NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Xu hướng phát triển Năng Lượng Hạt Nhân trên Thế Giới và một vấn đề nước ta cần quan tâm - TS Trần Hà Anh , Kiều bào Pháp

Thế giới hiện nay đang mục kích một sự biến đổi quan trọng trong xu hướng khai thác và sử dụng năng lượng. Thật vậy, giá cả thị trường dầu, khí, than ngày càng tăng đã củng cố nhận thức cho rằng thời kỳ mà loài người có thể dễ dãi sử dụng các nguồn năng lượng rẻ tiền sẽ nhanh chóng kết thúc. Hơn nữa, những yêu cầu về bảo vệ môi trường trong phạm vi toàn cầu, trước hết là hạn chế sự phát thải CO2 và các khí nhà kính khác, cũng đòi hỏi các quốc gia phải tìm cho được những giải pháp triệt để nhằm nhanh chóng giảm bớt việc sử dụng các nhà máy nhiệt điện chạy than hoặc khí.

Trong tất cả các giải pháp khác nhau được các nước đề ra nhằm giải quyết vấn đề cung cấp năng lượng dưới áp lực của hai yêu cầu cơ bản nói trên là bảo đảm an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường toàn cầu, đã xuất hiện một xu hướng khá phổ biến cho rằng điện hạt nhân là giải pháp quan trọng và khả thi nhất để thay thế các nhà máy nhiệt điện sử dụng nguồn năng lượng hóa thạch. Cùng với giải pháp này, là các biện pháp tiết kiệm năng lượng và triển khai sử dụng kết hợp các dạng năng lượng tái tạo trong phạm vi hợp lý.

Bài viết này phân tích xu hướng quay trở lại của điện hạt nhân trong giai đoạn vài, ba chục năm sắp tới và đề cập tới một số vấn đề mà nước ta cần quan tâm khi nghiên cứu vấn đề khai thác, sử dụng nguồn năng lượng này để phục vụ cho nhu cầu phát triển bền vững đất nước.

I. Quá trình phát triển điện hạt nhân và xu hướng hiện nay trên thế giới

Các giai đoạn phát triển trước đây của điện hạt nhân

Bức tranh toàn cảnh của ngành điện hạt nhân kể từ thời điểm xuất hiện lò phản ứng hạt nhân đầu tiên ( do Enrico Fermi chế tạo, khởi động vào tháng 12/1942 ) cho thấy về đại thể, có thể chia quá trình phát triển điện hạt nhân thành những giai đoạn như sau :

1) Giai đoạn chứng minh, gồm thập niên đầu tiên ( 1941 – 1950 ) dành cho việc chứng minh kỹ thuật, rằng các lò phản ứng năng lượng có thể được thiết kế, xây dựng và vận hành hiệu quả; và thập niên thứ hai ( 1951 – 1960 ) để chứng minh kinh tế, rằng chúng có thể được sử dụng hợp lý về mặt thương mại;

2) Giai đoạn phát triển lần đầu, gồm thập niên thứ ba ( 1961 – 1970 ) mục kích sự đi lên của một ngành công nghiệp có sức cạnh tranh mạnh mẽ; và thập niên thứ tư ( 1971 – 1980 ) đánh dấu bởi sự kết hợp giữa sự phát triển thương mại nhanh chóng cùng với sự tăng cường quản lý nhà nước của các quốc gia;

3) Giai đoạn giằng co, gồm thập niên thứ năm ( 1981 – 1990 ), được đánh dấu bởi sự hợp tác quốc tế mạnh mẽ trong lĩnh vực an toàn hạt nhân và sự khẳng định công nghiệp hạt nhân được củng cố sau thảm họa Chernobyl ( 1986 ) sẽ cung cấp một nguồn điện năng an toàn và đáng tin cậy; cũng trong thời gian đó, niềm tin của công chúng và khả năng cạnh tranh về kinh tế của điện hạt nhân bị suy giảm nghiêm trọng đã làm cho tốc độ xây dựng điện hạt nhân hầu như bị chững lại, một số nước thậm chí còn có chủ trương loại bỏ điện hạt nhân như Đức, Thụy Điển; thập niên thứ sáu ( 1991 – 2000 ) cho thấy những khuynh hướng trái ngược nhau đối với việc sử dụng điện hạt nhân, đồng thời cũng cho thấy triển vọng của việc sử dụng điện hạt nhân hứa hẹn sẽ tốt đẹp hơn so với mấy thập niên trước.

Xu hướng phát triển hiện nay của một số nước trên thế giới

Hiện nay, chúng ta đang ở vào những năm cuối của thập niên thứ bảy ( 2001 – 2010 ). Theo số liệu mới nhất ( Xem Bảng I [1] ), vào tháng 7/2008 thế giới có 439 lò phản ứng hạt nhân năng lượng đang vận hành tại 30 nước với tổng công suất lắp đặt là 371.989 MW(e), 36 lò phản ứng đang xây dựng và 93 lò phản ứng đã được đưa vào kế hoạch xây dựng. Nếu xem xét tình hình hoạt động của ngành công nghiệp điện hạt nhân trong những năm đầu của thế kỷ XXI, có thể thấy, tuy số lượng các lò phản ứng đang vận hành cũng như đang xây dựng chưa có nhiều thay đổi, nhưng số lượng các lò phản ứng đã đưa vào kế hoạch xây dựng có những biến chuyển đáng kể (18 nước đang có kế hoạch xây dựng mới các lò phản ứng hạt nhân) và đặc biệt 31 nước – trong đó có Việt Nam - đang đề nghị xây dựng 219 lò phản ứng mới. Những dấu hiệu đó cho thấy ngành điện hạt nhân đang chuẩn bị bước vào một giai đoạn mới, Giai đoạn phát triển lần thứ 2.

Các thông tin từ đầu năm 2008 cho thấy một số nước đang dự tính hoặc đã quyết định đưa vào sử dụng lại ( từ trạng thái dừng lò dài ngày ), nâng công suất hoặc kéo dài tuổi thọ của các lò phản ứng hạt nhân hiện hữu. Một số quốc gia khác (mà Hoa Kỳ là trường hợp nổi bật nhất), đã thành công rực rỡ trong việc nâng cao hệ số sử dụng lò phản ứng (đạt trên 90% so với giá trị bình quân khoảng 65% trước đây), cho nên cũng nâng cao đáng kể phần đóng góp của điện hạt nhân trong tổng sản lượng điện của quốc gia.

II. Thử tìm hiểu định hướng phát triển năng lượng của các nước và xu hướng quay lại sử dụng điện hạt nhân

Nhu cầu về năng lượng và những yêu cầu đối với các giải pháp đáp ứng

Trong thời gian hơn một thập niên qua, thế giới ngày càng nhận thức rõ hơn về hai vấn đề, một là sự ô nhiễm môi trường nguy hiểm ở phạm vi toàn cầu đang gây nên bởi việc sử dụng ở mức quá cao các nhiên liệu hóa thạch, và hai là các nguồn nhiên liệu này đã bước vào thời kỳ khan hiếm không thể tiếp tục sử dụng thoải mái với giá rẻ như trước. Đứng trước sức ép của tình hình cung cấp và sử dụng năng lượng và của yêu cầu bảo vệ môi trường toàn cầu, mỗi nước đều phải có những tính toán để định hướng chiến lược phát triển năng lượng cho phù hợp với điều kiện thiên nhiên và xã hội đặc thù của mình.

Những nhà hoạch định chính sách của các nước thường nghĩ trước tiên tới một số giải pháp như tiết kiệm năng lượng, và xúc tiến nghiên cứu & phát triển các nguồn năng lượng tái tạo: mặt trời, gió, địa nhiệt, thủy triều, thủy năng, sinh khối, v.v. Tuy nhiên, các dạng năng lượng tái tạo thường không được phân bố đồng đều về mặt địa lý cũng như theo thời gian, và khả năng mà các quốc gia có thể khai thác, sử dụng các dạng năng lượng này cũng không giống nhau. Mặt khác, các công nghệ cần thiết để khai thác, sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo với hiệu quả đủ để cạnh tranh với các nguồn năng lượng cổ điển cũng chưa được phát triển nhiều. Các số liệu thống kê sẵn có về tài nguyên năng lượng tái tạo cũng chưa bảo đảm độ dày và mức độ chính xác cần thiết cho việc thiết kế phương án khai thác các nguồn năng lượng này ở quy mô công nghiệp.

Gần đây, một số nước đã quyết định mở rộng sản xuất ê-ta-nol hoặc dầu điê-zen sinh học từ sản phẩm nông nghiệp, nhằm sản xuất ra một số nhiên liệu nhân tạo để thay cho xăng hoặc dầu điê-zen. Tuy nhiên, giải pháp này đã nhanh chóng gây khó khăn cho nông nghiệp, vì người ta đã phải rút bớt đất trồng cây lương thực để chuyển sang khai thác cây năng lượng. Giá cả lương thực, thực phẩm trên thị trường thế giới đã nhanh chóng tăng cao, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của hàng trăm triệu người.

Việc đẩy mạnh khai thác các nguồn năng lượng tái tạo cần được khuyến khích, tuy nhiên theo ý kiến của nhiều chuyên gia, trong điều kiện kinh tế - kỹ thuật hiện nay thì khả năng tham gia thực tế của chúng vào cơ cấu nguồn năng lượng sẽ khó vượt qua 20%.

Như vậy, các nhà hoạch định chiến lược phát triển năng lượng rốt cuộc đã phải quay về với giải pháp phát triển điện hạt nhân, mặc dù bên cạnh những ưu điểm rất rõ nét, các vấn đề “cố hữu” của năng lượng hạt nhân sẽ được giải quyết đến mức nào còn phụ thuộc vào các biện pháp cụ thể mà mỗi quốc gia sẽ chọn lựa. Các chiến lược phát triển năng lượng đều phải căn cứ vào điều kiện đặc thù của từng quốc gia, kể cả những mối quan hệ đối ngoại mà quốc gia đó thiết lập được để bảo đảm an ninh cung cấp năng lượng. Phần lớn các nước chọn định hướng kết hợp hài hòa các biện pháp tiết kiệm năng lượng và khai thác các nguồn năng lượng khả dụng theo hướng đẩy mạnh sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo trong phạm vi hợp lý đồng thời đẩy mạnh sử dụng điện hạt nhân.

Các giải pháp đáp ứng nhu cầu gia tăng năng lượng hiện nay cần phải thỏa mãn các đòi hỏi về tính kinh tế, tính an toàn, tính an ninh/ổn định trong cung cấp năng lượng và tính ưu việt trong nhiệm vụ bảo vệ môi trường.

Năng lượng hạt nhân đáp ứng như thế nào các đòi hỏi đó ?

Về tính kinh tế :

Do phải đáp ứng các yêu cầu đặc biệt để bảo đảm an toàn, cho nên chi phí đầu tư để xây dựng nhà máy điện hạt nhân thường đắt hơn so với nhà máy nhiệt điện chạy than hoặc khí có cùng công suất. Điều này gây ảnh hưởng nhất định vào giá thành điện năng, đặc biệt nếu việc xây dựng không tuân thủ được tiến độ đã đề ra. Ngược lại, chi phí cho nhiên liệu hạt nhân là rất thấp so với các nhiên liệu khí hoặc than, do vậy giá thành điện hạt nhân ít nhạy cảm hơn đối với những biến động về giả cả nhiên liệu. Các bảng IIa, IIb [2] được tính toán vào năm 2005 cho thấy rõ tính cạnh tranh của điện hạt nhân khi so sánh giá thành điện năng theo các loại nhà máy điện hạt nhân, điện than và điện khí. Với giá thị trường của nhiên liệu hóa thạch tăng gấp nhiều lần từ năm 2005, hiện nay tính cạnh tranh về kinh tế của điện hạt nhân càng được củng cố.

Về tính an toàn :

Do ý thức được sự nguy hiểm tiềm tàng của việc sử dụng năng lượng hạt nhân, ngành điện hạt nhân ngay từ đầu đã nhận được sự quan tâm lớn hơn mọi ngành khác đối với vấn đề an toàn. Từ thập niên 80, sau thảm họa Chernobyl ngành công nghiệp điện hạt nhân đã có những cố gắng lớn để rà soát các biện pháp an toàn của các nhà máy đang hoạt động và bổ sung nhiều biện pháp hiệu quả đối với các nhà máy được xây dựng mới, nhờ vậy đã làm cho nhà máy điện hạt nhân thuộc các thế hệ mới được bảo đảm an toàn tốt hơn gấp bội. Kết quả là từ sau tai nạn Chernobyl, đến nay đã trải qua trên 22 năm nhưng ngành điện hạt nhân đã không để xảy ra bất kỳ một tai nạn nào gây chết người hoặc tác hại nghiêm trọng đến môi trường. Nếu các biện pháp bảo đảm an toàn tiếp tục được tuân thủ nghiêm ngặt thì việc sử dụng điện hạt nhân sẽ giữ vững ưu thế về an toàn trong khai thác năng lượng so với các loại hình công nghệ khác.

Về tính an ninh ổn định trong cung cấp năng lượng :

Việc đưa năng lượng hạt nhân tham gia vào cơ cấu nguồn năng lượng đã cho phép nhiều quốc gia đa dạng hóa việc cung cấp năng lượng, là biện pháp bảo đảm an ninh mà các nước thường sử dụng. Nhiên liệu hạt nhân là một dạng năng lượng có độ tập trung cao, cho nên vấn đề chuyên chở, tích trữ nhiên liệu này là rất thuận lợi so với các nguồn nhiên liệu than hoặc khí. Giá cả nhiên liệu hạt nhân cũng rẻ, cho nên việc dự trữ một khối lượng nhiên liệu này để sử dụng trong thời gian dài, nếu cần, cũng không đặt ra những vấn đề kinh tế quá bất hợp lý. Dù giá cả nhiên liệu có biến động, thì nó ảnh hưởng đến giá thành điện hạt nhân cũng không nhiều do đó vấn đề giá thành sản xuất điện hạt nhân sẽ được bảo đảm ổn định.

Về tính ưu việt trong nhiệm vụ bảo vệ môi trường, khác với các nhà máy nhiệt điện than hoặc khí, nhà máy điện hạt nhân về cơ bản không thải ra môi trường các loại khí nhà kính, đặc biệt không phát thải khí CO2. Nhờ các biện pháp an toàn bức xạ và bảo vệ môi trường hết sức nghiêm ngặt, cho nên mức độ ô nhiễm phóng xạ đối với môi trường do nhà máy điện hạt nhân gây nên trong hoạt động bình thường đã được giảm thiểu đến mức không đáng kể, và ít hơn nhiều bậc so với các nhà máy nhiệt điện cùng công suất.

Với những tính năng và ưu điểm nêu trên, nhiều nước đã nhận thức ra rằng năng lượng hạt nhân chính là nguồn năng lượng có khả năng đầy đủ nhất để sẵn sàng thay thế các nguồn năng lượng cổ điển đang ngày càng vơi đi và thêm đắt đỏ, và mặt khác cũng không còn phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường trong phạm vi toàn cầu khi nồng độ CO2 trong khí quyển trái đất đã tăng cao đến mức báo động.

III. Việt Nam cần phải làm gì để đi vào sử dụng năng lượng hạt nhân ?

Tháng 10-2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 176/2004/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược phát triển ngành điện Việt Nam giai đoạn 2004 – 2010, định hướng đến năm 2020. Trong Điều 1, Quyết định đã nêu quan điểm phát triển, trong đó có ghi :

- Sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn năng lượng sơ cấp của đất nước như nguồn thuỷ năng (…), khí, dầu, than cho sản xuất điện, áp dụng thiết bị, sử dụng khoa học, công nghệ tiên tiến và giảm ô nhiễm môi trường.

- Tiếp tục khảo sát, nghiên cứu, chuẩn bị các điều kiện để xây dựng nhà máy điện nguyên tử (sau năm 2015) đảm bảo an toàn tuyệt đối trong sử dụng, nhằm đa dạng hoá các nguồn năng lượng.

- Đẩy mạnh nghiên cứu phát triển các dạng năng lượng mới và tái tạo để đáp ứng nhu cầu sử dụng điện, đặc biệt đối với các hải đảo, vùng sâu, vùng xa.”

Để làm tốt nhiệm vụ khảo sát, nghiên cứu, chuẩn bị các điều kiện để xây dựng nhà máy điện hạt nhân, chúng ta cần quan tâm tới một số vấn đề sau đây :

- Cần có nhận thức đúng và đầy đủ về những ưu điểm và nhược điểm của năng lượng hạt nhân; chuẩn bị đưa điện hạt nhân vào khai thác, sử dụng trong một tổng thể hài hòa các nguồn năng lượng, phù hợp với yêu cầu bảo tồn lâu dài và khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên của đất nước, yêu cầu bảo đảm an ninh/ổn định cung cấp năng lượng và bảo vệ môi trường của đất nước và toàn cầu, phục vụ cho sự phát triển bền vững và hội nhập quốc tế và khu vực.

- Chuẩn bị tốt chương trình phát triển năng lượng hạt nhân và dự án của từng nhà máy; lựa chọn những biện pháp thích hợp nhất để phát huy các ưu điểm, hạn chế và khắc phục các nhược điểm của phương án hạt nhân, nhất là đối với những nhược điểm được xem như là “cố hữu” của điện hạt nhân; triển khai các cố gắng cao nhất cho việc hoàn thành nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam.

- Tích cực xây dựng các ngành công nghiệp phụ trợ để tiến dần tới khả năng nội địa hóa sản xuất các linh kiện, cấu kiện, thiết bị của nhà máy điện hạt nhân; tích cực triển khai các đề tài, chương trình nghiên cứu và phát triển về khoa học và công nghệ hạt nhân.

- Tích cực đào tạo, thu hút, sử dụng các chuyên gia cần thiết để phát triển mạnh mẽ ngành năng lượng hạt nhân của nước ta.

Tháng 08-2008

Bảng I - Lò phản ứng hạt nhân năng lượng 7-2008 và nhu cầu về Uran [1]

Nguồn : Số liệu về lò phản ứng : WNA đến 31-07-08. IAEA - về sản xuất điện hạt nhân & tỷ lệ so với tổ sản lượng điện (% e) 5/08. WNA: Thị trường năng lượng hạt nhân (phương án cơ bản) - cho U.

Quốc Gia SẢN LƯỢNG ĐIỆN HẠT NHÂN 2007 LÒ PHẢN ỨNG ĐANG HOẠT ĐỘNG 7/2008 LÒ PHẢN ỨNG ĐANG XÂY DỰNG 7/2008 LÒ PHẢN ỨNG ĐÃ QUY HOẠCH 7/2008 LÒ PHẢN ỨNG ĐƯỢC ĐỀ NGHỊ 7/2008 NHU CẦU URAN 2008
* Tỷ kWh (% e) MWe (LÒ) MWe (LÒ) MWe (LÒ) MWe (LÒ) Tấn U
Ac-hen-ti-na 6,7 (6,2%) 935 (2) 692 (1) 740 (1) 740 (1) 123
Ac-mê-nia 2,35 (43,5%) 376 (1) 0 (0) 0 (0) 1000 (1) 51
Băng-la-đét 0 (0%) 0 (0) 0 (0) 0 (0) 2000 (2) 0
Bê-la-rút 0 (0%) 0 (0) 0 (0) 2000 (2) 0 (0) 0
Bỉ 46 (54%) 5728 (7) 0 (0) 0 (0) 0 (0) 1011
Bra-zin 11,7 (2,8 %) 1901 (2) 0 (0) 1245 (1) 4000 (4) 303
Bun-ga-ria 13,7 (32%) 1906 (2) 0 (0) 1900 (2) 0 (0) 261
Ca-na-da 88,2 (14,7%) 12652 (18) 1500 (2) 3300 (3) 4400 (4) 1665
Trung Quốc 59,3 (1,9 %) 8587 (11) 6700 (7) 26320 (24) 62600 (76) 1396
Cộng Hòa Séc 24,6 (30,3 %) 3472 (6) 0 (0) 0 (0) 3400 (2) 619
Ai Cập 0 (0%) 0 (0) 0 (0) 0 (0) 1000 (1) 0
Phần Lan 22,5 (29 %) 2696 (4) 1600 (1) 0 (0) 1000 (1) 1051
Pháp 420,1 (77 %) 63473 (59) 1630 (1) 0 (0) 1600 (1) 10527
Đức 133,2 (26 %) 20339 (17) 0 (0) 0 (0) 0 (0) 3332
Hung-ga-ry 13,9 (37%) 1826 (4) 0 (0) 0 (0) 2000 (0) 271
Ấn Độ 15,8 (2,5%) 3779 (17) 2976 (6) 8560 (10) 4800 (9) 978
In-đô-nê-sia 0 (0%) 0 (0) 0 (0) 2000 (2) 2000 (2) 0
I-ran 0 (0%) 0 (0) 915 (1) 1900 (2) 300 (1) 143
Ix-raen 0 (0%) 0 (0) 0 (0) 0 (0) 1200 (1) 0
Nhật Bản 267 (27,5%) 47577 (55) 2285 (2) 14945 (11) 1100 (1) 7569
Ka-zắc-xtan 0 (0%) 0 (0) 0 (0) 0 (0) 300 (1) 0
Triều Tiên (Bắc) 0 (0%) 0 (0) 0 (0) 950 (1) 0 (0) 0
Hàn Quốc 136,6 (35,3%) 17533 (20) 3000 (3) 6600 (5) 0 (0) 3109
Li-tua-nia 9,1 (64,4%) 1185 (1) 0 (0) 0 (0) 3400 (2) 225
Mê-hi-cô 9,95 (4,6%) 1310 (2) 0 (0) 0 (0) 2000 (2) 246
Hà Lan 4,0 (4,1%) 485 (1) 0 (0) 0 (0) 0 (0) 98
Pa-ki-xtan 2,3 (2,34%) 400 (2) 300 (1) 600 (2) 2000 (2) 65
Ru-ma-nia 7,1 (13%) 1310 (2) 0 (0) 1310 (2) 655 (1) 174
Nga 148 (16%) 21743 (31) 4920 (7) 11960 (10) 22280 (25) 3365
Xlo-va-kia 14,2 (54%) 2064 (5) 840 (0) 0 (0) 1200 (1) 313
Xlo-vê-nia 5,4 (42%) 696 (1) 0 (0) 0 (0) 1000 (1) 141
Nam Phi 12,6 (5,5%) 1842 (2) 0 (0) 165 (1) 4000 (24) 303
Tây Ban Nha 52,7 (17,4%) 7442 (8) 0 (0) 0 (0) 0 (0) 1398
Thụy Điển 64,3 (46%) 9016 (10) 0 (0) 0 (0) 0 (0) 1418
Thụy Sĩ 26,5 (43%) 3220 (5) 0 (0) 0 (0) 4000 (3) 537
Thái-Lan 0 (0%) 0 (0) 0 (0) 0 (0) 4000 (4) 0
Thổ Nhĩ Kỳ 0 (0%) 0 (0) 0 (0) 0 (0) 4500 (3) 0
U-cra-in 87,2 (48%) 13168 (15) 0 (0) 1900 (2) 27.000 (20) 1974
Anh 57,5 (15%) 11035 (19) 0 (0) 0 (0) 0 (0) 2199
Hoa Kỳ 806,6 (19,4%) 99049 (104) 0 (0) 15.000 (12) 26.000 (20) 18918
Việt Nam 0 (0%) 0 (0) 0 (0) 0 (0) 2000 (2) 0
WORLD 2608 (16%) 371.989 (439) 29.958 (36) 101.395 (93) 195.875 (219) 64.615

Bảng IIa - Giá thành điện năng theo các loại nhà máy điện

( Hế số chiết khấu: 5% ) [2]

Quốc Gia Hạt nhân Than Khí
Phần Lan 2,76 3,64 *
Pháp 2,54 3,33 3,92
Đức 2,86 3,52 4,90
Thụy Sĩ 2,88 * 4,36
Hà Lan 3,58 * 6,04
CH Sec 2,30 2,94 4,97
Xlo-va-kia 3,13 4,78 5,59
Ru-Ma-Ni 3,06 4,55 *
Nhật Bản 4,80 4,95 5,21
Hàn Quốc 2,34 2,16 4,65
Hoa Kỳ 3,01 2,71 4,67
Ca-na-da 2,60 3,11 4,00

Bảng IIb - Giá thành điện năng theo các loại nhà máy điện

( Hệ số chiết khấu 10% ) [2]

Quốc Gia Hạt nhân Than Khí
Phần Lan 4,22 4,45 *
Pháp 3,93 4,42 4,30
Đức 4,21 4,09 5,00
Thụy Sĩ 4,38 * 4,65
Hà Lan 5,32 * 6,26
CH Sec 3,17 3,71 5,46
Xlo-va-kia 4,55 5,52 5,83
Ru-Ma-Ni 4,93 5,15 *
Nhật Bản 6,86 6,91 6,38
Hàn Quốc 3,38 2,71 4,94
Hoa Kỳ 4,65 3,65 4,90
Ca-na-da 3,71 4,12 4,36

Đơn vị tính : US cents/kWh, thời gian hoạt động 40 năm, hệ số phụ tải 85%. Nguồn: OECD/IEA NEA 2005.

Tài liệu tham khảo

[1] World Nuclear Power Reactors 2008-08 and Uranium Requirements

http://www.world-nuclear.org/info/reactors.html