NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Tình hình và xu hướng hiện đại hóa vũ khí của một số nước châu Á

PHẦN MỘT : CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HOÁ VŨ KHÍ TRANG BỊ CÁC NƯỚC CHÂU Á

I. Tác động của bối cảnh thế giới

Quá trình hiện đại hoá vũ khí trang bị (HĐHVKTB) của các nước châu Á diễn ra trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến đổi to lớn, phức tạp, có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của các dân tộc và vận mệnh của toàn nhân loại.

1. Sau chiến tranh lạnh, an ninh quốc tế có những thay đổi cơ bản

Với sự sụp đổ của Liên xô và một loạt nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, khối hiệp ước VACSAVA tan rã, thế đối đầu hai cực về tư tưởng và quân sự đã chấm dứt, nguy cơ chiến tranh hạt nhân không còn nữa, tạo ra thời cơ xây dựng một nền hoà bình ổn định trên phạm vi toàn cầu.

Cục diện thế giới phát triển rất phức tạp theo hướng đa cực trong sự cạnh tranh quyết liệt giữa các cường quốc. Mỹ là siêu cường duy nhất còn lại sau chiến tranh lạnh nhưng không còn đủ sức chi phối thế giới trên mọi lĩnh vực. Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc nổi lên giành ảnh hưởng trên thế giới và khu vực.

Tuy nguy cơ chiến tranh hạt nhân và chiến tranh lớn giữa các cường quốc đã giảm hẳn, nhưng sau chiến tranh lạnh thế giới chứa đựng nhiều bất ngờ và không chắc chắn. Nguy cơ nổ ra xung đột và chiến tranh cục bộ ở các khu vực do mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo, mất cân bằng trong phát triển kinh tế hoặc tranh chấp lãnh thổ ngày càng tăng. Ngoài ra, những vấn đề mang tính toàn cầu như nạn khủng bố và tội ác có tổ chức, ô nhiễm môi trường, ma tuý, gia tăng dân số quá nhanh đang trở thành mối quan tâm lớn chung cho mọi quốc gia.

Do tính chất các nguy cơ trước mắt và tiềm tàng đã thay đổi nên các nước đều thay đổi, điều chỉnh chiến lược quân sự phù hợp với điều kiện và tình hình mới. Xu thế chung là xây dựng quân đội tinh gọn, có cơ cấu tổ chức hợp lý, trang bị vũ khí kỹ thuật hiện đại, có khả năng cơ động và thích ứng cao, sẵn sàng đối phó với khủng hoảng và xung đột khu vực hoặc chiến tranh cục bộ kỹ thuật cao.

2. Tác động của cuộc cách mạng Khoa học - Công nghệ

Cuộc cách mạng Khoa học Công nghệ ( CMKHCN ) mới bắt đầu từ giữa thập kỷ 70 đã và đang làm cho Khoa học - Công nghệ trở thành sức sản xuất trực tiếp, tri thức trở thành nguồn lực trung tâm phát triển xã hội.

Trên cơ sở thành tựu cách mạng Khoa học Công nghệ mới, cuộc cách mạng kỹ thuật quân sự lần thứ ba đang diễn ra sôi động, trong đó công nghệ thông tin, công nghệ dẫn, công nghệ mô phỏng là ba công nghệ then chốt và có tác dụng mang tính cách mạng, làm xuất hiện những vũ khí trang bị kỹ thuật mới. Theo xu thế cách mạng tin học trong quân sự - hợp nhất kỹ thuật theo chiều ngang - vũ khí trang bị được liên kết theo cơ cấu tổ chức mạng để phát huy cao nhất sức mạnh hoả lực và hiệu quả chỉ huy.

Cũng vì vậy mà hiện đại hoá vũ khí trang bị trên thế giới chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực có chiều hướng chịu tác động mạnh nhất trong chiến tranh tương lai và trước mắt là chiến tranh cục bộ kỹ thật cao. Đó là : Chỉ huy chiến đấu,tiến công có chiều sâu, bước vào chiến đấu sớm và yểm trợ chiến đấu.

3. Nền kinh tế thế giới phát triển theo xu thế toàn cầu hoá

Do sự xuất hiện các lực lượng sản xuất mới buộc các nước phải hội nhập, thích nghi để không rơi vào tình trạng khủng hoảng, lạc hậu. Xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế dựa trên cơ sở thừa nhận tính hợp lý và tính hiệu quả của kinh tế thị trường. Do công nghệ quân sự ngày nay có tính lưỡng dụng nên cũng phát triển theo xu thế này. Công nghiệp quốc phòng của bất kỳ quốc gia nào, muốn phát triển cũng cần liên kết, hợp tác. Sau chiến tranh lạnh các dòng di chuyển vốn, đầu tư, chuyển giao công nghệ diễn ra dễ dàng với qui mô, nhịp độ chưa từng có. Sự hợp tác giữa các quốc gia được tăng cường hơn bao giờ hết dưới những hình thức đa dạng.

II. Tác động của bối cảnh khu vực châu Á

1. Địa vị của khu vực châu Á - Thái Bình Dương ngày càng nổi bật trong kinh tế, chính trị thế giới

Sau chiến tranh lạnh, tình hình khu vực châu Á- Thái Bình Dương tương đối ổn định. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình 6%/năm, vượt xa các khu vực khác trên thế giới như Bắc Mỹ, Tây Âu, châu Á - Thái Bình Dương đã trở thành khu vực kinh tế năng động nhất thế giới, hàng năm sản xuất khoảng 13 nghìn tỷ USD ( 50% GDP thế giới ).

Xu thế chủ yếu của châu Á - Thái Bình Dương hiện nay là hoà bình và phát triển ổn định. Tuy nhiên, do tính đa dạng về chế độ chính trị, văn hoá, tôn giáo cùng với sự phát triển không đều của các quốc gia trong khu vực và còn tồn tại nhiều vấn đề do lịch sử và chiến tranh để lại, nên châu Á - Thái Bình Dương là khu vực chứa đựng nhiều mâu thuẫn phức tạp, dễ dàng trở thành xung đột vũ trang và chiến tranh cục bộ khu vực.

2. Châu Á - Thái Bình Dương là nơi tranh giành thế lực của các nước lớn

Do tương lai của nền kinh tế Mỹ gắn liền với châu Á nên Mỹ coi châu Á - Thái Bình Dương là " chìa khoá của sự phồn vinh kinh tế Mỹ". Từ thập kỷ 80 Mỹ đã thực hiện khẩu hiệu "quay trở lại châu Á". Những năm gần đây, Mỹ tăng cường ảnh hưởng đối với châu Á - Thái Bình Dương, tiếp tục duy trì sự có mặt về quân sự với số quân khoảng 100.000 người bố trí chủ yếu ở Nhật, Hàn Quốc và trên các chiến hạm ở Tây Thái Bình Dương. Một mặt duy trì mối quan hệ chiến lược song phương với các đồng minh Nhật, Hàn Quốc, Ô- xtrây-li-a, Phi-líp-pin, Đài Loan và ủng hộ diễn đàn khu vực, Mỹ vẫn kiềm chế Nhật Bản, Trung Quốc nổi lên thách thức vị trí lãnh đạo trong khu vực. Nhật Bản đang mở rộng ảnh hưởng từ lĩnh vực kinh tế sang lĩnh vực chính trị, quân sự; còn Trung Quốc sau thắng lợi lớn trong cải cách kinh tế, không thoả mãn với địa vị trước đây, đang tăng cường mở rộng ảnh hưởng về kinh tế, chính trị, quân sự ở khu vực, đặc biệt là tham vọng chiếm phần lớn Biển Đông.

3. Tác động của khoảng cách lạc hậu công nghệ tối ưu

Khái niệm "khoảng cách lạc hậu công nghệ tối ưu" là một sự sửa đổi khái niệm "khoảng cách công nghệ" do giả thuyết " những lợi thế của sự lạc hậu" của Gersehenkron (1962) nêu ra. Theo giả thuyết khoảng cách công nghệ, sự chênh lệch tương đối về trình độ phát triển giữa một nước kém phát triển và các nước tiên tiến hơn càng lớn, thì tốc độ đuổi kịp của các nước kém phát triển càng nhanh. Nói cách khác,tốc độ tiến bộ công nghệ trong một nước tương đối lạc hậu là một hàm số tăng dần theo sự chênh lệch giữa trình độ công nghệ của bản thân nó và của các nước tiên tiến hơn. Tuy vậy, nếu sự chênh lệch quá lớn, thì sự đuổi kịp có lẽ là không thể có vì sự khác nhau về khả năng công nghệ lớn đến mức nước lạc hậu không thể áp dụng hoặc tiếp thu được công nghệ tiên tiến. Vì lý do này, Chen (1985) đã nêu ra khái niệm "khoảng cách công nghệ tối ưu". Nếu khoảng cách này nằm trong phạm vi thích hợp nhất định, thì tốc độ đổi mới ở khu vực lạc hậu có xu hướng tăng nhanh, song tốc độ đó sẽ giảm xuống cùng với việc mở rộng hơn nữa khoảng cách này. Mức mà tại đó tốc độ đuổi kịp đạt tối đa là mức tối ưu.

Từ khoảng cách lạc hậu công nghệ tối ưu đó, các nước đi sau phải nhanh chóng tiếp thu công nghệ nước ngoài để trong thời gian ngắn rút khoảng cách và vượt lên.

Tiếp thu công nghệ nước ngoài thông thường bao gồm mua "phần cứng", mua "phần mềm" (có kèm hiệp định li-xen); mua bản quyền sở hữu công nghiệp ( thường kèm hợp tác liên doanh hai bên ). Bốn kiểu tiếp thu công nghệ nước ngoài được thể hiện qua các hình thức như :

a) Qua liên doanh: Trong đó hiệp định lixen giúp người mua công nghệ thu được các bí quyết (know- how), các luận chứng ( know- why ) và năng lực marketing.

b) Qua chìa khóa trao tay ( hợp đồng trọn gói ): bên mua thường nhận được công nghệ "phần cứng" ( nhờ lắp đặt thiết bị...) và cả "phần mềm" ( nhờ đào tạo hay qua tài liệu, hợp tác nghiên cứu - triển khai...) đến khâu hoàn tất cơ sở và bên tiếp thu nhận chìa khoá sản xuất thử.

c) Qua mua "bản quyền" sở hữu công nghiệp: Nhờ đã có luật định nên kênh này đang hoạt động mạnh mẽ (hiện nay các nước đang phát triển mua 84% bản quyền của các nước tư bản phương Tây), đây là kênh đòi hỏi người tiếp thu phải có trình độ công nghệ thật giỏi.

d) Qua cho thuê và hợp tác nghiên cứu - triển khai (RD) giữa các nước, kênh này đang hoạt động mạnh giữa các công ty xuyên quốc gia.

Ngoài ra, tiếp thu công nghệ nước ngoài còn qua hoạt động trái phép (kênh ngầm), là hình thức "phi thương mại" ( những hoạt động tình báo công nghệ ) đang làm cho các công ty xuyên quốc gia hàng năm mất 1/3 số lượng các bí quyết. Qua các hình thức tiếp thu công nghệ nước ngoài trên đây, một số nước châu Á - Thái Bình Dương đã gặt hái được những thành công nhất định.

4. Tác động của sự hợp tác trong khối ASEAN.

Đông Nam Á, mà nền tảng là ASEAN, là một khu vực phát triển năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, ổn định, ngày càng có vai trò trên trường quốc tế.

Mục tiêu của ASEAN là ổn định về chính trị và hùng mạnh về kinh tế. Để hai lĩnh vực này được đẩy mạnh, một yêu cầu tiên quyết là khu vực phải có hoà bình, điều đó đòi hỏi tất cả các nước thành viên của nó phải nỗ lực vì một ASEAN đủ mạnh về quân sự. Bởi vậy, lực lượng vũ trang các nước trong khu vực hiện đang trải qua một chương trình hiện đại hoá lớn. Tiến trình này đang diễn ra vào lúc nền kinh tế của các nước đang phát triển nhanh, tạo thuận lợi cho ngân sách quốc phòng.

Nhiều nước trong khu vực điều chỉnh chiến lược quân sự theo hướng chủ yếu sau:

- Chuyển từ an ninh đối nội sang đối ngoại.

- Vươn ra bảo vệ quyền lợi biển.

- Điều chỉnh cơ cấu quân đội: Ưu tiên phát triển Không quân, Hải quân. Riêng Lục quân: giảm mạnh về số lượng, nâng cao chất lượng, chú trọng xây dựng lực lượng phản ứng nhanh.

Xu hướng hợp tác công nghệ hiện nay trong ASEAN là xây dựng một tổ chức với những học thuyết chung có sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các nước, tiêu chuẩn hoá vũ khí và kỹ thuật quân sự, phối hợp liên kết xây dựng hệ thống sản xuất, bảo dưỡng kỹ thuật và sửa chữa vũ khí tại các xí nghiệp quốc gia và xí nghiệp khu vực nhằm giảm chi phí mua sắm vũ khí của nước ngoài.

Trong quá trình phát triển cơ sở sản xuất và sửa chữa vũ khí trong ASEAN gặp một số mâu thuẫn. Một mặt, họ muốn xây dựng một cơ sở thống nhất với qui mô vừa phải bằng nỗ lực chung, mặt khác lãnh đạo một số nước ASEAN có quan điểm khác nhau về ưu tiên sản xuất các vũ khí trang bị cụ thể. Họ cũng có những nhu cầu về kinh tế xuất phát từ việc lợi dụng sự hợp tác đó để làm lợi cho từng nước riêng rẽ. Tuy vậy, trong tương lai họ sẽ cùng xây dựng các trung tâm sản xuất và sửa chữa vũ khí và trang bị ở Xin-ga-po (pháo và súng bộ binh, tàu mặt nước hạng nhẹ, các thiết bị điện tử dùng trong chỉ huy và thông tin liên lạc), tại In-đô-nê-xi-a (máy bay vận tải quân sự và máy bay lên thẳng nhiều công dụng), tại Ma-lai-xi-a (các loại máy bay khác nhau) và tại Phi-lip-pin (sản xuất các loại vũ khí đạn dược).

Theo dự báo, trong những năm tới sự hợp tác quân sự trong các nước ASEAN sẽ phát triển ngoài khuôn khổ của các nước đó. Đồng thời có khả năng các nước thành viên này có chung quan điểm trong việc xác định các mục tiêu chung và hàng đầu trong lĩnh vực bảo đảm an ninh trong khu vực, vấn đề duy trì ổn định ở các khu vực trọng điểm ở Biển Đông, ngăn chặn các nước lớn ở châu á thâm nhập về mặt quân sự ở đây.

PHẦN HAI : TÌNH HÌNH VÀ XU HƯỚNG HIỆN ĐẠI HOÁ VŨ KHÍ TRANG BỊ MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á

I. Một vài nhận xét chung

Hiện đại hoá vũ khí trang bị là một quá trình thường xuyên, liên tục cùng với việc thành lập quân đội ở tất cả các nước, là động lực chủ yếu của cuộc chạy đua vũ trang và củng cố khả năng quốc phòng của các nước. Thực chất đó là cuộc chay đua chất lượng công nghệ, đã từng dẫn tới những thay đổi cơ bản về chiến lược, cơ cấu lực lượng, học thuyết, chiến thuật quân sự...

Thế kỷ 20 chứng kiến sự hiện đại hoá vũ khí trang bị vừa tuần tự, vừa có tính đột phá. Nhiều nước đã nhạy bén bắt kịp thời cơ, phát triển nhanh từ xuất phát điểm công nghệ rất thấp với trình độ của thế kỷ 15, trong vòng một vài thập kỷ đã tiến xa hàng thế kỷ.

Quá trình hiện đại hoá vũ khí trang bị diễn ra trong môi trường có hai thành phần:

- Các tổ chức quân sự.

- Các tổ chức khoa học quân sự - công nghệ gắn với quân sự.

Vì thế, môi trường đó có cả tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của một nước, một khu vực và trên qui mô quốc tế.

Việc đưa một phương tiện quân sự mới vào sử dụng có nghĩa là đã áp dụng một công nghệ mới, là một bộ phận hợp thành hệ thống quân sự lớn bao gồm nhân lực và kỹ thuật gắn bó với nhau theo một cơ cấu tổ chức, học thuyết, nghệ thuật quân sự. Trong nhiều trường hợp, có thể đua vào sử dụng một phương tiện mới mà không cần thay đổi hệ thống quân sự hiện có. Trong một số trường hợp, có thể nâng cao khả năng chiến đấu của hệ thống quân sự bằng cách đổi mới cơ cấu tổ chức mà không cần đổi mới phương tiện chiến đấu. Hiện đại hoá vũ khí trang bị có qui luật đặc thù riêng vì phương tiện kỹ thuật quân sự thường có vòng đời riêng, trong đó nó có thể được cải tiến, nâng cấp qua nhiều giai đoạn, dưới nhiều kiểu dáng khác nhau. Công nghệ mới có thể được đưa vào các bộ phận thiết bị độc lập (thí dụ lắp máy ngắm đêm cho xe tăng), cũng có thể áp dụng cho hệ thống vũ khí phức tạp (thí dụ hệ thống C4I). Đôi khi chúng tỏ ra lạc hậu, phải thay mới hoàn toàn. Còn hệ thống quân sự không dễ gì đổi mới vì phải bao gồm hàng loạt khâu: con người, thiết bị, cơ cấu tổ chức, học thuyết, chiến thuật.

Về qui luật hiện đại hoá vũ khí trang bị, có thể thấy sự hiện đại hoá căn bản các phương tiện quân sự thường do các động lực công nghệ quyết định, do các tổ chức khoa học - công nghệ chi phối, đôi khi không xuất phát từ thực tiễn quân sự. Khả năng này thường xảy ra ở những nước là chủ những phát minh công nghệ hoàn toàn mới. Nhưng sự đổi mới tuần tự theo kiểu cải tiến, nâng cấp lại thường do các nhu cầu quân sự quyết định và thường xảy ra ở những nước có nhu cầu hiện đại hoá nhưng hạn chế về tiềm lực khoa học kỹ thuật quân sự.

Quá trình hiện đại hoá vũ khí trang bị có nhiều khả năng thành công khi kết hợp chặt chẽ với quá trình đổi mới hệ thống quân sự, kết hợp hai yếu tố quân sự và khoa học- công nghệ thành môi trường thuận lợi cho quá trình đó.

Các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Tây Âu, Nga đang có kế hoạch, chương trình hiện đại hoá vũ khí trang bị hướng tới thế hệ công nghệ quân sự tương lai, trong đó công nghệ thông tin và vũ khí phi sát thương đóng vai trò then chốt.

Còn các nước đang phát triển, trong đó có các nước công nghiệp mới và các nước khác trong khu vực châu á, do tiềm lực kinh tế, khoa học và công nghệ có nhiều mặt hạn chế, thậm chí lạc hậu từ hàng thập kỷ đến hàng thế kỷ, họ chỉ hạn chế ở sự Hiện Đại Hóa nhằm xây dựng một lực lượng vũ trang xứng đáng với tầm vóc của mình trong thế kỷ 21. Tầm vóc đó có tính đến xu hướng châu Á - Thái Bình Dương trở thành khu vực phát triển kinh tế mạnh mẽ nhất, sôi động nhất trong thế kỷ này.

Trong bối cảnh đó, các nước khu vực châu Á đều nhận thức rõ rằng công nghiệp quốc phòng - một nội dung chủ yếu, là cơ sở nền tảng vững chắc cho hiện đại hoá vũ khí trang bị, có hàm lượng công nghệ tiên tiến, là một ngành công nghệ chiến lược có ý nghĩa lưỡng dụng vừa có thể đóng vai trò then chốt đối với quá trình thúc đẩy sự phát triển công nghệ quốc gia. Khả năng tự lực quốc phòng là mong muốn của nhiều nước trong khu vực này. Họ cho rằng tự nghiên cứu thiết kế và chế tạo là rất cần thiết cho các dự án tương lai nhằm tạo ra sản phẩm lưỡng dụng phục vụ nhu cầu bức thiết trong nước, trong khu vực và đáp ứng được một phần nhu cầu thị trường trên qui mô thế giới, góp phần giảm nhẹ gánh nặng quốc phòng thông qua sự đóng góp vào phát triển kinh tế nói chung.

Hiện nay khả năng chế tạo của các nước khu vực châu Á còn hạn chế, nhưng có tiềm năng phát triển lớn. Nhiều công ty công nghiệp quốc phòng đã có lực lượng lao động với trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Họ đặt mục tiêu phát triển tiềm năng đó hoà nhập với công nghệ của các công ty công nghiệp quốc phòng hàng đầu trên thế giới nhằm hợp tác bình đẳng, hai bên cùng có lợi. Trong xu thế chung quốc tế hoá nền kinh tế toàn cầu, sự hợp tác giữa các công ty, các hãng không chỉ diễn ra trong khu vực công nghệ dân dụng mà cả trong khu vực công nghệ quân dụng. Sự hợp tác đó được tiến hành dưới các hình thức khác nhau, trong đó có 4 lĩnh vực chủ yếu: sản xuất, chế tạo theo kiểu offset (sản xuất theo kiểu sao chép, bao gồm cả hợp đồng cùng chế tạo); lắp ráp theo cấu kiện nhập từ bên ngoài, đầu tư nước ngoài trực tiếp, và cùng nghiên cứu triển khai và chế tạo các hệ thống vũ khí trang bị. Cơ hội hợp tác là rất lớn, thách thức cũng không nhỏ, đòi hỏi các nước phải vượt qua những khác biệt về văn hoá, ngôn ngữ, tiêu chuẩn công nghệ.

Các nước Châu Âu từ lâu đã nhận thức được những lợi ích công nghệ, kinh tế và marketing trong hợp tác công nghệ quân sự. Họ đã đạt được nhiều thành công trong hợp tác chế tạo vũ khí trang bị. Ngày nay, các công ty châu Âu bắt đầu hướng về hợp tác với các nước châu Á. Theo dự báo, trong đầu thế kỷ 21, nhiều nước khu vực châu á sẽ có các công ty cạnh tranh chế tạo các sản phẩm công nghệ quân sự như vi mạch để chế tạo radar, các cấu kiện cho máy bay, đạn dược cho xe tăng, tàu tuần tiễu, tàu ngầm...

Hiện đại hoá vũ khí trang bị ở các nước trong khu vực có các đặc điểm sau đây:

- Do khả năng kinh tế có hạn, hiện đại hoá vũ khí trang bị thường có trọng điểm tuỳ thuộc vào chiến lược quân sự của từng nước.

- Củng cố quốc phòng là yêu cầu tất yếu, bức thiết.

- Tiềm năng và thực lực công nghệ còn hạn chế, nhưng có sức bật phát triển.

- Sự phát triển công nghệ vừa có tính chất cách mạng, vừa có tính chất tiến hoá tuần tự.

- Sự hợp tác và chuyển giao công nghệ dân dụng và quân dụng là tất yếu.

Quá trình hiện đại hoá vũ khí trang bị diễn ra theo các hướng nhập khẩu vũ khí trang bị của nước ngoài, xây dựng cơ sở sửa chữa và sản xuất phụ tùng thay thế trong nước, cải tiến nâng cấp vũ khí trang bị hiện có, mua lixen để sản xuất vũ khí trang bị cần thiết, tự thiết kế và chế tạo vũ khí trang bị cung cấp cho lực lượng vũ trang hoặc để xuất khẩu. ở đây cần xem xét hai hướng chủ yếu sau: Hiện đại hoá thông qua mua sắm và tự chế tạo trong nước tại các cơ sở công nghiệp quốc phòng nội địa.

II. Quan điểm và mục tiêu hiện đại hoá vũ khí trang bị kỹ thuật các nước Châu Á

Với tốc độ phát triển vũ bão của công nghệ, vai trò của vũ khí, đặc biệt là vũ khí thông thường kỹ thuật cao ngày càng có vị trí quan trọng.

Vũ khí thông thường kỹ thuật cao ngày nay đã đạt được các chỉ tiêu cao về tầm xa, độ chính xác và uy lực, mặt khác càng ngày càng ít phụ thuộc vào điều kiện địa hình, thời gian, thời tiết. Qua các cuộc chiến tranh cục bộ gần đây, xu thế đối kháng kỹ thuật cao ngày càng rõ. Phát triển vũ khí thông thường kỹ thuật cao là một nhân tố quyết định ưu thế về sức chiến đấu đòi hỏi một nỗ lực có tính hệ thống, trong đó tập trung vào một số khâu then chốt và bộ phận quan trọng có ý nghĩa quyết định, với chi phí hợp lý, đảm bảo tính kinh tế cao. Mọi quốc gia đều hy vọng lấy ngăn chặn chiến tranh thay vì tiến hành chiến tranh. Trong chiến lược phòng thủ, muốn ngăn chặn chiến tranh cần phải có một sức mạnh răn đe nhất định nào đó. Muốn vậy, cần phải tập trung để có được vài "át chủ bài", không nhất thiết phải tìm kiếm một sự cân bằng về sức mạnh thực lực quân sự với kẻ thù tiềm tàng mà có thể bằng con đường nghiên cứu, phát triển có trọng điểm một số vũ khí trang bị kỹ thuật mới và tiến hành cải tiến một số vũ khí kỹ thuật thông thường. Đó là một xu thế phát triển vũ khí trang bị kỹ thuật của thế giới nói chung và các nước châu Á nói riêng.

Đối với nhiều nước châu Á, mặc dù đã có mức tăng trưởng kinh tế cao và khá ổn định, song tổng thu nhập quốc dân vẫn ở mức thấp. Do vậy, hướng hiện đại hoá vũ khí trang bị là ưu tiên hiện đại hóa vũ khí hơn là mua đồng bộ các hệ vũ khí tiên tiến. Biện pháp hiện đại hóa vũ khí trang bị kỹ thuật ở đây là: mua các trang bị vũ khí ở mức trung bình, giá rẻ, tiến hành hiện đại hóa một số bộ phận chủ chốt nhằm nâng cao khả năng chiến đấu của chúng. Các bộ phận chủ chốt thông thường là các hệ thống, khí tài chỉ huy điều khiển, tên lửa, rađa tiên tiến của phương Tây. Phương châm của họ là mua thiết bị đều kèm theo hợp đồng chuyển giao công nghệ.

III. Các biện pháp hiện đại hoá vũ khí trang bị kỹ thuật

1- Hiện đại hoá vũ khí trang bị kỹ thuật trên cơ sở kết hợp kinh tế với quốc phòng và quốc phòng với kinh tế Mục tiêu của các nước đang phát triển nói chung và các nước châu á nói riêng là ổn định về chính trị và vững mạnh về kinh tế. Một yêu cầu tiên quyết là đất nước phải có hòa bình. Để có hoà bình, đất nước đó phải có lực lượng quân sự đủ mạnh. Từ yêu cầu đó, việc kết hợp quốc phòng với kinh tế và kinh tế với quốc phòng là một tất yếu khách quan.

a/ Về mặt kinh tế

Tổng sản phẩm hàng năm của một quốc gia là một giá trị có hạn. Chi phí quốc phòng lớn sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách. Việc thâm hụt này sẽ sinh ra căng thẳng và đe dọa lạm phát, đồng thời dẫn đến tình trạng tái đầu tư từ nguồn tiết kiệm trong nước giảm. Từ nguồn ngân sách hạn hẹp, muốn đồng thời vừa phát triển kinh tế, vừa củng cố phát triển tiềm lực quốc phòng, nhà nước phải tổ chức thực hiện tốt việc kết hợp kinh tế với quốc phòng và quốc phòng với kinh tế nhằm tăng khả năng sản xuất vũ khí trong nước bằng chính sách trợ giá, đặt giá trị sản phẩm này tương đương giá nhập khẩu ( Ấn Độ, Ác-hen-ti-na ); giảm thuế cho các công ty sản xuất hàng quốc phòng (Hàn Quốc); đầu tư và khuyến khích phát triển thiết bị lưỡng dụng.

b/ Về mặt công nghệ.

Xu hướng chuyển giao công nghệ từ khu vực dân sự sang khu vực quân sự trên phạm vi thế giới ngày một tăng. Quá trình này được nhận biết từ những năm 70 với tên gọi là "hiện tượng Nhật Bản". Trước đó, Nhật Bản và một số nước Tây Âu ( Đức, Pháp ) từ những thành đạt về kinh tế , đã nỗ lực áp dụng các công nghệ tiên tiến trong sản xuất hàng tiêu dùng và đưa vào sản xuất vũ khí trang bị kỹ thuật quân sự. Việc chuyển giao này đã làm giảm đáng kể sức nặng của chi phí đầu tư nghiên cứu phát triển công nghệ quân sự.

Tuy nhiên, hướng chuyển giao công nghệ từ khu vực quốc phòng sang khu vực dân sự thực sự rộ lên sau khi chiến tranh lạnh kết thúc.

Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, việc chuyển giao công nghệ giữa hai khu vực trên đang diễn ra theo cả hai chiều, thực sự là một công cụ hữu hiệu để giảm ngân sách quốc phòng, đồng thời giảm giá sản phẩm tiêu dùng xã hội. Quá trình này diễn ra dưới các hình thức :

- Chuyển mạnh từ quốc phòng sang kinh tế (các cường quốc quân sự: Mỹ, Nga, Anh , Pháp...).

- Chuyển mạnh từ kinh tế sang quốc phòng diễn ra ở các nước kinh tế phát triển ( Nhật, Hàn Quốc...).

- Kết hợp hài hòa giữa hai lĩnh vực đang diễn ra ở các nước thế giới thứ ba trong đó có các nước châu Á.

c/ Phát triển công nghệ lưỡng dụng

Phát triển công nghệ lưỡng dụng là một phương án tối ưu trong việc kết hợp kinh tế - quốc phòng và quốc phòng - kinh tế. Trong thời bình, công nghệ lưỡng dụng tập trung cho phát triển kinh tế dân sinh và một phần giành cho sản xuất thử nghiệm hiện đại hoá vũ khí trang bị kỹ thuật quân sự. Khi chiến tranh xảy ra, chúng sẽ là nguồn lực to lớn thuận lợi cho việc động viên sản xuất phục vụ chiến tranh. Dẫn đầu trong lĩnh vực này là Trung Quốc.

Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng được một mạng lưới mua thiết bị lưỡng dụng từ Mỹ vào năm 1989 (hiện nay Trung Quốc có gần 800 công ty trên đất Mỹ, chủ yếu là các công ty nhỏ) chuyên tìm mua các loại thiết bị và công cụ có liên quan đến công nghệ quốc phòng. Việc mua bán được đẩy mạnh sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, các công ty Mỹ đưa ra bán đấu giá hàng loạt trang bị tồn kho. Trung Quốc rất quan tâm đến các vụ bán đấu giá hoặc thanh lý kho của các công ty công nghiệp quốc phòng hàng đầu của Mỹ như: Lockheed Martin Corp, General Electric Corp, General Dynamic Corp ... Máy công cụ của các công ty này thuộc thế hệ những năm 1980, về "phần cứng" của thiết bị ít biến đổi và chúng đã từng được sử dụng để chế tạo thiết bị từng phần cho máy bay ném bom B-1 và máy bay chiến đấu F-14.

Các nước châu Á đang thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, do đó việc định hướng có trọng điểm một số công nghệ mũi nhọn theo hướng lưỡng dụng là vô cùng cần thiết. Ví dụ như Hàn Quốc vào năm 1993 đã vươn lên hàng đầu thế giới về công nghiệp đóng tàu dân dụng, đồng thời cũng dẫn đầu về đóng tàu chiến với những sản phẩm như: Tàu Frigat, tàu tuần tiễu, tàu quét mìn và các tàu chiến cao tốc theo đơn đặt hàng của Mỹ và các tàu ngầm theo đơn đặt hàng của Đức. Họ đã là đối tác quốc tế thực hiện chương trình KD-X sản xuất tàu khu trục...

2- Hiện đại hóa vũ khí trang bị kỹ thuật thông qua hợp tác quốc tế

Mối quan hệ giữa công nghệ mới và an ninh quốc gia luôn luôn là mối quan tâm của các nhà chiến lược quân sự, vì họ phải khai thác không những các thế hệ vũ khí đã đưa ra sử dụng mà cả những hệ vũ khí mới trong tương lai. Ngày nay đã và đang xuất hiện hàng loạt công nghệ mới cần cho nhu cầu quân sự, nhưng ngay cả Mỹ- một cường quốc kinh tế và công nghệ, cũng không đủ khả năng để có tất cả, phải thông qua hợp tác quốc tế để bổ sung chỗ yếu, chỗ thiếu của mình. Do vậy, với các nước Châu á, muốn nâng cao trình độ công nghệ của mình, phải mở rộng quan hệ hợp tác là điều tất yếu.

Thời đại ngày nay, xu hướng hợp tác song phương, hợp tác đa phương đang được khu vực hóa, toàn cầu hoá. Đây là điều kiện thuận lợi cho các nước nghèo có thế mạnh vì giá nhân công thấp, giá nguyên vật liệu rẻ, hợp tác với các nước có trình độ công nghệ tiên tiến để tiếp nhận và phát triển công nghệ thích hợp.

Từ những năm 80, xuất hiện hoạt động chuyển giao công nghệ từ hợp tác đầu tư giữa hai chính phủ sang quan hệ hợp tác trực tiếp giữa các công ty trên phạm vi toàn cầu. Điều này dẫn đến các nước nghèo từ chỗ phụ thuộc vào sản phẩm của nước đối tác sang phụ thuộc vaò vốn và công nghệ của các công ty các nước phát triển.

Lợi thế là sự ràng buộc bởi ý thức hệ chính trị từng bước được loại bỏ, tạo khả năng khai thác công nghệ cao thuận lợi hơn, loại bỏ được những công nghệ không cần thiết, tránh được tính mất cân đối, mất đồng bộ do chính sách "có gì cho nấy" gây nên; thời gian chuyển đổi, tiếp nhận công nghệ ngắn, đáp ứng nhanh yêu cầu.

Hợp tác quốc tế để phát triển, hiện đại hóa vũ khí trang bị kỹ thuật quân sự của một số nước châu Á

Trọng điểm các công nghệ mới ở đây đều tập trung vào các lĩnh vực: Trinh sát (radar và sona); Hệ thống tự động điều khiển hoả lực, các hệ thống đạo hàng hàng không. Với việc bổ sung các hệ thống này cho phép các vũ khí trang bị kỹ thuật có tầm hoạt động rộng hơn, độ chính xác cao hơn và từng bước khắc phục được các hạn chế khi sử dụng trong thời tiết xấu và đêm tối.

3. Hiện đại hoá vũ khí, trang bị kỹ thuật thông qua các hợp đồng mua bán vũ khí

Thị trường mua bán vũ khí đang tạo ra một nghịch lý trong xu thế giải trừ quân bị. Tuy làn gió hoà hoãn sau "chiến tranh lạnh" đã làm dịu bớt sự căng thẳng cuộc chạy đua vũ trang trên phạm vi toàn cầu, với sự liên tục giảm chi phí quân sự của cả thế giới 4,2%/năm và đã tiến tới mức thấp nhất, kể từ năm 1966. Thế nhưng thị trường mua bán vũ khí lại diễn ra theo xu hướng ngược lại, với con số 30,2 tỉ USD trong năm 1995, tổng kim ngạch xuất khẩu vũ khí trên toàn cầu chỉ giảm ở mức không đáng kể vào khoảng 0,2%/năm.

Sự chấm dứt thế đối đầu đã tháo bỏ mọi ràng buộc liên quan đến ý thức hệ trên thị trường vũ khí. Các cường quốc quân sự Mỹ, Nga, Anh, Pháp... đang lao vào một cuộc chạy đua quyết liệt trên thị trường mua bán vũ khí để kiếm lời. Vũ khí các loại từ thông thường đến hiện đại nhất được chào bán khắp nơi cho bất cứ những ai có tiền.

Từ những năm 90, thị trường mua bán vũ khí trở nên phức tạp và ngày càng khó kiểm soát.

Các cường quốc vũ khí, đặc biệt là Nga, sẵn sàng bán ngay cả những vũ khí vừa qua thử nghiệm nhằm nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư phát triển các thế hệ vũ khí hiện đại để có sức cạnh tranh cao hoặc phát triển những hệ vũ khí nguyên lý mới ( sự hợp tác Nga-Mỹ phát triển vũ khí Plasma ).

Quyết định mua sắm vũ khí trang bị phụ thuộc vào các yếu tố sau đây :

- Trình độ công nghệ và khả năng kỹ thuật. Đây là điều kiện quan trọng vì nếu trình độ công nghệ và kỹ thuật giữa bên bán và bên mua quá cách xa nhau thì bên mua sẽ không khai thác hết các tính năng vốn có của vũ khí trang bị và sẽ gặp nhiều khó khăn trong bảo quản, bảo dưỡng và sửa chữa.

- Tình hình trang bị của đối phương tiềm tàng. Phải biết được đối phương đang và sẽ được trang bị những gì để không bị lạc hậu hơn.

- Tình trạng lạc hậu của vũ khí trang bị hiện có: theo các chuyên gia quân sự nước ngoài, thì phần lớn vũ khí trang bị của các nước châu Á tích luỹ từ thời chiến tranh lạnh đã lỗi thời, cần được đổi mới hoặc thay thế vào giữa những năm 90.

- Nhu cầu nhanh chóng tăng cường tiềm lực quân sự trong lúc các ô quân sự nước ngoài đang rút dần. Chẳng hạn, Phi-lip-pin lo ngại về việc Mỹ rút khỏi căn cứ hải quân và không quân Subic, Clark,...

- Sẵn sàng đối phó với các mối đe dọa. Với vị trí địa lý có phần lớn đại dương bao bọc, một số nước châu á nhận thấy phải có lực lượng đủ khả năng phát hiện và giám sát các mục tiêu trên các tuyến giao thông biển 1000 hải lý và trong khu vực Đông Nam á còn nhiều bất đồng về chủ quyền lãnh hải.

Chính sách mua sắm vũ khí trang bị của các nước châu Á tập trung ưu tiên các lĩnh vực :

- Mua sắm để hiện đại hoá không quân.

- Mua sắm vũ khí trang bị để hiện đại hoá hải quân.

- Mua sắm các hệ thống C4I.

- Mua sắm để xây dựng lực lượng phản ứng nhanh.

Điểm qua một số nước ở châu Á

1. Trung Quốc

Quá trình hiện đại hoá quân đội Trung Quốc chịu tác động rất lớn của định hướng chiến lược công nghiệp quân sự Nga do tính chất địa - chính trị và sự gắn bó từ lâu trong quan hệ hai nước. Sau chiến tranh lạnh Mỹ muốn một mình lãnh đạo thế giới, kiềm chế Nga, Trung Quốc. Cả Nga và Trung Quốc đều thống nhất quan điểm phản đối thế giới một cực (xem Tuyên bố chung Nga-Trung Quốc). Trước việc mở rộng NATO về phía Đông và hiệp ước an ninh Nhật-Mỹ mới, cả hai nước Nga - Trung Quốc đều phải dựa vào nhau.

Một thực tế chiến lược rất quan trọng cần được nghiên cứu là quyết sách của Trung Quốc về nhập khẩu công nghệ quân sự từ Nga. Ngay từ đầu quân đội của nước này tổ chức theo mô hình Xô-viết và được trang bị vũ khí của Liên Xô hoặc bắt chước thiết kế của Liên Xô. Do đó, Trung Quốc có nhiều thuận lợi khi trang bị cho quân đội của họ các vũ khí của Nga.

Mua sắm vũ khí trang bị không quân và phòng không :

Theo luận điểm phòng thủ chiến lược chủ động, đa số máy bay của không quân Trung Quốc có nhiệm vụ phòng không kết hợp với một số nhiệm vụ tấn công.

* Trong lĩnh vực không quân :

Trung Quốc quan tâm nhập khẩu máy bay tiêm kích và phối hợp với các nước khác chế tạo theo những công nghệ mới nhất. Theo tinh thần đó, họ đã tổ chức cuộc triển lãm công nghệ hàng không vũ trụ ở Quảng Châu. Cũng theo các luận chứng đó, Không quân Trung Quốc đã mua của Nga 46 máy bay Su-27, dự kiến sẽ mua tổng số hơn 70 chiếc theo thoả thuận đạt được trong tháng 4-1996. Trung Quốc dự kiến ký hợp đồng với Nga trong vòng 10 năm chế tạo máy bay Su-27 theo lixen với tổng chi phí lên tới 2,5 tỉ USD. Theo báo chí Trung Quốc, những máy bay đó sẽ được sử dụng để kiểm soát không phận trên các quần đảo giàu dầu mỏ đang tranh chấp với Việt Nam và Phi-lip-pin như Trường Sa và Hoàng Sa.

Trung Quốc đặc biệt quan tâm đến kế hoạch phát triển máy bay vận tải nhằm thay đổi hẳn hình ảnh về một đội quân đi bộ. Việc Trung Quốc mua các máy bay vận tải IL-76 có thể tạo ra bước chuyển biến căn bản trong tiến trình tạo dựng lực lượng phản ứng nhanh của Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, Nga có thể sẽ bán cho Trung Quốc các máy bay lưỡng dụng, trước hết là máy bay vận tải thân rộng.

* Trong lĩnh vực phòng không :

Hiện nay trường radar dày đặc của Trung Quốc chưa đủ bao quát ở mọi tầm nên họ cần mua những radar mới nhất để kiểm soát không phận, trong đó có cả máy bay trinh sát báo động sớm AWACS. Trung Quốc cũng đang thăm dò để mua radar của Nga. Hiện nay, hệ thống phòng không Trung Quốc đã có khoảng 100 máy bay tiêm kích đánh chặn mua của Nga hoặc chế tạo theo li-xen của Nga (các kiểu Su-27 và MiG-31), đủ để bao quát các khu vực biên giới quan trọng nhất và hoạt động trong đội hình lực lượng phản ứng nhanh. Để có tiềm lực đó, Trung Quốc phải chi trên 3 tỉ USD. Ngoài ra, Trung Quốc còn có vài trăm máy bay tiêm kích FC-1 hoặc kiểu tương tự được lắp động cơ và thiết bị điện tử hàng không của Nga với tổng chi phí 2-3 tỉ USD.

Trung Quốc cũng đặc biệt quan tâm đến khả năng chống tên lửa đường đạn. Theo hướng đó, họ đã mua của Nga các tổ hợp tên lửa phòng không S-300 PMU-1 và 2 (họ đã mua 4 dàn với 120 tên lửa có điều khiển). Những tên lửa này được đánh giá là tốt hơn nhiều so với tên lửa "Patriot"của Mỹ và sẽ được bố trí xung quanh Bắc Kinh hoặc các căn cứ tên lửa của Trung Quốc. Tổng chi phí cho chương trình mua sắm này khoảng 1 tỉ USD.

Mua sắm vũ khí trang bị lục quân

Hiện nay, lực lượng đột kích của Lục quân Trung Quốc có 10 sư đoàn tăng thiết giáp được trang bị các xe tăng tương tự T-54/55 của Liên Xô chế tạo từ những năm 40-50. Hiện nay, những xe tăng đó không đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu. Ngay cả xe tăng T-69II cũng chỉ bắn tiêu diệt được các mục tiêu cố định và di động từ cự li 3000m với xác suất trúng đích khoảng 55%. Trong khi đó, xe tăng T-80V của Nga có thể tiêu diệt mục tiêu di động từ cự li 4000m với xác suất tới 80%. Với tên lửa có điều khiển bằng hệ dẫn laser (9M119) hiện đại nhất thế giới, khả năng diệt mục tiêu của T-80V còn gia tăng đáng kể. Để khắc phục tình trạng lạc hậu của kho xe tăng hiện có, Trung Quốc đã thiết kế chế tạo xe tăng chủ chiến kiểu "90II", lắp pháo 125mm để bắn các loại đạn dùng cho xe tăng của Nga. Đó sẽ là thị trường lớn để Nga xuất khẩu đạn dược qua Trung Quốc hoặc chuyển giao công nghệ chế tạo li-xen cho Trung Quốc. Trong các cuộc đàm phán Nga- Trung, có đề cập đến vấn đề Nga bán trực tiếp hoặc chuyển giao công nghệ để Trung Quốc chế tạo xe tăng T-80V theo li-xen.

Cách đơn giản nhất để hiện đại hoá các xe tăng cũ của Trung Quốc là lắp thêm hệ thống ngắm mới kiểu "Irtysh" và "Buran-PA" của Nga. Hệ thống quan sát ban đêm T01-K01 của xe tăng Nga T-80 có đầy đủ mọi tính năng để có thể cạnh tranh với hệ thống ngắm IR-18 mà Trung Quốc đã từng mua của Anh những năm 80. Trung Quốc cũng muốn thuê các nhà thiết kế Nga vốn có nhiều kinh nghiệm trong việc hiện đại hoá các xe tăng T-54/55/62.

Để hiện đại hoá xe tăng cho một sư đoàn tăng thiết giáp có trong trang bị 323 xe tăng chủ chiến, cần có vài chục triệu USD (không kể đạn dược). Đó là cái giá dễ chấp nhận đối với Trung Quốc. Còn để trang bị xe tăng mới, rõ ràng họ phải đầu tư lớn hơn nhiều.

Các sư đoàn bộ binh cơ giới của Lục quân Trung Quốc cũng ở trong tình trạng tương tự. Trước tình hình đó, người Nga có thể chào mời kiểu xe BMP-3 có lớp giáp tăng cường và vũ khí hiện đại hơn (như pháo 30mm bắn đạn động năng, tên lửa chống tăng có điều khiển thế hệ mới, hệ thống điều khiển hoả lực hoàn thiện hơn v.v...).

Không quân của lục quân có ý nghĩa đặc biệt đối với lực lượng phản ứng nhanh thông qua khả năng cơ động chiến thuật cao và nhanh chóng phản ứng, đối phó với các mối đe doạ. Trong quân đội Trung Quốc hiện nay có 314 máy bay lên thẳng kiểu Z-5 (Mi-4 của Liên Xô trước đây) đã cũ, thuộc thành phần không quân vận tải. Sắp tới họ sẽ tổ chức các phân đội máy bay lên thẳng thành một binh chủng trong lục quân. Có nhiều khả năng nhất là Trung Quốc sẽ dùng máy bay lên thẳng đa năng Mi-17 của Nga vì giá rẻ. Hiện nay 24 chiếc đã được xuất sang Trung Quốc. Không quân Trung Quốc chưa hề có máy bay lên thẳng chiến đấu có thể làm cơ sở cho lực lượng cường kích của lục quân. Trung Quốc đang lựa chọn để mua máy bay lên thẳng Mi-25/35 của Nga có khả năng mang được 16 tên lửa chống tăng có điều khiển 9M114, tên lửa không-đối-không "Igla" và các kiểu vũ khí khác. Mỗi một lữ đoàn máy bay lên thẳng cần khoảng 150-300 triệu USD để trang bị mới.

Đối với Lục quân Trung Quốc, điều có ý nghĩa rất lớn là thay thế tên lửa chống tăng kiểu cũ từ những năm 60 được chế tạo phỏng theo kiểu MALYUTKA ( AT-3 Sagger ) của Liên Xô trước đây bằng các tên lửa thế hệ mới như METIS-M, KONKURS-M và KORNET-E có tầm xa hơn. Theo tính toán tiêu chuẩn của các nước phát triển, một sư đoàn bộ binh trung bình cần có ít nhất 200 tổ hợp tên lửa chống tăng, trong đó kể cả loại lắp trên xe BMP và các bệ phóng cơ động khác. Như vậy Trung Quốc cần mua khoảng 18.000 tổ hợp, nhưng cũng chỉ để trang bị mới được một phần so với yêu cầu.

Trong lĩnh vực pháo binh, Trung Quốc quan tâm nhiều đến các hệ thống pháo phản lực loại URAGAN, SMERCH của Nga. Họ có thể sẽ mua một ít hoặc nhận chế tạo theo li-xen một số loại đạn dùng cho dàn pháo phản lực, các hệ thống điều khiển hoả lực mới (như hệ 1K 123 của tổ hợp sản xuất "KONTUR" của Nga), đạn pháo có điều khiển "KRASNOPOL" và "KITOLOV-2". Ước tính, riêng Lục quân Trung Quốc có thể sẽ đặt hàng cho các cơ sở công nghiệp quốc phòng Nga khoảng 0,5 tỉ USD.

Mua sắm vũ khí trang bị hải quân

Hải quân Trung Quốc được hiện đại hoá theo cương lĩnh "2 năng lực ( tác chiến và sống còn ) và 6 tính chất" ( hữu dụng, cơ động, kết hợp, che dấu, tiện nghi, kinh tế ). Chi phí để hiện đại hoá Hải quân Trung Quốc không vượt quá 10-12% tổng chi phí quân sự. Với tỉ lệ chi phí đó Trung Quốc khó có thể thực hiện được các chương trình đầy tham vọng là phát triển hạm đội đại dương.

Hiện tại, Trung Quốc có 86 tàu ngầm, trong số đó có 70 tàu chế tạo ở Liên Xô hoặc theo li-xen của Liên Xô ( tàu ROMEO, tàu 633 ). Trung Quốc tự chế tạo tàu ngầm lớp MIN và hiện vẫn tiếp tục xuất xưởng. Nhưng hiển nhiên là xét theo khả năng chiến đấu, những tàu ngầm đó thua kém tàu ngầm lớp Kilo của Nga và các tàu ngầm của phương Tây, thậm chí còn thua kém cả các tàu ngầm hiện có trong trang bị các nước láng giềng. Đó là lý do khiến Trung Quốc đặt mua của Nga 5 tàu ngầm ít gây tiếng ồn khi chạy ngầm, sau đó sẽ chế tạo theo li-xen tại Trung Quốc với tổng chi phí hơn 1 tỉ USD.

Trong thập kỷ tới, Trung Quốc sẽ nhập khẩu các hệ thống vũ khí đơn lẻ của hải quân để phát triển hạm đội tàu mặt nước. Họ sẽ mua của Nga khoảng 1 tỉ USD vũ khí hải quân, trong đó có tổ hợp tên lửa siêu âm đối hạm "MOSKIT" ( tổng chi phí trên 150 triệu USD ), tên lửa phòng không tầm trung "URAGAN", tên lửa phòng không tầm gần "KORTIK", tổ hợp pháo-tên lửa phòng không 30mm AK-630M, ngư lôi đa năng 53-65K3, radar và các tổ hợp hệ thống thủy âm. Có thể, Trung quốc sẽ đặt mua các tổ hợp tên lửa chống ngầm "METEL" và "RASTRUB".

Nếu sau năm 2010, Trung Quốc vẫn sẽ phát triển tàu sân bay thì đương nhiên khối lượng đơn hàng quân sự nhập khẩu sẽ tăng, nhưng đến thời điểm đó hợp tác công nghệ quân sự giữa Nga, các nước trong SNG và Trung Quốc sẽ xuất phát trước hết không phải từ lợi ích kinh tế mà là từ các tính toán chiến lược về địa chính trị.

Ấn Độ

Ấn Độ vẫn lệ thuộc vào nhập khẩu các công nghệ mới để tổ chức sản xuất các mẫu vũ khí và phương tiện kỹ thuật quân sự hiện đại. Việc nghiên cứu các loại vũ khí tương lai ở Ấn Độ như xe tăng chủ lực, máy bay chiến đấu, trực thăng chi viện hoả lực, các tổ hợp tên lửa, phần lớn dựa vào công nghệ của nước ngoài. Thí dụ, để chế tạo một máy bay, Ấn Độ phải nhập thiết bị tổng thành sản xuất của Anh hoặc của Mỹ. Để chế tạo xe tăng phải nhập thiết bị động lực, bộ truyền động và hàng loạt các hệ thống và bộ tổng thành của Đức.

Chính sách mua sắm nhập khẩu của Ấn Độ hiện nay được xác định chủ yếu bởi tính phù hợp của nền kinh tế đối với việc sản xuất vũ khí. Đồng thời, việc chấp nhận loại vũ khí nào hay công nghệ gì đều xuất phát từ ý nghĩa quan trọng về chiến lược, làm cơ sở để cấp kinh phí mua sắm trên thực tế. Việc quyết định mua sắm vũ khí chỉ được thực hiện sau khi trải qua các thử nghiệm thẩm định. Ấn Độ ưu tiên cho các công nghệ và vật liệu dùng cho công nghiệp tên lửa, các mẫu vũ khí và phương tiện kỹ thuật quân sự mới, các phụ tùng thay thế cho các hệ thống hiện có trong trang bị của quân đội Ấn Độ. Khối lượng nhập khẩu chung của sản phẩm chế tạo cơ khí được phân chia như sau (tính theo phần trăm): 17% cho đóng tàu thuyền, 16,6% cho các thiết bị đo đạc kiểm tra, 13% cho các phương tiện liên lạc, 12% cho các thiết bị xây dựng. Ngoài ra, còn có các sản phẩm dùng cho kỹ thuật hàng không, máy tính điện tử, thiết bị nồi hơi, cụm và chi tiết ô tô. Thép và các hàng hoá nhập khẩu vào Ấn Độ chiếm tỉ lệ không lớn lắm (3%).

Các nước thoả thuận chuyển giao công nghệ hoặc hợp tác với Ấn Độ là: Mỹ, Đức, Nga, Thuỵ Sĩ, Anh, Nhật Bản, Pháp, I-ta-li-a, Bỉ, Thuỵ Điển, Hà Lan, Phần Lan, Ca-na-đa, Đan Mạnh và Hồng Công. Trong trang bị của quân đội Ấn Độ, vũ khí và phương tiện kỹ thuật quân sự của Liên Xô (cũ) chiếm từ 50-70%. Trong số 1200 máy bay chiến đấu và huấn luyện của Ấn Độ có 800 chiếc sản xuất tại Liên Xô như MiG-21; MiG-29; trực thăng Ka-25; K-28; Mi-8; Mi-17; Mi-25; Mi-26;... Hơn một nửa trong số đó cần phải thay mới hoặc phải nâng cấp căn bản. Qua một thời gian dài khai thác và sử dụng vũ khí trang bị của Liên Xô (cũ), các vũ khí trang bị này đã thể hiện độ tin cậy, chắc chắn và có khả năng chiến đấu cần thiết. Ngoài ra, việc bảo dưỡng vũ khí trang bị của Liên Xô lại đơn giản, điều này khá quan trọng đối với quân đội Ấn Độ. Việc duy trì các mối quan hệ về quân sự đã đạt được giữa Nga và Ấn Độ là điều quan trọng cho cả hai nước. Qui mô hợp tác của Nga và Ấn Độ trong tương lai gần nhất có thể được mở rộng hơn và Nga trở thành nguồn cung cấp có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với Ấn Độ. Trong bối cảnh đó, Nga và Ấn Độ đã ký hiệp định hợp tác khoa học kỹ thuật quân sự đến năm 2010 với chi phí 8 tỉ Mỹ kim (USD).

Một số nước khác

Cũng cần nhận thấy rằng trong cơn sốt hiện đại hoá lực lượng vũ trang nhằm hướng tới một châu Á - Thái Bình Dương thế kỷ 21, không riêng gì Trung Quốc mà ngay cả Hàn Quốc, các nước ASEAN, trong đó có cả các nước được coi là những "con rồng châu Á", cũng thèm khát công nghệ quân sự của Nga. Họ biết Nga rất cần xuất khẩu vũ khí trang bị hiện đại nhất để thu ngoại tệ và đã khôn khéo buộc Nga "bán kèm" những công nghệ mà thực ra không có quan hệ trực tiếp đến những vũ khí đó.

Hàn Quốc đã mua của Nga 30 xe tăng T-80Y, 20 xe chiến đấu của bộ binh BMP-3, hàng trăm tên lửa phòng không và tên lửa chống tăng; mua của In-đô-nê-xi-a máy bay vận tải hạng trung.

Các nước ASEAN mua sắm vũ khí trang bị chủ yếu hướng vào hiện đại hoá không quân, hải quân và tăng cường khả năng tiến hành chiến tranh qui ước. Cụ thể như sau:

In-đô-ne-xi-a: In-đô-ne-xi-a chủ trương đa phương hoá, không tập trung vào một nguồn nào như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Đức, Anh, Pháp, Italia, Ixraen, Thuỵ Sĩ, Hà Lan. Gần đây, họ đã mua máy bay tiêm kích F-16A/B (Mỹ); máy bay vận tải C-130; tàu chiến lớp Vanspejk (Hà Lan); Máy bay tuần tra hàng hải tầm trung CN-235-100; tầu ngầm lớp Type 209/1200 Cakra; tàu ngầm điêzen ( CHDC Đức trước đây ); tàu hộ tống Pavchim; tàu quét mìn; tàu đổ bộ yểm trợ (CHDC Đức trước đây); máy bay cường kích HAWK (Anh); máy bay trinh sát và báo động sớm bằng ra-đa AWACS E-2C; tên lửa không đối không SIDEWINDER (Mỹ); xe chiến đấu ALVIS SCORPION 90 và STOMMES APC (Anh); hệ thống điều khiển hoả lực bằng ra-đa MK2LIROD, điện quang MK2LIOD; ra-đa cảnh giới không- biển tần số kép VARIANT; hệ thống chỉ huy tác chiến TACTICOM; xe tăng K1 (Hàn Quốc).

Ma-lai-xi-a: Từ những năm 70, khi Mỹ rút dần khỏi khu vực Đông Nam Á, vai trò đối ngoại của quân đội Ma-lai-xi-a ngày càng lớn. Cuối những năm 80 Ma-lai-xi-a chủ trương xây dựng quân đội đủ mạnh để đối phó với những mối đe doạ tiềm tàng từ bên ngoài, đặc biệt nhằm bảo vệ các vùng đặc quyền kinh tế trên biển. Trọng tâm chương trình hiện đại hoá của nước này chuyển từ "an ninh nội địa và chống bạo loạn" sang "chiến tranh qui ước", nhằm xây dựng lực lượng vũ trang gọn nhẹ, tinh nhuệ, cơ động nhanh và được trang bị vũ khí tiên tiến. Tương tự như các nước ASEAN khác, vấn đề trang bị của Ma-lai-xi-a phụ thuộc khá nhiều vào các nguồn cung cấp bên ngoài, trước hết là Mỹ và các nước phương Tây. Tuy nhiên, chính sách mua sắm của nước này có những thay đổi trong thời gian gần đây. Biểu hiện rõ nhất là từ năm 1993 họ hướng về thị trường vũ khí của Nga.

Mấy năm gần đây Ma-lai-xi-a mua tàu chiến lắp tên lửa phòng không SEAWOLF, máy bay cường kích HAWK (Anh), máy bay cảnh giới hàng hải Beech B200T Super King; tên lửa có điều khiển hạm đối hạm ECOXET MM40; pháo 57 và 37mm; tàu cảnh giới hàng hải; máy bay cảnh giới hàng hải; tên lửa phòng không Starburs (Anh); xe chiến đấu của bộ binh (Hàn Quốc); máy bay vận tải Artech CN-235 và trực thăng Super Puma NAS-322 (In-đô-ne-xi-a); máy bay tiêm-cường kích F/A-18D (Mỹ); máy bay tiêm-cường kích MiG-29 (Nga); tàu tuần tra ngoài khơi và trực thăng đỗ trên tàu; trực thăng vũ trang; radar phòng không; thuỷ phi cơ; các hệ thống chiến tranh điện tử; máy bay chiến đấu Skyhawk; trực thăng AH-60 (Mỹ); Mi-28; Mi-35; Ka-50 (Nga); AH-1W Super Cobra; Bo-105; Austa A127; AS565 M Pather; Westland Lynx; tàu Frigat hạng nhẹ trang bị tên lửa ECOXET và có thể mang 1 trực thăng Wasp (Lgnx). Đang đàm phán để mua tàu ngầm lớp KiLO.

Phi-lip-pin: Để hiện đại hoá vũ khí trang bị, Phi-lip-pin dự kiến vừa mua sắm, vừa chế tạo. Về mua sắm từ năm 1991 đến năm 2010, Phi-lip-pin dự kiến chi khoảng 6 tỉ USD. Hướng mua sắm chủ yếu là Mỹ, Nga và các công ty khác của nước ngoài. Chương trình mua sắm được soạn thảo dựa trên yêu cầu về an ninh quốc phòng trong bối cảnh chính trị- quân sự mới ở khu vực, trong đó có vấn đề tiêu chuẩn hoá và hợp tác quân sự giữa các nước ASEAN. Theo hướng mua sắm, Philippin ký kết với Pháp thoả thuận hợp tác quân sự ( 14-09-1994 ), mở đường cho Pháp hiện đại hóa quân đội nước này theo chương trình 15 năm. Nội dung hợp tác bao gồm huấn luyện kỹ thuật quân sự, chuyển giao công nghệ, các cuộc tập trận chung, mua sắm vũ khí trang bị, trao đổi các chuyên gia quân sự và đào tạo học viên quân sự. Có thể, Phi-lip-pin sẽ mua tên lửa Exocet và máy bay Mirage của Pháp.

Không quân Phi-lip-pin sẽ mua các máy bay mới để thay thế máy bay F-5 A/B đã có trong trang bị hơn 30 năm. Hiện nay, họ chỉ còn một số ít F-5 trong số 24 chiếc mua của Mỹ đầu những năm 60.

Hải quân Phi-lip-pin đang mua sắm tàu nhỏ mang tên lửa. Pháp có thể sẽ đóng xuồng tuần tra cỡ nhỏ tại nước này, còn Mỹ sẽ giúp họ thiết kế pháo hạm cỡ nhỏ. Có 3 công ty của CHLB Đức chuyên về đóng tàu và sửa chữa tàu gần đây đã hợp đồng với Phi-lip-pin, giúp nước này đánh giá tình trạng công nghiệp đóng tàu. Công ty Blohm + Voss AG hợp đồng giúp Phi-lip-pin đóng đốc tàu nổi, còn một công ty khác ở Hamburg giúp họ vật liệu, thiết kế để sửa chữa tàu tại chỗ.

Trong lĩnh vực hải quân, Mỹ sẽ cung cấp cho Phi-lip-pin 11 xuồng tuần tra theo chương trình mua sắm hàng quân sự của nước này. Năm 1994, Hải quân Mỹ có hợp đồng cho Phi-lip-pin xuồng tuần tra cao tốc có kết cấu hoàn toàn bằng hợp kim nhôm. Mỹ còn cung cấp cho họ máy bay chống bạo loạn OV-10, trực thăng vũ trang MD-500, UH-1H. Bỉ cung cấp trực thăng vũ trang MG-520.

Thái Lan: Trước những năm 70, Thái Lan chủ yếu được Mỹ cung cấp vũ khí trang bị. Trong những năm 80 họ chuyển qua mua của nhiều nước và gần đây cũng chuyển sang khai thác vũ khí trang bị của Nga. Gần đây họ mua tàu đổ bộ xe tăng, tàu rà phá thuỷ lôi, tàu chống ngầm (Anh), tàu chiến Type OH53HT, OH53HT(H) và Type 025T (Trung Quốc); tàu sân bay chở trực thăng (Tây Ban Nha); Trực thăng đội hạm và chống ngầm (Mỹ); máy bay huấn luyện PC-9 (Thụy Sĩ); máy bay tấn công hạng nhẹ (Séc); máy bay vận tải G-222 Alenia (I-ta-li-a); máy bay cất hạ cánh thẳng đứng AV-8S và TAV-8S (Tây Ban Nha); công nghệ chế tạo máy bay Herrier (Anh); máy bay chiến đấu A-7E (Mỹ); máy bay F-5A/B (Hàn Quốc); xe tăng chủ chiến (Đức); máy bay F-16A/B (Mỹ); máy bay cường kích AMX (Anh - I-ta-li-a); máy bay HAWK (Anh) và máy bay AWACSE-2C (Mỹ); ra-đa phòng không hiện đại (Mỹ) làm cơ sở xây dựng hệ thống C4I; máy bay vận tải hạng nhẹ CASAC-212AVIOCAR. Đang đàm phán để mua tàu ngầm lớp Kilo (Nga).

Xin-ga-po: Những năm gần đây đã mua tàu hộ tống Victory (Đức); tàu rà phá thuỷ lôi (Thụy Điển); tàu đảm bảo chiến đấu; pháo 105mm; máy bay tuần tra cảnh giới FOKKER 50 Mk-2 (Hà Lan); máy bay F-16A/B, F-16C/D, máy bay AWACS E-2C, trực thăng vận tải hạng nặng CH-47D, xe bọc thép lội nước (Mỹ).

Nhìn chung các nước ASEAN có xu hướng tiêu chuẩn hoá vũ khí trang bị. Hiện nay trong trang bị của họ có tới hơn 15 kiểu vũ khí cùng kiểu như xe M-113, tên lửa phòng không RAPIER, máy bay F-5, A-4, F-15, F-18. Rất có thể súng trường tự động SAR 5,56mm và súng máy Ultimax 5,56mm do Xin-ga-po sản xuất sẽ được sử dụng làm vũ khí bộ binh tiêu chuẩn trong khối.

4. Hiện đại hoá vũ khí trang bị bằng khả năng trong nước

Đây là con đường đi tất yếu của mọi quốc gia. Nó vừa bảo đảm cho tính độc lập tự chủ, không phụ thuộc vào nước ngoài, mặt khác giữ được bí mật khả năng quốc phòng của mình. Tuy vậy, việc tự sản xuất vũ khí trang bị kỹ thuật quân sự đối với các nước châu Á gặp không ít khó khăn:

- Trong khu vực quân sự, trang bị có nhịp độ lạc hậu nhanh hơn so với khu vực dân sự.

- Ưu thế về nhân công rẻ, giá nguyên vật liệu thấp ở khu vực các nước châu Á sẽ giảm giá chậm khi áp dụng các công nghệ cao vào sản xuất (sử dụng ít nhân công do tự động hoá cao trong dây chuyền sản xuất; hàm lượng trí tuệ trong sản phẩm cao, dùng ít nguyên vật liệu).

- Việc theo đuổi quá trình công nghiệp hoá sẽ buộc các nước vào cuộc chạy đua kỹ thuật quốc tế dưới hình thức này hay hình thức khác, cuộc chạy đua này ngày càng tăng tốc và tốn kém.

- Trình độ văn hoá, kỹ thuật nói chung ở nhóm nước này thấp hơn trình độ vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đang sử dụng.

Tuy vậy, ngoài lý do trên, về mặt kinh tế, việc tự lực sản xuất vũ khí ở các nước châu Á vẫn là một yếu tố cần thiết phải thực hiện.

- Do nhu cầu sử dụng vũ khí trang bị kỹ thuật quân sự, các nước này phải mua vũ khí của các cường quốc quân sự, trong giá bán sản phẩm có cả chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D)- R&D trong hàng tiêu dùng chiếm khoảng 2-5% giá bán, hàng quốc phòng cao hơn 2 lần. Như vậy, vô hình chung nhóm nước này đã "đóng góp" cho hoạt động R&D cho các tập đoàn sản xuất vũ khí. Trong khi đó, nhóm nước này có điều kiện tiến hành R&D với chi phí thấp hơn cùng với chi phí nhân công trong khu vực sản xuất cũng thấp, cho phép tạo các sản phẩm có sức cạnh tranh cao. Với nhận thức này cùng với chính sách sản xuất hướng ngoại (tự lực sản xuất để xuất khẩu) nhóm nước này tránh được lệ thuộc vào nguồn cung cấp của nước ngoài. Đây là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, để nhóm nước này xác lập được một vị trí độc lập tương đối trong một thế giới đầy biến động. Quá trình tự sản xuất vũ khí trang bị kỹ thuật ở một số quốc gia diễn ra như sau:

Trung Quốc

Trung Quốc tiến hành hiện đại hoá vũ khí trang bị dựa trên một số cơ sở công nghiệp quốc phòng khá vững chắc và được phát triển mạnh từ những năm 50, nhờ sự viện trợ toàn diện và có trọng tâm của Liên Xô, nhằm hiện đại hoá các nhà máy quân sự chủ yếu và đổi mới một loạt nhà máy khác.

Có thể chia sự phát triển công nghiệp quốc phòng Trung Quốc thành 3 thời kỳ: 1949-1960; 1961-1976; và từ 1976 tới nay.

Thời kỳ đầu tiên: sự phát triển của công nghiệp quốc phòng gắn liền với quá trình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc với sự giúp đỡ to lớn và đồng bộ của Liên Xô. Có thể nói phần lớn cơ sở vật chất kỹ thuật của công nghiệp quốc phòng Trung Quốc hiện nay vẫn là kết quả của sự giúp đỡ đó.

Thời kỳ thứ hai: diễn ra dưới tác động của chính sách quân sự hoá nền kinh tế, ưu tiên phát triển công nghiệp quốc phòng. Từ 1976 tới nay, trên sơ sở chính sách mở cửa, Trung Quốc bắt đầu tổ chức lại khu vực công nghiệp này, dựa vào vốn, công nghệ phương Tây và của Nga để hiện đại hoá quốc phòng.

Những năm 1980: Trung Quốc đưa ra chương trình "bốn hiện đại hoá", nhanh chóng tăng cường tiềm lực công nghiệp quốc phòng và hiện đại hoá toàn diện các lực lượng vũ trang. Trung Quốc nhấn mạnh vai trò hợp tác với các nước phương Tây và Nga nhằm xây dựng một nền công nghiệp quốc phòng mạnh. Ngoài hiện đại hoá từng phần bằng cách khai thác hàng loạt phát minh, sáng chế mua của các nước tư bản, Trung Quốc còn chú trọng mở rộng hợp tác quân sự và kỹ thuật - công nghệ thu được từ các nước đó.

Mục đích chính của Trung Quốc không phải là tìm kiếm vũ khí mà là tìm kiếm các công nghệ quân sự mới nhất thông qua hợp tác khoa học kỹ thuật và hợp tác sản xuất với nước ngoài. Trung Quốc đặc biệt quan tâm tới các hợp đồng hợp tác sản xuất ( tại Trung Quốc ) theo giấy phép, bao gồm cả giúp đỡ tư vấn kỹ thuật về sản xuất nguyên liệu, giúp đỡ trong chế tạo và lắp ráp các hệ thống đơn lẻ. Trong việc làm ăn với các hãng Mỹ, Nga, Nhật Bản và phương Tây các kiểu hợp đồng như vậy vừa kinh tế, vừa đỡ rắc rối về chính trị.

Nhờ hiện đại hoá, Trung Quốc đã xuất khẩu vũ khí trang bị với khối lượng ngày càng lớn, trở thành thành viên thứ 7 trong nhóm nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu vũ khí trang bị.

Từ năm 1980, khu vực công nghiệp quốc phòng Trung Quốc đã thu hút 25% toàn bộ năng lực công nghiệp Trung Quốc và sản xuất ra khoảng 10% tổng sản phẩm quốc dân (GNP).

Khu vực công nghiệp quốc phòng có gần 1000 doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, phát triển và chế tạo vũ khí, trang bị, là một trong những khu vực tiên tiến nhất của công nghiệp Trung Quốc nói chung. Từ cuối những năm 70, ở khu vực sản xuất này diễn ra những chuyển biến quan trọng: chuyển từ phương thức quản lý kiểu hành chính ( qua các bộ ) sang phương thức quản lý kiểu kinh doanh ( qua các công ty ); Đó là qúa trình "thương mại hoá" công nghiệp quốc phòng.

Hiện nay đã có 7 công ty chủ yếu trong các lĩnh vực công nghiệp khác nhau:

- NORINCO ( Công ty công nghiệp Hoa Bắc ): Chế tạo tăng, thiết giáp, pháo, đạn, tên lửa chống tăng..., công ty gồm các nhà máy, xí nghiệp do Bộ Quân giới kiểm soát.

- CPMIEC ( Công ty xuất nhập khẩu cơ khí chính xác Trung Quốc ): chế tạo các loại tên lửa chiến lược và chiến thuật, trừ tên lửa chống tăng ( Bộ Công nghiệp Hàng không ).

- CSSC ( Công ty đóng tàu quốc gia Trung Quốc ): đóng các loại tàu hải quân ( Bộ Đóng tàu ).

- CEIEC ( Công ty xuất nhập khẩu điện tử Trung Quốc ): chế tạo các dụng cụ điện tử ( Bộ Chế tạo thiết bị điện tử ).

- Công ty Trường Thành ( tách ra từ CPMIEC ).

- CATIC ( Công ty xuất nhập khẩu kỹ thuật hàng không Trung Quốc ): máy bay, máy bay lên thẳng, tên lửa không đối không,... (Bộ Công nghiệp Hàng không).

- CNEIC ( Công ty công nghiệp năng lượng hạt nhân Trung Quốc): năng lượng hạt nhân và vũ khí hạt nhân (Bộ Năng lượng hạt nhân).

Các công ty công nghiệp được xây dựng trên nguyên tắc kết hợp công nghiệp với mậu dịch, kỹ thuật với mậu dịch, trong và ngoài nước. Dưới các công ty có các phân công ty ( phân hãng ) ở các quân khu, các đặc khu kinh tế. Ngoài ra, còn có các văn phòng giao dịch ở nước ngoài. Nhờ đó, việc sản xuất và tiêu thụ vũ khí được phối hợp giữa các xí nghiệp quân sự có liên quan.

Một điều đáng lưu ý là toàn bộ các công ty công nghiệp quốc phòng đều hoạt động trên cả hai lĩnh vực quân dụng và dân dụng. Hiện nay, ước tính công nghiệp quốc phòng Trung Quốc có 80% hàng dân dụng (năm 1978 chỉ có 8,1%). Từ năm 2000, 1/3 số cơ sở công nghiệp quốc phòng chuyên sản xuất hàng quân sự, 1/3 chuyên sản xuất hàng dân dụng và 1/3 sản xuất hàng lưỡng dụng.

Xưởng đóng tầu quốc gia Thượng Hải chuyển sang chế tạo tầu frigat, tầu ngầm và tầu khu trục cho lực lượng Hải quân Trung Quốc.

Trung Quốc đã phát triển 4 loại máy bay chiến đấu mới :

- Máy bay XJ-10 tương đương F-16 (Mỹ) hoặc MIG-29 (Nga); máy bay cường kích JH-7; Super-7 cải tiến từ J-7M hợp tác với hãng Grumman Aircraft (Mỹ); loại J-9 là loại tiêm kích một chỗ ngồi với công nghệ điện tử của phương Tây.

Trung Quốc có ý định phát triển khả năng tác chiến điện tử, trước mắt đã sửa đổi máy bay IV-154 tầm trung để dùng làm máy bay tác chiến điện tử. Trung Quốc đã bắt đầu thí nghiệm phát triển hệ thống báo động sớm và kiểm soát trên không (AWACS) trên cơ sở máy bay vận tải IL-72 hoặc IL-76 cải tiến.

Nhìn chung, hoạt động tự chế tạo trong nước cũng như nhập khẩu vũ khí trang bị từ bên ngoài của Trung Quốc đang ở quá trình biến đổi từ chiến lược nâng cấp, từng bước nhảy sang chiến lược đại nhảy vọt hướng tới vũ khí trang bị công nghệ cao. Trước mắt họ tập trung vào các hướng công nghệ C4I, truyền thông từ vũ trụ, GPS, trạm chỉ huy đặt trên vũ trụ, vũ khí có điều khiển chính xác, máy tính điện tử siêu tốc, chiến tranh điện tử, trí tuệ nhân tạo.