NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Vốn vẫn sẽ là câu hỏi lớn nhất của kinh tế Việt Nam - Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành , Kiều bào Mỹ

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành cho rằng thị trường tài chính Việt Nam trong năm 2010 vẫn có thể mang lại cho nhà đầu tư rất nhiều cơ hội, dù trước mắt vẫn ẩn chứa không ít khó khăn.

Người làm nông nghiệp có câu “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Soi vào một nền kinh tế, vào doanh nghiệp thì vốn chẳng khác nào nguồn nước để làm nông. Đây cũng là câu hỏi lớn nhất đối với thị trường tài chính năm nay.

Làm kinh doanh bây giờ, người ta thường chỉ có 20-30% là vốn tự có, phần còn lại là đi vay. Điều này đủ cho thấy doanh nghiệp đã khó khăn thế nào khi ngân hàng thiếu thanh khoản vào cuối năm 2009. Qua năm nay, khó khăn chưa chắc đã ít hơn.

Việc dừng gói bù lãi suất 4% đúng thời hạn, vào ngày 31/12/2009 vừa qua cũng khiến doanh nghiệp phải làm quen với một mặt bằng lãi suất mới. Không ít trường hợp đang làm việc với lãi suất 6,5% đã sốc khi phải chịu mức lãi 12%. Chi phí vốn đầu vào tăng gấp đôi như vậy, quả là một thử thách.

Trong bối cảnh đó, một số ý kiến lại cho rằng cần tiếp tục nâng lãi suất cơ bản để ngăn chặn lạm phát có thể trở lại trong năm 2010. Quan điểm này chưa hẳn đã đúng.

Thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng như trong năm 2009, đương nhiên sẽ mang đến một số hệ quả không mong muốn. Lạm phát là điều người ta có thể thấy trước chứ không phải một tai nạn. Nhưng thấy trước điều đó là để đưa ra biện pháp khắc phục chứ không phải “đạp phanh”, khiến bánh xe kinh tế dừng lại. Nền kinh tế là một thực thể sống, phải nhấn mạnh yếu tố phát triển ổn định bền vững. Doanh nghiệp cần vốn để tồn tại và phát triển ổn định. Nếu cắt nước, đồng sẽ cháy, ruộng sẽ khô.

Việc chấm dứt gói hỗ trợ lãi suất 4% có thể coi là một quyết định hợp lý. Việt Nam không cần và không thể tiếp tục dùng tiền ngân sách để bù lãi suất cho doanh nghiệp, nhưng nhất thiết phải có biện pháp thay thế để giảm sốc. Chẳng hạn, có thể ưu tiên cho một số lĩnh vực tín dụng nhất định, tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại…

Đảm bảo sức khỏe của nền kinh tế là nhiệm vụ của chính sách tài khóa, của Ngân hàng Nhà nước. Giống như một bác sĩ thể thao, Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm, hàng ngày, hàng giờ, phối hợp với hệ thống ngân hàng thương mại đo đếm xem nền kinh tế cần bao nhiêu vốn, giống như đo áp suất máu của vận động viên. Phải làm sao cho khi vận động viên đủ sức thi đấu, huyết áp không quả cao để bị “vỡ tim”, cũng không quá thấp để anh ta kiệt sức. Để làm được điều này, Ngân hàng Nhà nước cần phát huy hơn vai trò một ngân hàng trung ương, có tính độc lập tương đối trong một số quyết định.

Đối với những lĩnh vực cụ thể của hoạt động tài chính, tôi cho rằng năm 2010 là một năm tương đối phức tạp.

Nhiều chuyên gia cho rằng sự phục hồi của thị trường chứng khoán trong năm 2009 có động lực khá lớn từ nguồn vốn hỗ trợ lãi suất ngắn hạn. Dòng vốn này giải ngân lớn nhất vào quý II. Nếu tính theo kỳ hạn 8 tháng thì thời gian đáo hạn sẽ là quý I năm nay. Đến thời điểm đó, lực bán trên thị trường sẽ rất lớn, có thể ảnh hưởng tiêu cực đến Vn-Index.

Thị trường có thể được hỗ trợ nếu các doanh nghiệp niêm yết làm ăn tốt và có báo cáo tài chính sáng sủa trong quý I. Nhưng như đã phân tích ở trên, khó khăn tín dụng vẫn sẽ là lực cản lớn đối với các hoạt động kinh tế.

Trong khi đó, thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay vẫn chưa tuân theo quy luật chung của thế giới, tâm lý bầy đàn vẫn còn chi phối khá nhiều quyết định của nhà đầu tư. Muốn thay đổi điều này, ngoài việc minh bạch hóa thông tin, hoàn thiện khung pháp lý, nhất thiết phải đưa thị trường về đúng với giá trị thật của nó.

Với thị trường bất động sản, tôi cho rằng đã đến lúc cả cơ quan quản lý lẫn người kinh doanh phải quan tâm đến bộ phận khách hàng nhu cầu nhà ở thật sự. Phân khúc nhà ở có giá 10-11 triệu đồng một m2 hiện có nhu cầu rất lớn nhưng lại chưa được quan tâm. Nhà đầu tư hiện vẫn mải mê chạy theo những khu căn hộ cao cấp, vốn đang chịu sức ép rất lớn bởi tình hình kinh tế khó khăn. Tôi nghĩ những nhà đầu tư thông minh, không tham lam lắm sẽ có cơ hội trong năm nay.

Về phía cơ quan quản lý, việc tạo ra cơ sở khuyến khích như tạo quỹ đất, cấp tín dụng mua nhà là rất cần thiết. Chính sách này, nhiều nước đã áp dụng và đạt kết quả cao. Cần nhớ rằng Nhà nước có thể tham gia kinh doanh, nhưng không phải để sinh lời, mà để kích thích lĩnh vực đó phát triển.

Với thị trường vàng, trước mắt, việc cấm kinh doanh vàng tài khoản là đúng, bởi ta chưa có khung pháp lý đầy đủ cho quy định này, dẫn tới một số sàn vàng làm bê bối, gần như là lừa gạt của nhà đầu tư. Tuy nhiên, đây là một hoạt động kinh doanh hoàn toàn bình thường trên thế giới, việc cho vay để kinh doanh vàng tài khoản cũng là rất bình thường. Do đó cơ quan quản lý cần nghiên cứu để xây dựng khung pháp lý đầy đủ, chỉ cho phép những đơn vị đủ điều kiện tham gia lĩnh vực này.

Nhìn tổng thể, dễ thấy rằng, trước mắt, thị trường tài chính Việt Nam trong năm 2010 có thể gặp không ít khó khăn. Tuy nhiên, những khó khăn này không phải là không thể vượt qua nếu Chính phủ có thể nhanh chóng giải quyết những vấn đề nội tại của nền kinh tế cũng như những vấn đề phát sinh do khủng hoảng.

So với đa số các nước trên thế giới, Việt Nam vẫn nằm trong số những quốc gia ổn định trong và sau “cơn bão” vừa qua. Nếu bước những bước thận trọng, cân nhắc kỹ hậu quả trước mắt và lâu dài, tôi tin hệ thống tài chính vẫn sẽ là động lực mạnh mẽ, thúc đẩy kinh tế đất nước đi lên.

Nhật Minh

Tôi giữ cách nhìn thận trọng về phục hồi kinh tế

Chuyên gia kinh tế cao cấp Bùi Kiến Thành cho rằng cần thêm dữ liệu để nhận định về sức khỏe nền kinh tế, và không nên sớm lạc quan khi thấy những biểu hiện nhất thời trên thị trường chứng khoán hay lỗ lãi của ngân hàng.

Một số ý kiến gần đây cho rằng nền kinh tế đã xuất hiện tín hiệu hồi phục. Theo ông, dấu hiệu của hồi phục kinh tế sẽ thể hiện trước hết ở đâu ?

Người ta nhìn vào các chỉ báo chính để biết rằng sức khỏe của nền kinh tế đang ở mức nào. Một trong số đó là chỉ số niềm tin kinh doanh (BCI), trong quý I/2009 chỉ số này tại Việt Nam tăng 6 điểm so với quý cuối năm 2008, cho thấy đa số nhà quản lý doanh nghiệp vẫn tin vào gia tăng doanh thu và lợi nhuận trong vòng 12 tháng tới. Tiêu dùng nói chung giảm, nhưng tiêu dùng cá thể trong nước vẫn tăng khá.

Tuy vậy, các chỉ số kinh tế vĩ mô khác chưa thực sự lạc quan. Xuất khẩu trong tháng 3 tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước, nhưng nhìn vào chi tiết thì thấy là không tăng, mà vẫn đang giảm. Các sản phẩm chiến lược của Việt Nam như dệt may, gỗ, giày dép giảm mạnh, hoặc không tăng. Riêng xuất khẩu đá quý và kim loại có giá trị xuất khẩu bằng gần 5.000% cùng kỳ năm trước. Đúng là Việt Nam xuất siêu, nhưng tái xuất vàng thì không phải là một hoạt động kinh tế đơn thuần. Nhập khẩu giảm xuống, nhưng đáng chú ý là hàng xuất khẩu của Việt Nam có 70-80% nguyên liệu ngoại nhập. Xuất khẩu giảm nên nhập khẩu cũng giảm theo.

Tôi cho rằng cần thận trọng khi nhận định kinh tế đã ra khỏi khủng hoảng hay chưa, và phải nhìn vào các chỉ số, đặc biệt là dữ liệu về sản xuất của các doanh nghiệp.

Ông nghĩ sao về khả năng hồi phục của kinh tế Mỹ và Trung Quốc sẽ có tác động lan tỏa tới Việt Nam, nhất là khi Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam ?

Chủ tịch FED Ben Bernanke có nói rằng kinh tế Mỹ có khả năng khởi sắc vào cuối năm 2009, nhưng vế thứ hai của nhận định này là "nếu có thể giải quyết tình trạng đóng băng của hệ thống tài chính Mỹ và thế giới".

Khủng hoảng tại Mỹ bắt nguồn từ việc trái phiếu phái sinh được đảm bảo bởi các hợp đồng cho vay bất động sản (mortgage-backed securities) bị mất thanh khoản và trở nên "nhiễm độc", như cách nói của cựu Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson. Tổng giá trị hợp đồng cho vay bất động sản tại Mỹ lên đến 12.000 tỷ USD. Để bảo hiểm nguy cơ xảy ra nợ xấu, các nhà đầu tư các sản phẩm phái sinh này mua hợp đồng Bảo đảm nợ xấu (Credit Default Swap - CDS). Đến cuối tháng 6/2008, tổng giá trị hợp đồng CDS bên Mỹ là 35.000 tỷ USD, trong khi GDP Mỹ là 14.700 tỷ. Thị trường CDS đem lại lợi nhuận khổng lồ nhưng đã khiến thị trường tín dụng sụp đổ khi các hợp đồng vay biến thành nợ xấu. Đến tháng 10/2008, các định chế tài chính hàng đầu thế giới lâm vào tình trạng phá sản, mọi lĩnh vực kinh tế đều không tiếp cận được vốn vay. Đến nay các chính phủ đã bơm tiền để khuyến khích ngân hàng cho vay, song thị trường vẫn đóng băng.

Chính phủ Mỹ dự định mua lại các khoản nợ xấu bằng gói tài chính 700 tỷ USD, nhưng nay họ không làm nữa. Giá trị các trái phiếu này tại thị trường Mỹ trước đây được xác định khoảng 4.000-5.000 tỷ USD, đến nay Mỹ chưa có giải pháp nào. Khoảng 2.000 tỷ USD trái phiếu do Chính phủ Mỹ phát hành cũng sẽ khó bán, nên FED sẽ phải mua vào, thực chất là in thêm tiền. Việc này lại tạo thêm những hệ lụy. Nhìn chung, các chỉ báo kinh tế tại Mỹ, châu Âu và Nhật vẫn đang đi xuống.

Trung Quốc có lợi thế ở thị trường nội địa rộng lớn và lệ thuộc ít hơn vào thị trường nước ngoài. Họ đang chuyển hướng về nông thôn, và nếu chừng đó nông dân của Trung Quốc ăn nên làm ra, thì sẽ rất thuận lợi cho nền kinh tế của họ. Song ta cần quan sát thêm cách làm của Trung Quốc.

Nhưng thị trường tài chính Mỹ đã có dấu hiệu tích cực, một số ngân hàng như Citigroup và Wells Fargo báo cáo lãi trong 3 tháng đầu năm nay ?

Việc những ngân hàng Mỹ báo lãi chỉ là câu chuyện kế toán thôi. Citi nhận 45 tỷ USD hỗ trợ của Chính phủ Mỹ và được bảo đảm cho hơn 300 tỷ USD nợ khó đòi. Năm 2008 họ ghi sổ lỗ trên 20 tỷ USD. Các tài sản nhiễm độc được "khóa sổ" và không tính lại theo giá trị thị trường. Sang quý mới, họ báo lãi, là lãi trong riêng thời điểm này, do được Chính phủ bơm vốn và chưa tính tới số lỗ ghi trong sổ.

Ông nói gì về con số trên 220.000 tỷ đồng vốn bù lãi suất 4% mà các ngân hàng trong nước báo cáo đã giải ngân trong vòng 2 tháng qua ?

Con số 220.000 tỷ đồng vốn cho vay đã giải ngân sẽ tương đương 17-18% dư nợ của hệ thống ngân hàng. Nhưng số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy tổng dư nợ chỉ tăng thêm hơn 2%. Tôi cho rằng, vấn đề tiền giải ngân đi đâu và đảo nợ cần được quan tâm.

Đặt giả thiết có chuyện đảo nợ, trong trường hợp đó, ngân hàng vẫn được bù 4% lãi suất, mà lại "làm sạch" được nợ khó đòi trong báo cáo tài chính. Còn doanh nghiệp vay vốn và báo cáo là đưa vào vốn lưu động 8 tháng. Mà việc sử dụng vốn lưu động có đúng mục đích hay không thì kiểm soát không dễ.

Với các nền kinh tế, lãi suất tái cấp vốn và chiết khấu là những công cụ quan trọng để điều hành lãi suất cho vay trên thị trường. Khi ngân hàng trung ương các nước cung ứng vốn cho ngân hàng thương mại với lãi suất 1-2%, ngân hàng thương mại có thể cho vay với lãi suất 4-5% mỗi năm, mà không cần tới tiền hỗ trợ từ ngân sách để bù lãi suất.

Nếu đảo nợ có thật, mọi chuyện sẽ càng nguy hiểm hơn nếu những đồng vốn đó được chuyển hóa thành đôla để trả nợ cho các hợp đồng nhập khẩu trước đây. Theo chương trình của Chính phủ, doanh nghiệp chỉ được hỗ trợ lãi suất khi vay vốn bằng tiền đồng, cho sản xuất kinh doanh và đầu tư mới. Thị trường ngoại hối gần đây nóng lên, trong bối cảnh nhu cầu nhập khẩu không lớn, cũng là câu hỏi cần có lời giải đáp.

Diễn biến thị trường chứng khoán sôi nổi trong những ngày gần đây được cho vừa là tín hiệu của hồi phục kinh tế, vừa là kỳ vọng của giới đầu tư về khả năng này. Ông nghĩ sao về dòng tiền đang chảy vào thị trường chứng khoán ?

Tôi cho rằng cần kiểm tra dòng tiền này. Chưa thể loại trừ khả năng nguồn vốn từ các ngân hàng đã chuyển sang chứng khoán. Chỉ khoảng 5% nguồn vốn này chảy sang chứng khoán, cũng đã là đủ để "tung hoành".

Thực tế, dù có những phiên tăng điểm, nhưng không có cơ sở kinh tế vĩ mô cho chiều hướng đứng vững và không quay đầu trở xuống. Ngoài ra chứng khoán Mỹ vẫn trong xu thế đi xuống. Chứng khoán trên thị trường Mỹ đã mất 40-50% giá trị, và khi các ngân hàng báo cáo lãi thì mới có những ngày đi lên. Quan trọng là xem căn bản thị trường có những chỉ báo gì.

Ngọc Châu - Song Linh

Kích cầu giống như mồi nước cho máy bơm

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành cho rằng điều quan trọng nhất trong trong giai đoạn hậu khủng hoảng là làm gì để giúp doanh nghiệp tránh bị phá sản, và trách nhiệm này không thuộc về ngân sách Nhà nước hay các gói kích cầu.

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm của Tổng cục Thống kê cho thấy GDP của Việt Nam tăng dần đều, tính chung 3 quý đạt 4,6%?. Theo ông, đâu là động lực chính ?

Việc các chỉ số kinh tế trong nước tiếp tục tăng trưởng khá trong bối cảnh thị trường quốc tế khó khăn chủ yếu do tác động của gói kích cầu của Chính phủ. Việc hỗ trợ lãi suất 4% cũng như chính sách giảm, giãn thuế đối với doanh nghiệp ít nhiều đã có tác dụng kích thích nhu cầu tiêu dùng nội địa. GDP tăng chủ yếu do lực kéo này.

Mục đích chính của gói kích cầu là kích thích sức sản xuất - tiêu dùng. Tiêu dùng đã tăng, còn sản xuất thì sao, theo ông ?

Đây chính là vấn đề liên quan đến thực lực nền kinh tế cũng như tính bền vững của tăng trưởng. Theo báo cáo của Chính phủ, tốc độ tăng trưởng thương mại (bán lẻ hàng hóa và dịch vụ) trong 9 táng đầu năm tăng 18,6%. Trong khi đó, giá trị sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chỉ lần lượt tăng 2,6% và 6,5%. Như vậy, sản xuất trong nước có thực sự được lợi hay không? Tôi nghĩ mỗi người đều tự có câu trả lời.

Hãy nhìn vào các sản phẩm được coi là quan trọng và có mức tăng cao lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Điều hòa nhiệt độ tăng 48,2%, tủ lạnh tủ đá tăng 30,9%... Ngoài yếu tố mùa vụ (mùa hè), cần đặt câu hỏi giá trị sản xuất trong nước chiếm bao nhiêu phần trăm trong thành phẩm trong khi phần lớn nguyên liệu, thiết bị đều được nhập khẩu? Khai thác dầu thô tăng 17,6% hầu như không liên quan đến việc có kích cầu hay không còn thép tròn tăng 18,8%, xi măng tăng 18,3% là do hưởng lợi trực tiếp từ ngành xây dựng, vốn tăng trưởng mạnh do vốn kích cầu.

Nhưng nhiều ý kiến cho rằng tín hiệu tích cực đã xuất hiện ở lĩnh vực xây dựng, với tốc độ tăng trưởng 9,7% và là lực đẩy quan trọng đối với công nghiệp nói chung ?

Xây dựng tăng trưởng tốt, với một nền kinh tế, đương nhiên là điều đáng phấn khởi. Tuy nhiên, thay vì đầu tư vào nhà ở giá thành từ 9 đến 10 triệu đồng mỗi m2, sản phẩm từ các dự án nhận được ưu đãi từ vốn kích cầu hiện nay lại có giá thành hàng chục triệu đồng một mét. Các công trình này là thương phẩm chứ chưa phục vụ nhiều cho nhu cầu thực của xã hội. Điều này tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ.

Hà Nội hiện có những mảnh đất trị giá tới 300 triệu đồng một m2. Đất mặt tiền một số tuyến phố lớn tại TP HCM còn có thể lên tới 100.000 USD mỗi m2. Sau mỗi lần mua bán trao tay, giá lại đội lên. Vấn đề là người mua, người thuê đất sẽ chịu được tới mức nào?

Trong khi đó, thị trường có dấu hiệu bão hòa. Giá thuê văn phòng hạng A từ 60 USD xuống còn 30,40 USD. Tỷ lệ phòng khách sạn được sử dụng cũng từ 80% xuống còn 40-50%. Doanh nghiệp xây dựng vay tiền ngân hàng, thực hiện nhiều dự án nhưng không bán được do giá cao hoặc bão hòa nhu cầu có thể dẫn tới hiện tượng bong bóng nhà đất tương tự như tại Nhật Bản vào những năm 1991-1992. Hệ lụy của những cuộc khủng hoảng như vậy sẽ hết sức tồi tệ và lâu dài đối với nền kinh tế. Nên nhớ rằng chỉ số Nikkei của chứng khoán Nhật trước cuộc khủng hoảng năm đó ở mức 40.000 điểm. Vậy mà sau 18, 19 năm phục hồi hiện chỉ ở mức 10.000 điểm mà thôi.

Nhắc tới chứng khoán, ông có bình luận gì về đà tăng trưởng đang được nhận định là rất tốt của thị trường chứng khoán Việt Nam trong 9 tháng qua?

Ai cũng nhận thấy là thị trường đang đi lên. Khối lượng giao dịch tăng đều chứng tỏ một lượng tiền lớn đã được đổ vào thị trường. Nhưng tiền đó ở đâu? Không phải nhà đầu tư nước ngoài vì họ vẫn đang bán ròng. Không phải nhà đầu tư cá nhân vì không đủ tiềm lực. Tôi cũng chưa thấy quỹ tài chính nào trong nước đủ lớn để liên tục rót vốn như vậy. Theo tôi, rất có thể một lượng vốn kích cầu đã được doanh nghiệp tuồn vào chứng khoán, vào đầu tư tài chính. Như vậy sẽ rất nguy hiểm khi nhiều doanh nghiệp cùng đến hạn trả nợ ngân hàng. Chuyện bán tháo rất có thể sẽ xảy ra.

Vậy ông nghĩ sao về việc kích cầu cũng như khả năng về một gói kích cầu thứ 2 đang được Chính phủ cân nhắc ?

Nếu gói kích cầu thứ hai vẫn là việc Nhà nước đứng ra tiếp tục bù lãi suất cho doanh nghiệp, ở mức 4% hoặc ít hơn, tôi nghĩ đây là điều không nên bởi bản thân gói thứ nhất đã ẩn chứa nhiều sai lầm trong phương thức thực hiện và quản lý vốn. Tiếp tục dùng ngân sách để trả tiền lãi suất cho doanh nghiệp là không phù hợp và phần nào phản ánh tư duy bao cấp. Nghĩa vụ của doanh nghiệp là phải nộp thuế cho Nhà nước chứ không thể mãi tiếp tục "vai trò ngược" như hiện nay. Hơn nữa kích cầu cũng giống việc "mồi nước" cho máy bơm hoạt động. Không thể cứ "mở nước đổ vào máy bơm" hết năm này qua năm khác.

Điều đáng nói ở đây là làm gì để giúp doanh nghiệp không bị phá sản, không phải chịu cú sốc về lãi suất. Nhưng đó không phải việc của gói kích cầu, của ngân sách, mà là của chính sách tiền tệ. Tư duy làm thế nào để doanh nghiệp có thể vay ở lãi suất phù hợp nhất, giả định là 6,5%, không chỉ có ở Việt Nam nhưng cách làm của thế giới khác chúng ta. Ở nhiều nước, ngân hàng trung ương đã cấp vốn cho các ngân hàng thương mại với lãi suất rất thấp. Ở Nhật là 0%, Mỹ là 0,25% hay tại châu Âu là 0,1%... Như vậy, ngân hàng thương mại có thể cho doanh nghiệp vay với lãi suất thấp.

Nếu ngân hàng trung ương không hoàn thành tốt nhiệm vụ cấp vốn cho ngân hàng thương mại, các ngân hàng này sẽ phải huy động vốn từ trong dân với lãi suất cao, hiện có nơi đã lên tới hơn 9%. Đương nhiên, khi các doanh nghiệp vay lại nguồn vốn này từ ngân hàng, lãi suất sẽ bị cộng thêm vài phần trăm. Đến ngày gói hỗ trợ lãi suất kết thúc, đang làm việc với mức lãi 6,5%, liệu có doanh nghiệp nào thích nghi nổi với con số 12, 13%. Không ai có thể làm việc với một chiếc "máy chém" rớt xuống đúng ngày như vây.

Vai trò của ngân hàng trung ương là điều tiết lưu lượng tiền tệ trong nền kinh tế nên cấp phương tiện tín dụng với bất kỳ lãi suất nào để ngân hàng thương mại cho doanh nghiệp vay là điều hoàn toàn có thể thực hiện được. Ngân hàng trung ương cũng có quyền phát hành tiền tệ và không phải đi huy động vốn hay trả lãi suất như ngân hàng thương mại, có thể đưa vào nền kinh tế lượng tiền như thế nào miễn sao không gây lạm phát. Điều này lại rất dễ xảy ra nếu tiếp tục thực hiện một gói kích cầu trị giá 20.000 tỷ.

Vậy theo ông, nếu không tiếp tục sử dụng gói kích cầu, giải pháp nào được coi là hợp lý trong hoàn cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay ?

Theo tôi, điều quan trọng nhất là chính sách tiền tệ. Chúng ta đang nói chuyện tiền tệ, chuyện lãi suất, chuyện chi phí đầu vào của doanh nghiệp qua lãi suất. Điều cần làm là thực hiện một chính sách tiền tệ ổn định, bền vững, nơi mà doanh nghiệp được vay vốn với lãi suất an toàn cho doanh nghiệp, không gây ra lạm phát. Ngân hàng trung ương nên theo dõi lưu lượng tiền tệ hàng ngày trong nền kinh tế để biết đâu là lượng tiền vừa đủ cần cung ứng cho doanh nghiệp: Không nhiều quá để doanh nghiệp đầu tư không đúng mục đích hay gây áp lực lạm phát. Không ít quá để khiến nền kinh tế phải "khát nước", để gây ra vấn đề thiểu phát.

Nói chung lại, tôi nghĩ các nhà quản lý nên nghiên cứu một chính sách tiền tệ phù hợp để nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững trong đó ngân hàng trung ương giữ vai trò chủ đạo.

Nhật Minh

Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành (sinh năm 1932) hiện là nhà tư vấn chiến lược kinh tế cho Chính phủ. Ông từng là cố vấn cao cấp của nhiều tập đoàn đa quốc gia như AIG, KHM… Là một trong 19 cá nhân nhận giải thưởng "Vinh danh nước Việt" lần đầu tiên năm 2004. Ông Thành hiện là CEO của một Quỹ đầu tư vốn nước ngoài tại Việt Nam.