NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Thách thức đối với Việt Nam để duy trì phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế - GS Joseph Stiglitz

Lần thứ 4 Giáo sư Joseph E. Stiglitz trở lại Việt Nam, song các bài thuyết trình của ông vẫn mới mẻ và vô cùng hấp dẫn với giới trí thức trẻ tuổi. Hơn 3 tiếng đồng hồ tại Nhà hát lớn Hà Nội sáng nay dường như vẫn chưa đủ để sinh viên thủ đô trao đổi với vị chủ nhân " giải Nobel kinh tế 2001 " về những vấn đề họ quan tâm. - Giáo sư nhận xét thế nào về sự phát triển kinh tế mấy năm gần đây của Việt Nam ? Những năm qua, Việt Nam đã đạt được sự phát triển khá nhanh chóng. Xuất khẩu hàng hoá không ngừng tăng lên, công cuộc xoá đói giảm nghèo cũng đạt được những thành tựu nhất định. Tuy nhiên, nhìn chung bức tranh nghèo đói của Việt Nam vẫn tương đối khắc nghiệt tại một số nơi, đặc biệt là vùng xa. Và xu hướng phát triển chênh lệch này vẫn đang có nguy cơ gia tăng trong thời gian tới.

Vậy Việt Nam nên làm thế nào để đảm bảo phát triển bền vững ?

Có thể nói Việt Nam đang tiến vào giai đoạn phát triển mà những tác động đối với môi trường ngày càng tăng. Trong khoảng 10 - 15 năm tới, số người sử dụng xe hơi sẽ tăng lên, các khu công nghiệp cũng mọc lên nhanh chóng. Điều đó tạo ra một áp lực rất lớn đối với môi trường, nếu không có những biện pháp ngay từ bây giờ thì hậu quả của nó sẽ khôn lường, và Việt Nam không thể đạt được sự phát triển bền vững. Do vậy, điều quan trọng là trong những chính sách kinh tế của mình, Việt Nam cần tính đến yếu tố bền vững môi trường. Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam cũng nên có những chính sách có tính bao quát đến tất cả các vùng, miền để tránh sự phát triển chênh lệch như trên...

Mục tiêu của Việt Nam là sẽ ra nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) trong năm tới. Vậy theo giáo sư, Việt Nam sẽ gặp phải những thách thức lớn gì sau khi trở thành thành viên của tổ chức này ?

Thách thức thì nhiều, nhưng theo tôi có hai vấn đề mà Việt Nam cần phải quan tâm. Thứ nhất, là Việt Nam sẽ bị yêu cầu về việc phải mở cửa hơn nữa khu vực tài chính đặc biệt là ngân hàng. Để tránh được những rủi ro có thể xảy ra, hệ thống ngân hàng Việt Nam cần phải lành mạnh hoá và phải xử lý tốt các khoản nợ khó đòi. Bên cạnh dó, phải có những yêu cầu linh hoạt trong việc cho vay, và mở các chi nhánh tại nhiều nơi trên cả nước nhằm đảm bảo dòng tài chính "chảy" trong toàn bộ nền kinh tế, kể cả những vùng sâu, vùng xa. Thách thức thứ hai, gia nhập WTO có nghĩa Việt Nam sẽ tham gia vào hệ thống thương mại tự do ( hay còn gọi là toàn cầu hoá ), đi liền với nó sẽ những bất bình đẳng xã hội tăng lên. Việc làm cần thiết hiện nay là Việt Nam phải chuẩn bị các phương án an sinh xã hội nhằm tránh những bạo loạn có thể xảy ra.

Xin giáo sư nói rõ hơn ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại ?

Có thể nói, ảnh hưởng của tự do hoá thương mại không rõ ràng như chúng ta nghĩ. Một nghiên cứu gần đây của UNDP cho thấy tự do hoá thương mại và tăng trưởng kinh tế không có mối quan hệ mang tính hệ thống. Nói một cách đơn giản thì tự do hoá thương mại không đảm bảo rằng tăng trưởng sẽ xảy ra. Chẳng hạn như Mexico, cách đây 10 năm nước này đã ký với Mỹ Hiệp định tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Tưởng rằng khi có NAFTA kinh tế Mexico sẽ phát triển nhanh chóng hơn. Nhưng tốc độ tăng trưởng của nước này đã chậm lại, tiền lương thực tế đã giảm xuống, và khoảng cách kinh tế giữa hai nước ngày càng xa hơn. Như vậy có thể thấy rằng, dù là hiệp định thương mại tự do song thực tế lại không hề có "tự do". Bởi một mặt Mỹ cam kết xoá bỏ thuế quan nhưng mặt khác lại dựng lên những rào cản phi thuế quan khác.

Một điểm nữa như tôi đã nói ở trên là tự do hoá thương mại thường kéo theo sự bất bình đẳng xã hội bởi nó có thể làm cho người giàu giàu hơn và người nghèo thì lại nghèo hơn nữa.

Vậy phải làm gì để toàn cầu hóa thương mại mang lại lợi ích ?

Theo tôi trước hết cần phải đa dạng hoá, tránh tình trạng bị phụ thuộc vào một thị trường hay một sản phẩm nào. Đồng thời phải suy nghĩ về các lợi thế so sánh động - tức là phải có sự định hướng về tương lai. Hàn Quốc là một ví dụ. Cách đây 35 năm, nước này được đánh giá là có lợi thế cạnh tranh về lúa, gạo. Khi ấy nhiều chuyên gia đã khuyên Hàn Quốc chỉ nên chú trọng vào lĩnh vực này, không cần phải nghĩ đến công nghệ cao hay máy móc... Tuy nhiên, Chính phủ Hàn Quốc đã sáng suốt nhận ra rằng, ngay cả khi họ rất thành công với lúa, gạo thì họ vẫn là một nước nghèo, và họ đã đưa ra những chiến lược với tầm nhìn xa hơn trong 20-30 năm sau. Giờ thì chúng ta thấy Hàn Quốc đã trở thành một cường quốc kinh tế lớn và có ảnh hưởng trên thế giới.

Một điểm quan trọng nữa là việc tìm ra những thị trường nhỏ, thị trường "ngách" mới để phát huy. Ví dụ như những lĩnh vực có sản phẩm chất lượng cao và mình có ưu thế. Bởi vì theo xu hướng hiện nay, một sản phẩm có thể được sản xuất tại nhiều quốc gia khác nhau trong hệ thống thương mại thế giới. Bên cạnh đó, cũng phải nghĩ tới các đồng minh chiến lược. Quan hệ thương mại với Mexico như là một kênh để thâm nhập thị trường Mỹ là một ví dụ.

Để đảm bảo toàn cầu hoá mang lại lợi ích, các nước cũng cần phải học cách đàm phán "rắn". Phải nhận thức được rằng, các hiệp định thương mại tự do chỉ cung cấp các khuôn khổ đàm phán chứ không phải các hiệp định thương mại thực sự tự do. Cũng phải nhận rõ rằng, vị thế của các nước công nghiệp phát triển và đặc biệt là Mỹ không dựa vào các nguyên tắc, mà vào sự theo đuổi các quyền lợi thương mại và tài chính của họ. Do vậy, khi đàm phán, vấn đề nào không thể nhân nhượng thì không nhân nhượng.

Gần đây, các hiệp định thương mại tự do đưa ra thêm các điều kiện gây khó khăn cho phát triển như Hiệp ước sở hữu trí tuệ. Ông bình luận gì về chuyện này ?

Hiện nay trong khuôn khổ của WTO có nói về Hiệp định sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực thương mại (TRIPS). Tuy nhiên, các nước và cả Mỹ đều nhận ra rằng, các điều khoản của TRIPS có chỗ không công bằng và cản trở sự phát triển. Nhận thức được vấn đề này, tại Geneva (Thuỵ Sỹ), người ta đã yêu cầu phải thiết kế một chế độ sở hữu trí tuệ hướng tới phát triển nhiều hơn nữa.

Việt Nam phải làm gì để có thể hội nhập thành công vào hệ thống thương mại toàn cầu ?

Theo tôi để hội nhập thành công đòi hỏi không chỉ tận dụng các cơ hội mà còn phải biết giải quyết các thách thức đặt ra từ quá trình toàn hoá. Đồng thời phải thấm nhuần các bài học thành công và thất bại của các nước đang phát triển khác.

Giáo sư Stiglitz được trao giải thưởng Nobel về kinh tế vào năm 2001. Cuốn sách của ông với tiêu đề “Toàn cầu hoá và những điều bất bình” đã bán được gần một triệu bản và đã được dịch sang 28 thứ tiếng. Ông đã từng là thành viên của Hội đồng Cố vấn kinh tế Mỹ từ 1993 đến 1995, dưới thời của Tổng thống Bill Clinton, và giữ cương vị Chủ tịch hội đồng này từ 1995 đến 1997. Ông cũng đã từng là chuyên viên kinh tế trưởng và Phó chủ tịch của Ngân hàng Thế giới từ 1997 đến 2000.

Tiến sỹ Robin Burgess là giáo sư kinh tế tại Trường kinh tế London và là chuyên viên nghiên cứu cao cấp của Cục Nghiên cứu kinh tế quốc gia. Lĩnh vực chuyên môn của ông là phát triển. Ông đã viết rất nhiều sách về thương mại, lao động và dịch vụ ngân hàng ở nông thôn.

Việt Nam có nhiều cơ hội...

Ấn tượng lớn nhất đối với giáo sư khi đặt chân đến Việt Nam là gì ?

Giá vé máy bay của các bạn quá đắt. Việt Nam là một trong những nước nghèo nhất thế giới, nhưng chi phí đi lại thì khó có nước nào bì kịp.

Giáo sư đã nghiên cứu nhiều về kinh tế Việt Nam ?

Tôi được thế giới biết đến là người bạn của các nước đang phát triển. Trước khi tới đây, tôi đã tìm hiểu rất kỹ về nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi của Việt Nam, và thấy còn quá nhiều điểm hạn chế. Trước hết, đó là hệ thống thuế VAT, hiện nay bị coi là lỗi thời trên thế giới, nhưng Việt Nam lại vận dụng nó làm bộ khung trong cán cân ngân sách. Thuế đánh vào đội ngũ tri thức lại cao hơn các thành phần khác, thử hỏi làm sao lấy đó làm động lực thúc đẩy nguồn chất xám cho tăng trưởng ?

Luật Doanh nghiệp của Việt Nam được cho ra đời quá muộn. Điều này chứng tỏ khu vực kinh tế tư nhân gần đây mới được chú trọng. Các bạn cần học hỏi những kinh nghiệm từ Trung Quốc, họ đã phát triển nền kinh tế một cách đồng đều và càng lúc càng chứng tỏ sự thành công vượt trội.

Tôi cũng hiểu một điểm khác biệt lớn giữa Việt Nam với các nước phương Tây là các bạn xây dựng mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình xây dựng, các bạn đang gặp những khó khăn rất lớn, nhất là vấn đề xoá đói nghèo.

Từng giữ cương vị Cố vấn trưởng về Kinh tế dưới thời Clinton, giáo sư đánh giá như thế nào về ảnh hưởng của Hiệp định thương mại Việt - Mỹ ( BTA ) ?

Rõ ràng BTA, sau khi được hai Quốc hội thông qua, sẽ là một cơ hội rất lớn cho hàng hoá Việt Nam thâm nhập vào thị trường Mỹ, đặc biệt là hàng nông sản. Điều này cũng tạo đà cho việc thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn của Việt Nam. Tôi được biết rằng gạo và cà phê là hai mặt hàng rất có uy tín của các bạn. Gạo thì khỏi nói, vì Việt Nam hiện là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới, còn cà phê thì chẳng phải gần đây, một tỷ trọng giá chuẩn không nhỏ tại London đã sử dụng cà phê loại 1 của Việt Nam.

Giáo sư có dự đoán gì về thời điểm Quốc hội Mỹ thông qua BTA ?

Cụ thể thì rất khó, nhưng việc Đảng Dân chủ dành thêm được tỷ phần trong Quốc hội là một tin hết sức thuận lợi. Tôi lưu ý đến dự báo gần đây của ngài Đại sứ Pete Peterson, tức là có thể chỉ một hai tuần tới BTA sẽ được phía Mỹ phê chuẩn...

Nhiều nước trên thế giới đang cắt giảm lãi suất, điều này ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam như thế nào ?

Công cụ lãi suất là một câu chuyện dài... Hẳn các bạn đã biết, IMF gần đây đã tỏ ra bất lực khi cố gắng can thiệp vào các cuộc khủng hoảng kinh tế tại châu Á. Yêu sách họ đưa kèm theo các khoản vay là phải ấn định tỷ lệ lãi suất cao, nhưng điều này lại đối ngược với nhu cầu vốn lớn cho đầu tư từ thành phần kinh tế tư nhân. Kết quả là các khoản "trợ cứu" của IMF đã như muối bỏ biển.

Vậy nên tôi cho rằng, Việt Nam cần nghiên cứu để ấn định một hệ thống lãi suất thực, tức là nó phản ánh đúng quan hệ cung cầu tiền tệ. Các nước khác trên thế giới thay đổi lãi suất vì họ có những vấn đề riêng phải đối phó, chẳng hạn như trần lãi suất của Nhật hiện xuống tới 0%, còn Việt Nam chưa cần lo lắng đến điều này. Tôi lưu ý, lãi suất phải có tác dụng khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư cho phát triển.

Lời khuyên cuối cùng trước khi rời Việt Nam của giáo sư ?

Cụ thể thì không, nhưng giải quyết tốt hai vấn đề là giáo dục và đầu tư thì tôi tin rằng kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng nhanh hơn hiện nay. Chúc Việt Nam sớm thành công! Tôi sẽ mãi là một người bạn tốt của các bạn.

Giới thiệu về Giáo sư Joseph Stiglitz:

Giáo sư Stiglitz được thế giới biết tới như là một người bạn đồng cảm và đáng tin cậy của các nước đang phát triển, đồng thời là nhà lý luận và cố vấn "độc lập" tầm cỡ thế giới với những quan điểm sáng tạo và độc đáo. Giáo sư Stiglitz đã từng là chủ tịch Hội đồng Cố vấn kinh tế Mỹ dưới thời Tổng thống Bill Clinton (1993 - 1997).

Sau ba năm đảm nhiệm xuất sắc cương vị Cố vấn trưởng Kinh tế của Ngân hàng Thế giới, Giáo sư Stiglitz đã rời tổ chức này vào năm 2000 để thực hiện hoạt động nghiên cứu và tư vấn độc lập về các vấn đề chính sách. Ngoài ra, Giáo sư Stiglitz còn tham gia giảng dạy ở hầu hết các trường đại học hàng đầu thế giới như Stanford, Yale, MIT, Cambridge, Oxford và nhiều trường khác. Giáo sư Stiglitz được coi là một ứng cử viên rất có triển vọng đoạt giải thưởng Nobel về kinh tế trong tương lai.

Thanh Xuân