NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Việt Nam cần xác định đúng chỗ đứng hiện nay - GS David Dapice

Xác định đúng chỗ đứng là thông điệp chủ đạo được các chuyên gia chuyển tới tại hội thảo "Tác động của kinh tế thế giới tới kinh tế Việt Nam - Lựa chọn đối sách và mô hình phát triển" đang diễn ra tại Hà Nội. Theo các chuyên gia, bức tranh thực của các tập đoàn kinh tế và ngân hàng thương mại cần được chỉ rõ.

Điều quan trọng là biết lắng nghe

Cuộc hội thảo do Bộ Ngoại giao Việt Nam và nhóm nghiên cứu Harvard phối hợp tổ chức tại Hà Nội trong 3 ngày ( 2/7/2008 - 4/7/2008 ).

GS David Dapice "Điều quan trọng là biết lắng nghe, dù cho ý kiến đó có khó nghe tới đâu. Thành công của 20 năm Đổi mới mà Việt Nam đạt được chính là nhờ Chính phủ đã có nhiều chính sách đúng, kể cả giai đoạn khủng hoảng kinh tế châu Á", Giáo sư David Dapice, đồng tác giả của hai báo cáo về kinh tế Việt Nam nói.

Theo Ts. Lê Đăng Doanh, điều Việt Nam cần lắng nghe từ phía các chuyên gia trong thời điểm kinh tế khó khăn hiện nay là "Việt Nam phải xác định chính xác chỗ đứng của mình".

"Hình như có sự đánh giá quá cao thành tựu về kinh tế, tăng trưởng, xóa đói, giảm nghèo thời gian qua của Việt Nam", ông Lê Đăng Doanh cho biết.

Đơn cử, nhìn vào tốc độ giảm nghèo và tốc độ giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ em có độ vênh khá lớn. Trong đó, tỉ lệ tử vong giảm chủ yếu ở thành thị và những người giàu, còn giảm ở người nghèo không đáng kể, vẫn còn ở mức cao.

Hay thành tích xóa đói giảm nghèo của Việt Nam trong thống kê không bao gồm những người KT1, những người cư trú không ở nơi đăng kí hộ khẩu, do đó có thể chưa chính xác.

Thực chất bức tranh tập đoàn kinh tế Việt Nam ra sao ?

Đề cập những vấn đề cơ bản thời sự của nền kinh tế Việt Nam : quá trình phát triển, mô hình phát triển, vấn đề xóa đói giảm nghèo, vấn đề về giáo dục hay những vấn đề dài hơi hơn như năng lượng, nhưng điều các đại biểu quan ngại nhất, theo ông Doanh, là "thực chất tập đoàn Việt Nam như thế nào ? Bức tranh toàn cảnh đích thực của tập đoàn, ta có nắm được không và nếu nắm được thì tình hình như thế nào ?"

Tại hội thảo, không nêu trực tiếp tình hình của Việt Nam nhưng câu chuyện tập đoàn nhà nước của Hàn Quốc đã được Giáo sư David Dapice nêu ra như một bài học kinh nghiệm đau xót.

Tại Hàn Quốc, các chaebol vay thương mại bên ngoài trong khi ngân hàng trung ương và Bộ tài chính Hàn Quốc cũng không biết. Khủng hoảng nổ ra mới bộc lộ cục nợ lớn hơn 50 tỷ USD của các chaebol này.

"Ngay một nước lớn, phát triển như Hàn Quốc còn gặp phải tình trạng tập đoàn nhà nước vay nợ 50 tỷ USD mà ngân hàng trung ương và Bộ Tài chính đều không nắm được mới thấy mức độ nguy hiểm của việc thiếu giám sát", ông Doanh bình luận.

Quay lại thực tế Việt Nam, các chuyên gia lưu ý gia tăng sự giám sát, quản lý hoạt động tài chính, ngân hàng, nhất là của các tập đoàn, Doanh Nghiệp Nhà Nước.

Báo cáo kiểm toán vừa được công bố ngày 1/7 cho thấy, thực tế hoạt động của các tập đoàn vẫn chưa được giám sát đầy đủ, chưa có báo cáo về hiệu quả kinh doanh, mức độ đầu tư đa ngành, mức vay nợ và khả năng trả nợ...

"Đến thời điểm này chúng ta vẫn chưa biết con số, thì rất có thể, câu chuyện của các chaebol Hàn Quốc sẽ lặp lại ở Việt Nam", ông Doanh quan ngại. Do đó, "cần nắm rõ, chính xác tình hình, tránh hiện tượng một Hàn Quốc thứ hai".

Song song với việc tăng cường giám sát tập đoàn, các đại biểu cũng lưu ý việc đẩy mạnh giám sát hoạt động của các ngân hàng. Trong tình hình tính mất ổn định của hệ thống tài chính tiền tệ đang bộc lộ ra, vấn đề này cần được chú ý.

Ông Doanh cho biết, Việt Nam đã phát triển quá nhanh hệ thống ngân hàng cổ phần, với số lượng ngân hàng tăng nhanh (hiện có khoảng 80 ngân hàng).

"Ngân hàng bùng nổ như vậy nhưng Việt Nam lại không đảm bảo cơ quan giám sát để đảm bảo hoạt động một cách hiệu quả", ông Doanh nói.

Phương Loan

GDP tăng trưởng 2 chữ số, tại sao không ?

Tăng trưởng kinh tế đang là một tâm điểm tranh luận tại các phiên thảo luận Kỳ họp QH lần thứ 10. Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam dự kiến từ 8,3% - 8,5% trong năm 2007 được Chính phủ đệ trình trong phiên khai mạc Quốc Hội sáng có thể nói là một mục tiêu cao. Tuy nhiên, đây có phải là một chỉ tiêu không thể vượt qua và chúng ta có thể tránh tụt hậu với một tốc độ như thế ?

Để trở thành những con rồng châu Á, trong hai thập niên 60 và 70 của thế kỷ trước, các nền kinh tế như Hàn Quốc, Đài Loan, đã liên tục duy trì tốc độ trên 10%/năm. Cá biệt, có năm Đài Loan tăng trưởng tới 18%/năm. Ngay một nước lớn như Trung Quốc vẫn có thể duy trì tốc độ tăng trưởng 10%/năm liên tục trong 20 năm qua. Cá biệt, một số tỉnh vùng duyên hải của nước này như Quảng Đông, Phúc Kiến ( quy mô tương đương Việt Nam ), Thượng Hải, tốc độ tăng trưởng trong nhiều năm liền đạt hơn 15%.

Nếu giảm thấp lãng phí

Chuyện lãng phí tưởng như chỉ có ở Mỹ, Nhật Bản hay Châu Âu, là những xứ sở lắm của nhiều tiền, còn Việt Nam vốn là một nước nghèo rớt mùng tơi, tại sao lại có chuyện như thế? Thêm nữa vốn nổi tiếng căn cơ, tiết kiệm, chuyện lãng phí mới nghe tưởng như là luận điệu của các thế lực thù địch nói xấu Việt Nam nhưng ngẫm lại, suy xét đủ “tang chứng vật chứng” thì Việt Nam là một trong những nước lãng phí cao nhất thế giới. TS Lê Đăng Doanh cho rằng, nếu là tiền của mình, không mấy ai móc ra khỏi túi mà không tính toán. Còn tiền của Nhà nước lại là một việc khác. Khi cơ chế sở hữu chưa được xác lập rõ ràng, lại thêm cơ chế giám sát lỏng lẻo, có cơ hội tiêu thì cứ việc, miễn là đủ hóa đơn chứng từ.

Một sự lãng phí khác là cơ hội. Khi cơ hội đến, nếu không nhạy bén sẽ để nó trôi tuột đi. Nếu ở các nước có nền kinh tế thị trường, giám đốc sẽ bị phạt, thậm chí cách chức chỉ vì anh bỏ lỡ cơ hội, còn ở Việt Nam, việc bỏ lỡ cơ hội chưa phải là một tội danh.

Sự lãng phí khiến chỉ số Icoor ( khả năng sinh lợi của đồng vốn ) của Việt Nam hiện đạt từ 5- 6, trong khi đó ở các nước khu vực là 3. Lý giải hiện tượng này, TS Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng viện nghiên cứu thương mại cho rằng, do khu vực quốc doanh vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn, hầu hết trong các khoản đầu tư xây dựng mới cùng quy mô, chúng ta cao hơn các nước khu vực, thông thường là từ 10 - 20%. Chuyện thất thoát trong đầu tư, đặc biệt là ở các DN nhà nước là một vấn đề đã được nêu lên từ nhiều năm nhưng chưa có hướng giải quyết. Ông Nam cũng cho biết thêm, tăng trưởng của Việt Nam trong những năm qua, phần nhiều dựa vào việc xuất khẩu nguyên liệu ( dầu thô, than đá...) tỷ lệ các sản phẩm có giá trị gia tăng cao chưa nhiều, đặc biệt là các sản phẩm công nghệ cao hầu như không đáng kể.

Là một nước nghèo, nhưng sự lãng phí nguồn lực, lãng phí vốn, lãng phí tài nguyên tại Việt Nam đều ở mức cao. Trước hết về nguồn nhân lực, với 75% dân số sống ở nông thôn, Việt Nam có hơn 30 triệu lao động trong nông nghiệp. Ngoài khu vực Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long, nhìn chung lực lượng lao động này làm việc theo thời vụ. 70% trong số này lao động dưới 2 tháng trong một năm. Nguồn nhân lực chưa được đào tạo, hệ thống dịch vụ kém phát triển khiến việc thất nghiệp theo thời vụ ở tỷ lệ cao.

Lãng phí nguồn nhân lực còn thể hiện trong việc sử dụng tài năng. Với việc quan chức đã được thị trường hóa, trở thành đối tượng mua bán khiến những người có thực tài khó có đất dụng võ, đơn giản là những người thực tài, họ không quen việc mua bán chức tước. Trong phiên thảo luận hôm qua, nguyên thủ tướng Phan Văn Khải đã nói: “không ít người nhậm chức chỉ lo kiếm tiền”. Quyền lực được trao cho những người kém tài năng và chỉ lo kiếm tiền khiến bộ máy ít hiệu quả

Về vốn, là một nguồn lực quan trọng cho phát triển nhưng Việt Nam là một trong số những nước có tỷ lệ lãng phí cao nhất. GS David Dapice của Đại học Harvard nhận định, mỗi năm, Việt Nam lãng phí khoảng 1 tỉ USD. Theo ông David Dapice, sự lãng phí này đôi lúc chỉ là do sự cát cứ địa phương. Lãnh đạo tỉnh nào cũng muốn có những công trình đầu tư ở địa phương mình, nên cố tình chèo kéo các nguồn vốn đầu tư mà không tính đến hiệu quả tối ưu cho dự án. Việc xây dựng hàng loạt các nhà máy đường rồi “đắp chiếu” chỉ vì thiếu nguyên liệu là một ví dụ của sự lãng phí. Tình trạng xây dựng cảng biển, nhà máy cán thép, sân bay cũng vậy. Một số lượng vốn không nhỏ đã đổ vào những dự án này nhưng không có khả năng sinh lợi.

Lãng phí tài nguyên cũng là một lỗ hổng khiến tốc độ tăng trưởng chậm lại. Trước hết về đất đai, là một tài nguyên cực kỳ quan trọng nhưng đang bị hoang phí. Ngay như Hà Nội, TP.HCM, tấc đất được coi là tấc vàng nhưng hiện vẫn còn hàng triệu “mét vuông vàng” bị bỏ hoang. Khi tài sản không có chủ sở hữu sẽ không có khả năng sinh lợi. Đó cũng chính là lý do để đất công bị lãng phí quá nhiều.

Không chỉ dầu mỏ, than đá, hầu hết các loại nông sản của Việt Nam đều xuất thô. Với 3,5 triệu tấn gạo xuất mỗi năm, nhưng giá gạo của Việt Nam chưa bao giờ được bán bằng giá gạo Thái Lan. Các mặt hàng khác như cà phê, hạt tiêu, cao su... đều chủ yếu chỉ sơ chế rồi xuất với giá trị gia tăng không lớn, trong khi lao động nông nghiệp nhàn rỗi không có việc làm.

Thảo luận ở các tổ, một số Đại biểu đã tính toán rằng: Chỉ riêng việc chúng ta chống triệt để lãng phí, thất thoát, tham nhũng trong đầu tư xây dựng cơ bản thì không cần phấn đấu, tự thân GDP nền kinh tế sẽ tăng trưởng thêm vài %, thậm chí cao hơn. Và nếu chúng ta chú trọng về chất lượng tăng trưởng, tức là chú ý tới giá trị tăng thêm của nền kinh tế thì GDP cũng sẽ tự nhiên tăng thêm.

Cơ hội nhìn từ WTO

Một cơ hội lớn đề Việt Nam có thể tăng tốc phát triển kinh tế là sự gia nhập WTO vào cuối năm nay. Đây được coi là một “chứng chỉ” về sự đảm bảo môi trường kinh doanh của Việt Nam, sự chấp nhận luật chơi của cộng đồng quốc tế. Nếu WTO được coi là cái mốc sau cùng của lộ trình hội nhập thì Hiệp định thương mại Việt- Mỹ là cái mốc quan trọng của lộ trình đó. Sau một năm thực hiện BTA, xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ đã tăng 128%. Trong khi cùng thời điểm, XK của Việt Nam ra các thị trường thế giới khác chỉ đạt mức tăng trung bình 10%. Đồng thời Xuất Khẩu của hàng hoá Mỹ vào thị trường Việt Nam cũng tăng 26% trong cùng thời điểm này. Mặt khác, đầu tư của Mỹ vào Việt Nam cũng đã có những dấu hiệu tăng lên vừa phải kể từ khi thực hiện BTA.

Việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ khiến một số nhà đầu tư còn do dự sẽ nhanh chóng quyết định vào thị trường Việt Nam. TS Võ Đại Lược nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ cho rằng, có thị trường, sẽ có nhà đầu tư. Khi chúng ta có thị trường, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ vào Việt Nam, dùng Việt Nam làm “bàn đạp” để xuất khẩu ra thế giới, đó mới là điều mà chúng ta kỳ vọng. Một số ngành công nghiệp chỉ cần 6 đến 7 tháng là có thể sản xuất ngay, nếu thể chế hành chính và kinh tế của chúng ta có thể cấp phép nhanh, giải phóng mặt bằng nhanh, thì các xí nghiệp từ vốn đầu tư nước ngoài sẽ “mọc” lên tương ứng.

Trung Quốc sau khi vào WTO đã tạo ra một làn sóng đổ vốn vào nước này, mà bất cứ một quốc gia đang phát triển nào cũng thèm muốn.

Tuy nhiên, WTO không phải là phép mầu nếu chúng ta không chuẩn bị tốt khả năng cạnh tranh, không tích cực cải thiện môi trường đầu tư. Khi từng bước dỡ bỏ mọi rào cản thương mại, cơ hội tăng trưởng xuất khẩu là rất lớn. Lĩnh vực này cũng sẽ tạo ra sức đột phá cho tăng trưởng GDP, bởi với mức xấp xỉ 40 tỉ USD như hiện nay, xuất khẩu đang chiếm tỉ trọng tới 60% GDP.

Theo tính toán của GS David Dapice, thu nhập từ dầu thô sau thuế của Việt Nam vào năm 2006 dự đoán là 5 tỉ USD. Các khoản kiều hối có nhiều ước tính khác nhau nhưng cũng vào khoảng 5 tỉ USD nữa. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam theo số liệu của Chính phủ là khoảng 4-5 tỉ USD. Còn viện trợ phát triển ODA sau khi trừ các khoản phải trả ở mức 2-3 tỉ USD. Tổng sản phẩm quốc nội GDP của VN năm 2006 đạt khoảng 60 tỉ USD, như vậy các luồng vốn nước ngoài bằng khoảng 25% GDP năm nay. Ngoài ra mỗi năm Chính phủ VN cũng đầu tư vào mức 30% GDP. Nếu đầu tư một cách tiết kiệm và có hiệu quả, tỉ lệ tăng trưởng GDP của Việt Nam phải ở mức thực là 10% chứ không phải là trên 8% như hiện nay.

Hải Lan