, tên giao dịch Air Vietnam vẫn được sử dụng.

Tháng 4 năm 1993, Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam ( tên giao dịch tiếng Anh là Vietnam Airlines ) được thành lập và là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam.

Ngày 27 tháng 5 năm 1996, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Võ Văn Kiệt ký quyết định thành lập Tổng công ty Hàng không Việt Nam ( Vietnam Airlines Corporation ) trên cơ sở sáp nhập 20 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hàng không mà Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam là nòng cốt.

Logo

Ngày 20 tháng 10 năm 2002, Vietnam Airlines tổ chức lễ giới thiệu biểu tượng mới "Bông Sen Vàng". Đây là mốc đánh đấu sự thay đổi toàn diện của Vietnam Airlines với chương trình hiện đại hoá đội ngũ máy bay, mở rộng mạng đường bay và hoàn thiện chất lượng dịch vụ để trở thành một hãng hàng không có tầm cỡ trong khu vực và trên thế giới.

Đây là sáng tác của họa sĩ Victor Kubo (Nhật Bản) và là kết quả của hơn 10 năm tìm kiếm và thử nghiệm để xây dựng mẫu biểu trưng tổng thể của Vietnam Airlines. Theo VNA, Hoa Sen - một hình tượng có ý nghĩa hết sức đặc biệt đối với người Việt Nam. Hoa sen biểu hiện cho sự khai sáng và hoàn mỹ; vừa đời thường lại vừa cao quý, linh thiêng; vừa duyên dáng, mềm mại, nhưng không kém phần cứng cáp, đĩnh đạc.

Có nhiều lý do để những nhà thiết kế chọn biểu tượng hoa sen. Thứ nhất, nó phản ánh lịch sử văn hóa Việt Nam, thu hút sự chú ý, khơi dậy niềm tự hào dân tộc. Hoa sen có ý nghĩa đặc biệt đối với người Việt Nam, nó tượng trưng cho sự khai sáng và hoàn mỹ theo triết học nhà Phật và phản ánh sức vươn lên của dân tộc Việt Nam. Hoa sen có trong mọi mặt của cuộc sống, trong kiến trúc cung đình và tôn giáo, trong văn học nghệ thuật... Hoa sen có sự khác biệt hoàn toàn so với biểu tượng hiện thời, khác biệt so với các hãng hàng không khu vực. Một số hãng đã sử dụng thành công biểu tượng hoa như China Airlines, Aloha Airlines, Hawaiian Airlines nhưng chưa có hãng nào sử dụng hoa sen. Hơn thế, cả thế giới đều biết đến hoa sen như biểu tượng của giá trị văn hóa và vẻ đẹp châu Á.

Đào tạo

Theo Tổng giám đốc Hiệp hội các hãng Hàng không châu Á Thái Bình Dương, một hiệp hội doanh nghiệp các hãng hàng không châu Á, ngành hàng không Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm trong việc đào tạo phi công và phi hành đoàn. Tuy nhiên, Vietnam Airlines liên tục cải thiện vấn đề này khá hiệu quả. Ngay từ đầu năm 2000, Vietnam Airlines đã lên kế hoạch đào tạo 400 phi công.

Vận chuyển hàng hóa nguy hiểm, đào tạo tiếp viên, quản lý nguồn lực tiếp viên và đào tạo phi công là những chương trình tăng cường an toàn được dạy cho các nhân viên của hãng. Hầu hết các các phi công mới người Việt Nam được phân công làm phụ lái trên những máy bay phương Tây. Họ còn được chính các hãng sản xuất máy bay dạy các bài đầu tiên trên mặt đất và mô phỏng bay, cũng như theo học một năm hai lần ở hãng Ansett tại Úc. Tất cả các phi công người Việt Nam cũng như người nước ngoài đều phải học mô phỏng bay hai lần trong năm và được các phi công phương Tây kiểm tra định kỳ. Ở Hà Nội có một mô hình buồng lái máy bay Airbus được dùng để dạy các bài về khói và sơ tán hành khách.

Hầu hết các cơ trưởng và phụ lái của loại máy bay ATR đều là người Việt Nam. Cơ trưởng của máy bay Airbus xấp xỉ một phần ba là người nước ngoài, hai phần ba mang quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, đến cuối năm 1998, tất cả các cơ trưởng của máy bay Airbus đều là người Việt Nam nhưng những người giảng dạy và các phi công kiểm tra vẫn là người ngoại quốc. Phi hành đoàn của máy bay Fokker đều là người Việt Nam nhưng cũng như Airbus, các người giảng dạy và phi công kiểm tra vẫn là người nước ngoài. Hầu hết các phi công máy bay Boeing đều là người nước ngoài. Tuy vậy, một số phi công Việt Nam đang được đào tạo và phân công phụ lái. Chỉ những phi công phương Tây mới được phép điều khiển các chuyến bay hợp đồng đến các sân bay lạ.

Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam đã ký một hợp đồng với Socfreavia của Pháp thành lập trường đào tạo phi công ở tỉnh Phú Yên vào cuối năm 1998. Chỉ có 40% máy bay Boeing của Vietnam Airlines được điều khiển bởi các phi công Việt Nam trưởng thành từ các chương trình đào tạo ở nước ngoài. Rất nhiều các phi công được đào tạo tại trường Cao đẳng Hàng không Úc của Hawker de Havilland tại Adelaide, Úc.

Bảo dưỡng

Chu kỳ bảo trì máy bay thường được thực hiện khá chặt chẽ theo sự chỉ dẫn của nhà sản xuất. Những bảo dưỡng quan trọng với động cơ và cánh quạt được giao cho các cơ sở bảo dưỡng nước ngoài với đầy đủ các tiêu chuẩn. Tuy vậy, việc bảo dưỡng đang dần được chuyển về trong nước. Chưa có sai sót nghiêm trọng nào xảy ra với việc bảo dưỡng máy bay trong suốt lịch sử của Vietnam Airlines.

Kể từ ngày 1 tháng 7 năm 1998, Vietnam Airlines bắt đầu tự sửa chữa và bảo dưỡng máy bay. Từ đó đến nay, các kỹ thuật viên người Việt Nam đã sửa chữa và bảo dưỡng các loại máy bay như Airbus A320, ATR72, Fokker và học bắt đầu việc kiểm tra đối với các máy bay Boeing kể từ năm 1999. Việc chuyển giao công nghệ sửa chữa và bảo dưỡng từ Airbus sang Vietnam Airlines đã giúp hãng tiết kiệm được 20 triệu USD mỗi năm. Tháng 8 năm 1998, 15 kỹ thuật viên của hãng đã tham gia khóa học sửa chữa và bảo dưỡng máy bay tại trung tâm của Boeing ở Seattle, Hoa Kỳ. Hãng còn gửi 45 kỹ thuật viên chuyên về máy móc và truyền dẫn vô tuyến đến tham gia khóa học với Boeing, kết thúc vào năm 1999. Các kỹ thuật viên được cấp chứng chỉ công nhận bởi Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam. Thêm vào đó, tháng 6 năm 1998, Boeing kí một biên bản ghi nhớ với Vietnam Airlines rằng, Boeing sẽ chịu toàn bộ chi phí giúp Vietnam Airlines bảo dưỡng và cung cấp các chương trình hỗ trợ kỹ thuật trong việc nâng cấp trung tâm bảo dưỡng máy bay tại sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất để trung tâm này có đủ khả năm bảo dưỡng máy bay Boeing 767.

Tháng 4 năm 1998, cùng với các nhà đầu tư khác, Vietnam Airlines chi 1 triệu USD thành lập một xưởng bảo trì lốp và thắng máy bay tại Aircraft Enterprise A75 ở Thành phố Hồ Chí Minh, với sự trợ giúp của Japan Airlines. Sau khi hoàn thành, nhà xưởng này có một cơ sở đại tu lốp, bánh, thắng máy bay trị giá 16 triệu USD cùng với một cơ sở thử nghiệm và sửa chữa các trang thiết bị điện tử hàng không trị giá 12 triệu USD.

Region Air của Singapore và Park Aviation của Ireland cũng hỗ trợ kỹ thuật và bảo dưỡng cho Vietnam Airlines.

Hiện nay việc bảo trì của VietNam Airlines do công ty kỹ thuật máy bay Vaeco đảm nhận, Vaeco ra đời năm 2009 trên cơ sở hợp nhất các tổ chức bảo dưỡng của Vietnam Airlines trên toàn quốc. Năm 2010, Vaeco đã được Cục Hàng không Hoa Kỳ FAA phê chuẩn chứng chỉ bảo dưỡng FAR-145, là đơn vị đầu tiên trong ngành hàng không Việt Nam được Cục Hàng không Hoa kỳ phê chuẩn.

Ngoài việc thực hiện bảo trì máy bay cho Vietnam Airlines, Vaeco đang thực hiện bảo dưỡng theo hợp đồng cho hơn 20 hãng hàng không khác, chủ yếu là bảo dưỡng Ngoại trường. Công ty đã bắt đầu có thực hiện bảo dưỡng Hangar Check cho Lao Airlines, Cambodia Angkor Air, Cebu Pacific...

Ở Việt Nam không có cơ sở nào sản xuất máy bay và các bộ phận máy bay. Boeing chiếm 35% thị trường phân phối ở Việt Nam, và General Electric cung cấp động cơ cho các máy bay của Boeing.

Bên cạnh những cơ sơ tự bảo dưỡng của mình, Vietnam Airlines còn có những hợp đồng bảo dưỡng máy bay với Air France, AMECO của Trung Quốc, China Airlines, Evergreen Aviation Technologies, GAMECO, Hong Kong Aircraft Engineering Co, Lufthansa AERO, MTU Maintenance Hanover, Royal Brunei Airlines, Safe Air của New Zealand, và TAT Industries của Pháp.

Tình hình tài chính

Vietnam Airlines do Chính phủ Việt Nam sở hữu, hãng còn có công ty con là Công ty bay dịch vụ hàng không VASCO. Trước năm 2005, hãng đã từng nắm giữ đến 86% cổ phần của hãng hàng không cổ phần Jetstar Pacific, với tư cách đại diện cho cổ phần của chính phủ Việt Nam. Trong tương lai, hãng con VASCO cũng sẽ được tách riêng thành hãng hàng không độc lập.

Vietnam Airlines tăng trưởng tốt với số lượng hành khách tăng 37% mỗi năm cho đến 1997 khi cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á và những yếu tố tiêu cực khác làm giảm hiệu quả kinh doanh của hãng. Tuy vậy, hãng vẫn có lợi nhuận trong suốt cuộc khủng hoảng. Trong hai năm 1996 và 1997, hãng thông báo lợi nhuận hơn 100 triệu USD mỗi năm . Năm 1998, lợi nhuận giảm xuống chỉ còn khoảng 7 triệu USD. Lợi nhuận tăng lên 59 triệu USD vào năm 1999. Sau vụ tấn công 11 tháng 9 vào Hoa Kỳ, trong lúc nhiều hãng hàng không phải vật lộn, thu nhập từ vận tải hành khách của Vietnam Airlines lại tăng đột ngột. Hãng đã vận chuyển hơn 4 triệu hành khách trong năm 2002, tăng 18% so với năm trước. Vận chuyển hàng hóa tăng 20% trong cùng thời kì đó. Và kết quả là năm 2002, lợi nhuận của hãng tăng lên 35,77 triệu USD. Bất chấp sự bùng phát của dịch SARS, hãng thông báo lợi nhuận 26,2 triệu USD trong năm 2003. Trong vòng 11 tháng đầu năm 2005, hãng vận chuyển 6,8 triệu lượt khách với thu nhập gần 1,37 tỷ USD. Năm 2007, hãng đã vận chuyển 8,1 triệu hành khách.

Doanh thu năm 2008 của công ty là 1,56 tỉ đôla ( so với 1,27 tỉ đôla trong năm 2007 ) và lợi nhuận trước thuế và lãi là 14 triệu đôla ( giảm so với 23 triệu đôla của năm 2007 ) với lưu lượng hành khách vận chuyển được là 8,8 triệu lượt khách .

Tình hình tài chính của Vietnam Airlines tăng trưởng khá tốt. Hãng đang có kế hoạch tăng số máy bay và số điểm đến trong những năm sắp tới.

Thị phần và cạnh tranh

Cho đến cuối năm 2011, Vietnam Airlines chiếm khoảng 80% thị phần thị trường hàng không nội địa tại Việt Nam, các phần trăm thị phần còn lại thuộc về Jetstar Pacific Airlines - JPA (khoảng 17%), và Air Mekong, Vasco và VietJetAir (chia sẻ 3% còn lại) . Sau một thời gian hoạt động do khai thác không hiệu quả, JPA thua lỗ kéo dài, Bộ Tài chính và Bộ Giao thông Vận tải đang xem xét chuyển số cổ phần mà Nhà nước Việt Nam thông qua SCIC đang nắm giữ tại Jetstar Pacific cho Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines). Điều này đã dấy lên sự lo ngại là bước lùi lớn về mặt cạnh tranh của thị trường hàng không nội địa và người tiêu dùng chịu thiệt vì Vietnam Airlines khi đó sẽ nắm khoảng 97% thị phần và có thể độc quyền về giá .

Về quốc tế, Vietnam Airlines nắm giữ 40% thị phần khách du lịch bay đến và rời Việt Nam. Điều này rất có ý nghĩa đối với hãng vì hai phần ba thu nhập của hãng là từ hành khách quốc tế.

Nơi đi đến

Mạng lưới vận chuyển của hãng bao gồm : 20 địa điểm trong nước , 26 điểm nước ngoài và 2 điểm theo mùa .

Châu Á

Đông Á

1. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa :

- Bắc Kinh (Sân bay quốc tế thủ đô Bắc Kinh, PEK) .

- Quảng Châu (Sân bay quốc tế Bạch Vân Quảng Châu, CAN) .

- Hồng Kông (Sân bay quốc tế Hồng Kông, HKG) .

- Côn Minh (Sân bay Wujiaba Côn Minh, KMG) .

2. Đài Loan :

- Cao Hùng (Sân bay quốc tế Cao Hùng, KHH) .

- Đài Bắc (Sân bay quốc tế Tưởng Giới Thạch, TPE) .

3. Nhật Bản :

- Fukuoka (Sân bay Fukuoka, FUK) .

- Nagoya (Sân bay quốc tế Chubu Centrair, NGO) .

- Osaka (Sân bay quốc tế Kansai, KIX) .

- Tokyo (Sân bay quốc tế Narita, NRT) .

4. Hàn Quốc :

- Busan (Sân bay quốc tế Gimhae, PUS) .

- Seoul (Sân bay quốc tế Incheon, ICN) .

Đông Nam Á

1. Campuchia :

- Phnom Penh (Sân bay quốc tế Pochentong, PNH) .

- Siem Reap (Sân bay quốc tế Angkor, REP) .

2. Lào :

- Viêng Chăn (Sân bay quốc tế Wattay, VTE) .

- Luang Prabang (LPQ)

3. Malaysia :

- Kuala Lumpur (Sân bay quốc tế Kuala Lumpur, KUL) .

4. Singapore :

- Singapore (Sân bay quốc tế Changi, SIN) .

5. Thái Lan :

- Bangkok (Sân bay quốc tế Băng Cốc, BKK) .

6. Philippines :

- Manila (MNL)

7. Miến Điện - Burma :

- Yangon (RGN)

8. Indonesia :

- Jakarta (CGK)

Việt Nam :

Miền Bắc :

- Điện Biên Phủ (Sân bay Điện Biên Phủ, DIN) .

- Hà Nội (Sân bay quốc tế Nội Bài, HAN) .

- Hải Phòng (Sân bay Cát Bi, HPH) .

- Sơn La (Sân bay Nà Sản, SQH) (tạm ngừng họat động do đang trong quá trình xây dựng lại) .

- Vinh (Sân bay Vinh, VII) .

- Thanh Hóa (THD) .

- Đổng Hới (VDH) .

Miền Trung :

- Chu Lai (Sân bay Chu Lai, VCL) .

- Đà Nẵng (Sân bay quốc tế Đà Nẵng, DAD) .

- Huế (Sân bay Phú Bài, HUI) .

- Nha Trang (Sân bay Cam Ranh, CXR) .

- Pleiku (Sân bay Pleiku, PXU) .

- Qui Nhơn (Sân bay Phù Cát, UIH) .

- Tuy Hòa (Sân bay Đông Tác, TBB) .

Miền Nam :

- Buôn Ma Thuột (Sân bay Buôn Ma Thuột, BMV) .

- Đà Lạt (Sân bay Liên Khương, DLI) .

- Thành phố Hồ Chí Minh (Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, SGN) .

- Phú Quốc (Sân bay Dương Đông, PQC) .

- Rạch Giá (Sân bay Rạch Giá, VKG) .

- Côn Đảo (Sân bay Cỏ Ống) .

- Cần Thơ (VCA)

- Cà Mau (CAH)

Châu Âu

1. Đức :

- Frankfurt (Sân bay quốc tế Frankfurt, FRA) .

2. Pháp :

- Paris (Sân bay quốc tế Charles De Gaulle, CDG) .

3. Anh :

London (LON) .

4. Nga :

- Moskva (Sân bay quốc tế Domodedovo, DME) .

5. Ý :

Rome (ROM) .

6. Tây Ban Nha :

- Barcelona (BCN) .

7. Hà Lan

- Amsterdam (AMS) .

8. Tiệp Khắc

- Prague (PRG)

Châu Đại Dương

Úc :

- Melbourne (Sân bay Melbourne, MEL) .

- Sydney (Sân bay quốc tế Kingsford Smith, SYD) .

Bắc Mỹ

Vietnam Airlines dự kiến mở đường bay đến Hoa Kỳ vào đầu năm 2006, nhưng do những vấn đề trong việc tìm sân bay trung gian và việc thiếu máy bay, đường bay thẳng Việt Nam - Hoa Kỳ sẽ khó có thể thành hiện thực trước năm 2007.

San Francisco có nhiều khả năng sẽ là điểm đến đầu tiên mặc dù Los Angeles cũng đang được cân nhắc, bởi cộng đồng người Việt khá lớn ở Quận Cam. Một vài điểm đến trong tương lai có thể sẽ là Chicago và New York.

Đội máy bay

Các loại máy bay và số lượng từng loại mà Vietnam Airlines sử dụng trong các tuyến đường bay của mình ( tính đến tháng 1 năm 2011 ) :

Loại Tổng Số Hành Khách (Thương Gia/Phổ Thông) Tuyến Bay Ghi Chú
Airbus A321-200 58 184 (16/168) Nội địa, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Malaysia, Singapore và Thái Lan Mua thêm 19 chiếc vào năm 2010, 3 chiếc cho Cambodia Angkor Air (VN-A327, VN-A351) thuê để sử dụng.
Airbus A330-200 10 (7 đang đặt) 266 (36/284) Nội địa , Úc , Nhật Bản và Hàn Quốc *
Airbus A350-900 Đặt mua 10 chiếc 308 (50/258) Băng Cốc , Nội địa ,Úc và Nhật bản *
ATR 72-500 16 68 (0/68) Nội địa, Lào, Cambodia *
Fokker 70 2 79 (0/79) đi các vùng gần sông mê kông *
Boeing 777-200ER 9 282 (54/228) - 295 (12/283) - 325 (35/290) - 338 (32/306) Nội địa và châu Âu *
Boeing 787-9 ( 8 đang đặt ) * Sẽ Hoạt động đi ấn độ , Trung Đông các Châu lục trên thế giới. Giao vào năm 2018
Tổng số máy bay 88 (23 đang đặt) Cập Nhật : Tháng 01-2011 * Hãng sẽ có 124 chiếc vào năm 2018.

Vietnam Airlines sẽ đầu tư thêm nhiều máy bay mới

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt kế hoạch phát triển đội máy bay của Vietnam Airlines đến năm 2020.

Theo đó, hãng hàng không quốc gia Việt Nam sẽ được đầu tư thêm nhiều loại máy bay thế hệ mới của Boeing và Airbus.

Con số cụ thể sẽ phát triển sẽ tăng dần đều từ 60 chiếc (năm 2010) lên 85 chiếc (năm 2015) và 107 chiếc (năm 2020).

Trong giai đoạn 2006 - 2020, Việt Nam Airlines sẽ mua tổng cộng 43 máy bay thương mại bao gồm 20 máy bay A321 (loại 150 ghế), 8 máy bay B787-8 (280 ghế), 5 máy bay ATR 72 (70 ghế) và 10 máy bay A350-900 (300 ghế, bay xuyên lục địa).

Thủ tướng Chính phủ cho phép Việt Nam Airlines thực hiện chỉ định thầu đặc biệt (không phát hành hồ sơ yêu cầu chào hàng), đàm phán trực tiếp với Boeing về hợp đồng mua 12 máy bay B787-8, hoàn thành ký hợp đồng trước ngày 16/11/2007 và với Airbus về hợp đồng mua 10 máy bay A350, 20 máy bay A321, hoàn thành ký hợp đồng trước ngày 21/12/2007.

Thủ tướng Chính phủ đồng ý cấp 904 tỷ đồng vốn ngân sách Nhà nước cho dự án đầu tư 4 máy bay B787-8 (đã ký hợp đồng mua năm 2005).

Việt Nam mua 12 máy bay 787 Dreamliner

Việt Nam vừa ký với hãng máy bay Boeing của Mỹ một hợp đồng mua 12 chiếc 787 Dreamliner nhằm mục đích hiện đại hóa phi đoàn của mình.

Hãng hàng không Vietnam Airlines sẽ mua bốn chiếc còn công ty Cổ phần cho thuê máy bay (VALC) mới thành lập sẽ mua tám chiếc.

Tám máy bay này sẽ được giao vào năm 2014 và sau đó.

Tuy chi tiết giá cả hợp đồng không được chính thức công bố, nhưng tổng trị giá 12 chiếc máy bay được ước tính lên tới 2,1 tỷ đôla.

Bốn máy bay Dreamliner được Vietnam Airlines mua theo một đơn đặt hàng đã ký từ 2005 và sẽ được giao vào cuối năm 2009.

Một thông cáo của Hàng không Việt Nam nói hãng này có kế hoạch sẽ vận hành 20 chiếc Boeing Dreamliner vào năm 2015 và con số lên tới 28 chiếc vào năm 2020.

Ngoài hãng Boeing, Airbus cũng dự tính sẽ ký một thỏa thuận cung cấp cho hàng không Việt Nam mười chiếc máy bay A350-900XWBs và 20 chiếc A321.

Hiện thời, phi đoàn của Vietnam Airlines có 46 chiếc máy bay, đa phần khá hiện đại. Lĩnh vực vận tải hàng không tăng trưởng tới 11,7% mỗi năm.

Vietnam Airlines hy vọng tăng số máy bay của mình lên 86 chiếc vào năm 2015 và 110 chiếc vào 2020.

Tới nay, hãng Boeing đã ký hợp đồng cung cấp hơn 700 chiếc 787 Dreamliner và Airbus cũng nhận 264 đơn đặt hàng cho loại máy bay kích thước tương tự của mình là A350, sẽ được tung ra vào năm 2013.

Boeing hoàn tất hợp đồng bán 12 máy bay B787 Dreamliner cho Việt Nam

Ngày 4-1-2008, Tập đoàn Boeing công bố đã hoàn tất và thông qua hợp đồng bán 12 chiếc máy bay Boeing 787 Dreamliner trị giá gần 2 tỷ USD cho Vietnam Airlines và Công ty cổ phần cho thuê máy bay Việt Nam (VALC). Trong đó Vietnam Airlines mua 4 chiếc, VALC mua 8 chiếc để cho Vietnam Airlines thuê lại. Số lượng đơn hàng từ Việt Nam đã đẩy tổng số lượng đơn đặt hàng cho dòng máy bay Boeing 787 lên tới 802 chiếc.

Trước đó, vào năm 2005, Vietnam Airlines cũng đã đặt mua 4 chiếc Boeing 787. Theo đơn hàng này, chiếc Boeing 787 Dreamliner đầu tiên sẽ được chuyển giao vào năm 2009. Còn theo đơn hàng mới, chiếc máy bay đầu tiên sẽ về Việt Nam vào năm 2014.

Hàng không Việt Nam Ký hợp đồng mua máy bay lớn nhất trong lịch sử

Ngày 21-12-2007 , tại Hà Nội, Tổng Công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) và Công ty Cho thuê máy bay Việt Nam (VALC) đã ký hợp đồng mua 30 chiếc máy bay với Tập đoàn máy bay thương mại Airbus. Đây là hợp đồng mua máy bay lớn nhất từ trước đến nay của ngành hàng không Việt Nam.

Trong 30 chiếc máy bay được ký hợp đồng mua lần này có 10 chiếc Airbus 350-900 XWB thế hệ mới và 20 máy bay A321-200 (Vietnam Airlines mua 10 chiếc A350-900 XWB và 10 chiếc A321, VALC mua 10 chiếc A321). Airbus sẽ giao chiếc máy bay A321-200 đầu tiên cho phía Việt Nam vào năm 2012 và giao A350-900 vào năm 2016. Vào năm 2004, Vietnam Airlines cũng đã ký hợp đồng mua 10 máy bay A321-200 và bắt đầu đưa vào khai thác chiếc máy bay Airbus 321 đầu tiên từ tháng 7-2004. Sáu chiếc trong số đó đã được giao cho Vietnam Airlines, 4 chiếc còn lại sẽ nhận tiếp trong năm 2008 và 2009. Đây hiện đang là loại máy bay chủ lực của hãng trên các đường bay nội địa và khu vực tầm ngắn, có thời gian bay dưới 4 giờ.

Vietnam Airlines hiện đang khai thác một đội bay trẻ gồm 47 chiếc máy bay hiện đại thuộc nhiều chủng loại. Dự kiến năm 2015 Vietnam Airlines sẽ khai thác tổng số 86 máy bay và nâng lên 110 máy bay vào năm 2020, trong đó đội bay A350 và A320/321 tương ứng là 24 và 50 chiếc.

Hàm Yên