NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Chiều Hướng Phát Triển Mới Cho Việt Nam - TS Mai Thanh Truyết , Kiều bào Mỹ

Việt Nam nằm giữa hai anh khổng lồ cả về dân số lẫn đất đai, một ở Ðông Á, và một Nam Á. Ðó là Trung Quốc và Ấn Ðộ. Trong quá trình lịch sử, Việt Nam đã chịu quá nhiều ảnh hưởng từ hai quốc gia kể trên về tôn giáo, triết học, văn hóa, đời sống và cấu trúc xã hội. Dĩ nhiên, vấn đề phát triển quốc gia cũng không nằm ngoài hai ảnh hưởng trên. Từ đó, tầm nhìn từ phía bên ngoài cũng như não trạng tiếp cận với các quốc gia Tây phương của ba quốc gia nầy có nhiều điểm tương đồng cần phải lưu tâm.

Dù mỗi quốc gia chịu sự chi phối và quản trị dưới một chính thể chính trị khác nhau, nhưng khi quan niệm sống còn trong cộng đồng thế giới đã thôi thúc lãnh đạo của từng nước phải biết tiếp cận ra ngoài, và phải mở cửa để đi vào dòng chính của tiến trình toàn cầu hóa. Từ quan niệm trên, Trung Quốc (TQ) đã tiến một bước trước, tức là bắt đầu mở cửa và hội nhập vào thế giới từ năm 1979. Tiếp theo đó là Việt Nam năm 1986, và sau cùng là Ấn Ðộ (AÐ), 1990.

Tuy thời gian mở cửa và hội nhập khác nhau, nhưng qua những đặc thù của từng quốc gia, cùng cung cách tiếp cận với thế giới bên ngoài, chúng ta có thể hình dung được mô hình phát triển nào tương đối đem lại nhiều phúc lợi hơn cho người dân. Thêm một lý do nữa để mang ba quốc gia trên so sánh là cả ba đều phát xuất từ nông nghiệp làm căn bản và mức tăng trưởng đều đặn trong chu kỳ 10 năm trở lại đây.

Bảng so sánh về một số dữ kiện xã hội, kinh tế, dân số, lao động, và phát triển cùng lợi tức của người dân dưới đây cho chúng ta thấy mức độ phát triển của từng quốc gia một, để từ đó hy vọng rút tỉa ra được con đường mà Việt Nam sẽ phải đi để tránh khỏi tụt hậu phía sau. Tụt hậu không phải vì kém tri thức, không phải vì thiếu tài nguyên, không phải vì khác điều kiện tiếp cận với thế giới bên ngoài cùng các công nghệ tiên tiến mới. Mà tụt hậu là vì có một chính sách phát triển không thích hợp với thời đại mới : thời đại của thông tin trên mạng lưới.

Ðịnh mức sự phát triển quốc gia cho đến nay vẫn còn căn cứ vào thuyết “tam khu” của Colin Clark, trong đó gồm khu nông nghiệp, khu công nghiệp, và khu dịch vụ. Từ đó qua sự phát triển, và qua từng giai đoạn, chỉ số phát triển của một quốc gia được tính toán qua tỷ lệ của từng khu vực.

Tiến trình phát triển quốc gia nói chung được ghi nhận vào các giai đoạn sau đây: 1- Trước hết 3 quốc gia vừa kể trên chọn nông nghiệp làm chính cho giai đoạn ban đầu; 2- Khi mức sản xuất nông nghiệp đáp ứng được cán cân cung cầu trong nước, từ đấy sẽ đẩy mạnh công nghiệp sản xuất; 3- Và sau giai đoạn công nghiệp, dịch vụ sẽ là trọng tâm trong phát triển. Do đó, đối với một quốc gia một khi tỷ lệ dịch vụ và công nghiệp sản xuất càng cao, sự phát triển của quốc gia đó càng tăng thêm mức bền vững và giảm thiểu được nguy cơ khủng hoãng.

Dưới đây là Bảng thống kê một số dữ kiện phát triển của 3 quốc gia Việt Nam , Ấn Ðộ và Trung Quốc căn cứ vào thông tin của cia.gov trên mạng lưới toàn cầu.

Khả năng tạo dựng của cải cho xã hội

Nhìn chung, mức tăng trưởng của ba quốc gia nầy trong 10 năm trở lại đây đã đứng đầu trong vùng Á Châu, Việt Nam đi chậm hơn một bước với mức tăng trưởng trung bình là 7%. Nếu so sánh với mức lạm phát mức tăng trưởng thực sự của Việt Nam, Ấn Ðộ , và Trung Quốc sẽ là 4,1%, 4,5%, và 7,9% ( mức tăng trưởng trừ đi mức lạm phát ). Do đó, cả Việt Nam và Ấn Ðộ vẫn phát triển chậm hơn Trung Quốc dù Trung Quốc phải cưu mang một lượng dân số cao nhất.

Về dân số, Trung Quốc đã kiểm soát được việc gia tăng dân số với mức sinh sản hàng năm là 0,57% , trong lúc đó Việt Nam và Ấn Ðộ vẫn không kềm hãm được mức gia tăng nầy. Do đó, theo ước tính vào năm 2025, Ấn Ðộ sẽ qua mặt Trung Quốc với 1,5 tỷ so vớ 1,4 tỷ, và Việt Nam sẽ đạt đến mức 120 triệu nhân khẩu.

Ngược lại với mức kiểm soát sinh sản trên, điều nầy sẽ là một cản ngại cho Trung Quốc trong vòng 20 năm sắp đến, vì nạn thiếu lao động và vì tuổi lao động trung bình sẽ lên đến 40 tuổi do đó khả năng tạo ra của cải vật chất sẽ sút giảm đi.

Lợi tức và Mãi lực của người dân

Vào năm 1980, lợi tức đầu người của Việt Nam là 180 đôla Mỹ, Ấn Ðộ và Trung Quốc , 280 đôla Mỹ/năm. Nhưng cho đến năm 2004, lợi tức Trung Quốc tăng lên gần gấp đôi so với Ấn Ðộ, 900 đôla Mỹ và 520 đôla Mỹ, trong lúc đó lợi tức của Việt Nam là 450 đôla Mỹ. Tỷ lệ tăng trưởng theo lợi tức trong khoảng thời gian nầy là 3,2, 2,9, và 2,5 lần cho Trung Quốc , Ấn Ðộ và Việt Nam .

Dĩ nhiên Việt Nam vẫn còn chậm bước dù đã mở cửa trước Ấn Ðộ gần 5 năm.

Bài viết có mục đích truy tìm cách lý giải tại sao Việt Nam vẫn còn chậm bước mặc dù có những điều kiện không khác biệt so với hai quốc gia đông dân trên. Thêm nữa, việc phân tích những điểm mạnh của Trung Quốc so với Ấn Ðộ, hai quốc gia đã từng có chung một lợi tức đầu người từ năm 1980; mà hôm nay, Trung Quốc đã mang lại một lợi tức gần gấp đôi Ấn Ðộ , và Việt Nam .

Những bước phát triển của Ấn Ðộ

Từ những năm đầu của thập niên 80, Ấn Ðộ bắt đầu gữi sinh viên ồ ạt qua các nước Tây phương đặc biệt là Anh Quốc và Hoa Kỳ, và có thể nói cho đến ngày nay, Ấn Ðộ đã dành địa vị độc tôn ở Á Châu về việc cung cấp dịch vụ và công nhân chuyên nghiệp cho Tây phương. Thung lũng về điện tử ở vùng San Jose ( California ) từ năm 2001 trở đi bị khốn đốn vì hàng trăm ngàn chuyên viên cao cấp trong ngành nầy đã đồng loạt trở về Ấn Ðộ . Dĩ nhiên, Ấn Ðộ trở thành trung tâm cung cấp dịch vụ điện toán cho toàn cầu. Theo dự tính cho đến năm 2008, Ấn Ðộ có khả năng cung cấp 4 triệu công nhân loại nầy cho thế giới. Và chính mức tăng trưởng của Ấn Ðộ đã góp phần lớn vào dịch vụ điện toán trên.

Trước khi bắt đầu mở cửa năm 1990, Ấn Ðộ vẫn còn đeo đuổi chính sách “tự quản” “tự túc”, nghĩa là cố gắng tạo đủ sản phẩm vật chất để xử dụng cho nội địa. Do chính sách phát triển khép kín trên đã làm chùng bước mọi ý muốn đầu tư của những nhà đầu tư ngoại quốc. Do đó công nghiệp sản xuất của Ấn Ðộ không thể nào phát triển và theo kịp đà tiến bộ chung trên thế giới.

Mặc dù Ấn Ðộ có nhiều lợi thế khi chuyển sinh viên và chuyên viên ra ngoại quốc vì họ thông thạo Anh ngữ, nhưng Ấn Ðộ chỉ đẩy mạnh vai trò dịch vụ và tin học mà không phát triển các công kỹ nghệ sản xuất các mặt hàng gia dụng. Trong lúc đó nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong cán cân sản xuất. Ðiều nầy tạo ra hai giai cấp bất bình đẳng trong xã hội: Ấn Ðộ có 7% dân số có trình độ Tiến sĩ và 42% dân số không biết chữ.

Nhưng từ khi có chính sách đổi mới, mọi sự bắt đầu thay đổi, luật đầu tư giản dị hơn, chính sách thuế quan có phần dễ dãi và giảm bớt phiền toái cho thương nhân ngoại quốc... và đó là hai điều kiện đầu tiên để thu hút đầu tư. Và cũng từ đo,Ô nạn chợ đen và tham nhũng cũng giảm dần theo mức độ du nhập của ngoại quốc vào chính quôc gia nầy. Và cũng từ mốc thời gian trên, các công ty đa quốc gia ồ ạt chiếm lĩnh thị trường và hôm nay, thủ phủ Karnataka ở phía Nam Ấn Ðộ trở thành một thung lũng silicon mới của Á Châu.

Ðồng thời với đầu tư ngoại quốc, Ấn Ðộ đã đẩy mạnh cuộc cách mạng xanh trong kỹ nghệ sản xuất, với mục đích làm giảm thiểu việc ô nhiễm môi trường, và sau nữa dần dần đẩy lui nạn đói nghèo qua chính sách mở cửa tiếp cận với hầu hết các quốc gia trên thế giới để áp dụng việc đẩy mạnh công nghệ tiên tiến cho nhu cầu trong nước. Ðây là một chính sách thật sự mềm dẽo, và là một bài học cho những quốc gia còn mang nhiều định kiến về ý thức hệ chính trị trong giao thương kinh tế và phát triển.

Kết quả, sau 15 năm đổi mới Ấn Ðộ có mức dự trử ngoại tệ nặng cho năm 2003 là 100 tỷ Mỹ kim. Tuy nhiên với mức lợi tức đầu người cho năm 2004 là 520 đôla Mỹ và mãi lực tính theo đầu người là 2.900 đôla Mỹ/năm, 35% dân số Ấn Ðộ vẫn phải chịu sống dưới mức đói nghèo tuyệt đối theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc là 1 đôla Mỹ/ngày/người. Do đó, Ấn Ðộ cần phải đẩy mạnh hơn nữa về kỹ nghệ sản xuất và dịch vụ để thu hút lực lượng lao động cho nông nghiệp hiện đang chiếm tỷ lệ 60% trên cả nước.

Nhìn chung, trong thời gian đầu khi mở cửa, Ấn Ðộ chú trọng vào việc tập trung đào tạo chất xám “cao cấp” mà không chú trọng nhiều việc phát triển công nghệ sản xuất và dịch vụ ở hạ tầng cơ sở cho nên sự phát triển không cân đối và đạt được chỉ tiêu như ý muốn so với nội lực thực sự của Ấn Ðộ . Và phát triển bắt đầu tăng nhanh khi Ấn Ðộ đã chuyển hướng và đẩy mạnh dịch vụ cùng đầu tư ngoại quốc.

Những bước phát triển của Trung Quốc

Như đã nói ở phần trên, đi từ một khởi điểm vào năm 1980 cùng với Ấn Ðộ, Trung Quốc đã đi đôi hia “bảy dặm” bằng cách mở cửa giao tiếp với thế giới bên ngoài từ năm 1979 dưới thời Ðặng Tiểu Bình với một phương châm bất hủ là :” Dù mèo trắng hay mèo đen cũng chẳng sao, chỉ cần biết bắt chuột là được”. Trong tinh thần thực dụng trên, Trung Quốc đã thành công và đưa đất nước ra khỏi tụt hậu chỉ trong một thời gian không dài.

Ngay cả trong khi mở cửa, Trung Quốc đã vận dụng được thị trường nội địa (1,3 tỷ) để đẩy mạnh kỹ nghệ sản xuất hàng tiêu dùng, điều mà Ấn Ðộ đã bõ quên trong một thời gian dài. Chính nhờ kỹ nghệ nầy mà Trung Quốc đã chuyển dịch được một số lớn lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ từ 70% (1970) xuống còn 50% (2001). Cho đến hôm nay, mức đói nghèo của Trung Quốc đã giảm xuống còn 16%, và mức dự trử ngoại tệ nặng của Trung Quốc trong năm 2004 là 414 tỷ Mỹ kim.

Một yếu tố quan trọng trong vấn đề phát triển của Trung Quốc cần phải nêu ra ở đây là lực lượng lao động. Với chính sách hạn chế sinh sản hiện tại, Trung Quốc trong tương lai sẽ đối mặt với cơn khủng hoảng lao động và lao động già nua. Có lẽ vì nhận thức được điều trên cho nên quốc hội Trung Quốc vào tháng 10/04 đã có đề nghị tái xét lại chính sách một con cho mỗi cặp vợ chồng ở Trung Quốc .

Nhìn chung, Trung Quốc đã biết tận dụng lực lượng tiêu dùng qua thị trường nội địa để từ đó đẩy mạnh công nghệ sản xuất song hành cùng với dịch vụ. Từ sự chuyển dịch lao động nầy, Trung Quốc đã giảm dần tỷ lệ lao động trong khu vực nông nghiệp; đề rồi tăng trưởng kinh tế đã thể hiện những bước nhảy vọt, và dĩ nhiên, phúc lợi cũng như lợi tức của ngưới dân được cải thiện đồng biến với sự tăng trưởng kinh tế.

Hiện nay, mãi lực tính theo đầu người của Trung Quốc là 5.000 đôla Mỹ/năm gấp đôi so với mãi lực của Việt Nam , nghĩa là một người dân trung bình ở Trung Quốc có khả năng mua sắm gấp đôi người Việt Nam . Và trị giá mãi lực do lao động cũng gần gấp đôi trị giá mãi lực của đối tác Việt Nam . Ðiều nầy có nghĩa là hiệu quả kinh tế để tạo ra vật chất của một lao động Việt Nam vẫn còn quá thấp.

Những bước phát triển của Việt Nam

Dân số Việt-Nam gia tăng quá nhanh

Mặc dù chính sách mở cửa và tiếp cận bên ngoài ở Việt Nam bắt đầu trước Ấn Ðộ 5 năm, nhưng tiến độ phát triển ở Việt Nam vẫn còn quá chậm so với quốc gia nầy. Mặc dù Ấn Ðộ đã áp dụng một số chính sách chưa hoàn chỉnh và còn một số nhược điểm trong cán cân lao động, bảng thống kê trên vẫn cho thấy mức tăng trưởng của cả Ấn Ðộ và Trung Quốc tăng nhanh hơn Việt Nam trong cùng một thời gian, dù cho cả Trung Quốc và Ấn Ðộ phải cưu mang một số lượng nhân khẩu cao gấp 15 lần hơn.

Trình độ khoa học kỹ thuật yếu kém

Nếu lấy mức lợi tức đầu người và mức tăng trưởng của năm 2004 làm chuẩn, thì trong năm 2003, mỗi người dân Việt Nam được “giàu thêm” 32 đôla Mỹ, trong lúc đó người dân Ấn Ðộ và Trung Quốc được hưởng thêm lần lượt là 43 đôla Mỹ và 82 đôla Mỹ. Từ các con số trên chúng ta có thể hình dung được mức cách biệt ngày càng cách xa, nếu Việt Nam không có một chính sách đẩy mạnh phát triển kinh tế đúng đắn.

Việt Nam vẫn còn 22 triệu người ( theo thống kê của 2004 Việt Nam ), chiếm 26,8% tổng số dân, vẫn còn sống dưới mức nghèo đói tuyệt đối, mà tuyệt đại đa số là nông dân ( chiếm 63% dân số toàn quốc ). Thực sự con số trên có thể còn cao hơn nữa, nếu chúng ta chịu làm một cuộc khảo sát sâu rộng ở vùng ÐBSCL, nhiều nơi, người dân chưa hề nhìn thấy được tờ giấy bạc 50.000 đồng, chứ đừng nói đến giấy bạc 100.000 đồng hay 500.000 đồng!

Qua các phân tích ở phần trên, việc truy tìm một hướng phát triển đúng đắn cho Việt Nam trong tương lai thiết nghĩ không phải là một việc khó khăn. Từ những con số thống kê, chúng ta đã thấy những sự phân bổ lao động trong các lãnh vực phát triển không cân đối. Từ đó, bài toán đầu tiên cho phát triển là cần phải giảm tỷ lệ nông dân và tăng tỷ lệ lao động cho kỹ nghệ và dịch vụ. Tuy chưa có số thống kê riêng rẽ cho kỹ nghê và dịch vụ, nhưng quan sát các sinh hoạt thương mãi ở các thành phố lớn, chúng ta có thể hình dung được lao động trong các dịch vụ đơn giản vẫn chiếm đa số. Và dịch vụ nầy không thể so sánh được với khu vực dịch vụ mà Colin Clark đã định nghĩa.

Việc chuyển dịch số lao động trong nông nghiệp sang kỹ nghệ sản xuất sẽ làm tăng mãi lực tạo ra của cải vật chất, từ đó lợi tức đầu người sẽ tăng theo, và theo phản ứng dây chuyền, kinh tế sẽ chuyển dịch nhanh hơn.

Việt Nam có nhiều thuận lợi hơn Ấn Ðộ và Trung Quốc để làm công cuộc chuyển dịch nầy. Ðó là kỹ nghệ dầu hỏa. Hiện tại cán cân xuất nhập dầu thô để đổi lấy xăng, dầu và hóa chất vẫn còn âm tính. Chính quyền Việt Nam hiện tại còn phải tiêu tốn một khối lượng lớn ngoại tệ nặng cho dịch vụ nầy, chưa kể đến mức “bảo trợ” giá bán xăng dầu trong nước để tránh việc tăng giá các mặt hàng tiêu dùng và điều sau nầy có nguy cơ tạo ra khủng hoãng xã hội. Việc làm sau nầy đã khiến cho ngân sách nhà nước càng thêm thâm thủng. Và việc phải đến đã đến, là trong những tháng gần đây, chính phủ phải điều chỉnh giá xăng dầu ba lần, một chỉ dấu cho thấy tình trạng lạm phát sẽ xảy ra trong năm 2005 là điều khó tránh khỏi.

Phương tiện giao thông vận tải lạc hậu ở Việt-Nam

Ngoài ra, nếu thử duyệt xét các đầu tư ngoại quốc vào Việt Nam trong vòng 10 năm trở lại, chúng ta chỉ thấy hầu hết các đầu tư nầy đều có tính cách dịch vụ và phục vụ, không đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội Việt Nam hiện tại.

Xin đan cử một vài thí dụ, với lợi tức đầu người trung bình là 650 Mỹ kim/năm, làm thế nào một người dân Việt có thể mua được một chiếc xe hơi trị giá 4, 5 chục ngàn Mỹ kim? Trong lúc đó, hiện có trên 10 hảng xe ngoại quốc đầu tư để “lắp ráp” xe hơi tại Việt Nam. Thị trường Việt Nam chỉ có khả năng hấp thụ hàng năm khoảng 60.000 xe mà thôi. Do đó, kỹ nghệ ráp xe nầy không đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động ở Việt Nam tương xứng với vốn đầu tư cho kỹ nghệ trên. Một câu hỏi được đặt ra nơi đây là, có công ty ngoại quốc nào chú ý đến mở một nhà máy sản xuất bánh xe, tận dụng nguồn nguyên liệu cao su sẳn có của Việt Nam, thay vì phải xuất cảng cao su thô và nhập cảng bánh xe từ bên ngoài .

Bước qua kỹ nghệ hóa chất và phân bón cùng các loại thuốc bảo vệ thực vật, có nhiều công ty 100% vốn ngoại quốc, và công ty hợp doanh với doanh thương người Việt, nhưng thật sự đây không phải là những nhà máy sản xuất đúng nghĩa mà chỉ nhập cảng nguyên liệu chính từ ngoại quốc, rồi pha trộn theo tỷ lệ, cho thêm vào các chất phụ gia (chất đệm) rồi tung “thành phẩm” ra thị trường nội địa. Nếu thực hiện công đoạn sản xuất các kỹ nghệ trên với nguyên liệu đến từ các phụ phẩm từ một nhà máy lọc dầu ở nội địa,Việt Nam có thể thu hút hàng triệu công nhân lao động và có thể dự trử thêm nhiều ngoại tệ nặng dùng cho việc nhập cảng các nguyên liệu hóa chất để chế biến trên.

Chuyển dịch lao động nông thôn thành công nhân kỹ nghệ còn là một việc làm thích hợp với chiều hướng toàn cầu hóa và cải thiện được đời sống kinh tế của nông dân. Thêm nữa, việc làm nầy sẽ hạn chế được tình trạng ô nhiễm mội trường trong không khí và trong nguồn nước, cũng như hạn chế được việc tận dụng nguồn nước ngầm, đặc biệt ở vùng ÐBSCL. Việc đẩy mạnh nông nghiệp và chăn nuôi ở vùng nầy trong 10 năm vừa qua đã làm nguồn nước ngầm ở nhiều nơi đã bị cạn kiệt, như ở Trà Vinh, Sóc Trăng, nhiêù nơi mực nước ngầm xuống thấp từ 2 đến 2,5m do việc đào trên 50.000 giếng ở hai tỉnh nầy. Việc làm nầy đã làm tăng nguy cơ sụp lỡ đất cũng như việc nước biển lấn sâu vào nội địa trong mùa khô.

Từ một vài thí dụ điển hình trên đây, về nông nghiệp và chăn nuôi, chúng ta đã thấy phát triển Việt Nam đang ở trong một tình trạng thiếu tổ chức, không đặt ưu tiên nào trước sau được vì không có chính sách phát triển dài hạn cho đất nước. Từ khi mở cửa, Việt Nam chỉ đặt trọng tâm vào việc làm thế nào để thu hút ngoại tệ nặng để cứu vản kinh tế . Do đó, Việt Nam tận dụng bất cứ ưu tiên nào có khả năng đem ngoại tệ vào trước mắt. Ðể rồi từ đó, qua một thời gian, có những phản ứng phản hồi gây một số bất lợi về kinh tế và có nguy cơ tạo ra khủng hoãng xã hội qua kinh nghiệm tận dụng việc nuôi cá basa và tôm xuất khẩu. Nông dân đã phá ruộng, phá rừng để chăn nuôi hai sản phẩm vừa kể trên vì mức thu nhập rất hấp dẫn, gấp 10 lần việc trồng lúa. Nhưng chỉ vài năm sau, sau những vụ thất mùa vì ô nhiễm môi trường và thị trường bị ối động... người dân có muốn trở về tình trạng trồng lúa ban đầu thì đã muộn.

Việt Nam đã tận dụng nông nghiệp để có ngoại tệ nặng qua việc xuất cảng trên 10 năm nay như lúa gạo, cao su, cà phê, tiêu, trà, hột điều, tôm, cá.v.v... mà không “nhìn” thấy những ưu tiên khác trong tiến trình phát triển dựa theo thuyết tam khu; do đó, một số ưu tiên khác để phát triển qua các ngành “cao cấp” hơn đều bị ”bỏ quên”. Ðiều nầy thể hiện một não trạng đã đóng băng trong tiến trình phát triển ở thế kỷ 21 nầy.

Bước qua ưu tiên hai của thuyết tam khu là tiến trình sản xuất do kỹ nghệ, Việt Nam đã thể hiện qúa nhiều cố gắng để kêu gọi đầu tư ngoại quốc, đối lại đối tác trong nước chỉ là các công ty quốc doanh, không có nguồn vốn, chỉ đem mặt bằng ( đất của quốc gia ) ra thế chấp thay nguồn vốn ban đầu. Từ đó, sự khai thác, sản xuất phần lớn đều lệ thuộc vào tư bản ngoại quốc. Và hậu quả tất nhiên là ngoại quốc khống chế thị trường tiêu thụ hoàn toàn sau khi sản xuất. Ðây là một điểm bất lợi lớn trong phát triển. Việt Nam đã mở mà không chịu mở thật sự (vì luôn luôn mang niềm lo sợ bị khuynh đảo(!))để cho tư nhân nội địa có cơ hội mang nguồn vốn vào làm đối tác ngang hàng với ngoại quốc.

Nếu tình trạng phát triển ở giai đoạn nầy tiếp tục, thì về lâu về dài chúng ta sẽ thấy rõ những gì sẽ xảy ra: nguồn tài nguyên của đất nước sẽ bị cạn kiệt vì bị khai thác quá độ mà Ðất và Nước không hưởng được do các thành quả của việc khai thác trên.

Khai thác quá độ nguồn tài nguyên thiên nhiên

Qua các phân tích trên đây, một giải pháp giản dị trước mắt để tháo gở các khó khăn kinh tế và chuyển dịch lao động trong nông nghiệp được đề nghị là công nghệ hóa dầu trong điều kiện hiện có của Việt Nam. Ðây sẽ là một giải pháp tối ưu hiện tại để từ đó Việt Nam có thể bước những bước vững chắc hướng về tương lai. Ðó là việc xây dựng nhà máy lọc dầu và chế biến các sản phẩm hóa chất qua những phụ chất từ công cuộc hóa dầu nầy. Ðể rồi từ đó, Việt Nam có thể tự túc qua kỹ nghệ phân bón, thuốc trừ sâu rầy, trừ nấm mốc và một số hóa chất căn bản trong kỹ nghệ.

Nhìn lại kinh nghiệm và hai bài học về phát triển kinh tế của Trung Quốc và Ấn Ðộ, chúng ta nhận thấy, phát triển Việt Nam đúng hướng không phải là một việc không thể thực hiện được.

Việt Nam cần có tầm nhìn toàn cầu, ứng hợp với chiều hướng phát triển chung của thế giới, chấp nhận luật chơi chung và quan trọng hơn là phát triển cần phải có một kế hoạch dài hạn có tầm vóc quốc gia, chứ không phải cung cách “làm ăn” theo địa phương hoặc từng khu vực giống như hình thức trăm hoa đua nở như hiện nay. Có được như vậy, Việt Nam mới mong có cơ may cất bước đi tới được.