NewYork Paris Hà Nội Khách thứ :

NIỀM TIN TƯƠNG LAI

     

Mong góp sức mình phát triển ngành Kỹ thuật Y sinh Việt Nam - GS TS Võ Văn Tới , Kiều bào Mỹ

Giáo sư Tiến sĩ Võ Văn Tới là người Mỹ gốc Việt, hiện đang giảng dạy tại trường Đại học Tufts (Hoa Kỳ), ông là người đã tạo ra chương trình Ứng dụng những giải pháp kỹ thuật cho các vấn đề y tế (Biomedical Engineering - BE), ông cũng có công trong việc thành lập khoa BE của Đại học Tufts. Tại đây, GSTS Võ Văn Tới đang tiến hành việc thành lập một Phân khoa ảo về Kỹ thuật Y sinh, nhằm đào tạo cho sinh viên Việt Nam về một ngành học còn mới mẻ với trong nước, nhưng lại đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới và có tầm quan trọng không nhỏ trong sự phát triển của nền kinh tế đất nước.

Mô hình “Phân khoa ảo - tự lực cánh sinh” :

Đầu tháng Giêng 2004, dưới sự hướng dẫn của GS Võ Văn Tới, một phái đoàn gồm các giáo sư, chuyên viên và khoa học gia Hoa Kỳ, được sự bảo trợ của Viện Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (National Science Foundation - NSF), đã đến thăm một số Viện nghiên cứu và trường đại học tại Hà Nội, TPHCM và Cần Thơ. Mục đích của chuyến đi này là để thẩm định những nhu cầu căn bản của ngành Công nghệ Y sinh tại VN, từ đó đoàn sẽ đề nghị với VN những biện pháp thiết yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghệ này, đồng thời đẩy mạnh sự hợp tác giữa các cộng đồng khoa học Hoa Kỳ và VN trong tương lai.

Công nghệ Y sinh (gọi tắt là VBME) là gì? Đó là một bộ môn đa ngành, nó nối liền các ngành khoa học tự nhiên và y tế với các ngành như kỹ thuật, lý hóa và toán học. Ngành này áp dụng các kỹ thuật tiên tiến để phát triển các phương pháp nghiên cứu và chế tạo trang thiết bị nhằm phục vụ an sinh cho con người và cũng để tìm hiểu các quá trình sinh học của con người. VBME rất đa dạng với nhiều ngành khác nhau như ngành thiết bị y tế, chấn thương phục hồi, nghiên cứu về gen, ứng dụng công nghệ thông tin trong y khoa…Trên thế giới, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, trong những năm qua VBME đã phát triển vô cùng nhanh chóng. Còn ở VN thì sao? GSTS Võ Văn Tới cho biết: “Các nhà khoa học Hoa Kỳ đánh giá rất cao về tiềm năng phát triển VBME của VN. Chúng tôi đã đưa ra một kế hoạch 5 năm để giúp VN phát triển về ngành này. Hiện nay chúng tôi đang làm bản tường trình về chuyến đi khảo sát vừa qua. Mỗi cá nhân trong đoàn sẽ tìm cách để thực hiện dự án này, nhưng quan trọng nhất là phía VN phải có người đứng ra thực hành”.

Có thể thấy rằng đây là một cơ hội hợp tác quý báu cho cả hai nước trong việc đóng góp vào sự phát triển của ngành Công nghệ Y sinh tại VN, và cũng là cơ hội cho sự hợp tác hữu ích giữa các nhà giáo dục và nghiên cứu ở cả hai quốc gia. Bởi vì, hiện nay VN chưa có những công nghệ tiên tiến và tri thức ứng dụng rộng rãi, nhưng VN đã có những nhà nghiên cứu có khả năng chuyên môn cao. Trong bản “Đề nghị một số biện pháp để phát triển hợp tác trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Công nghệ Y sinh giữa Việt Nam và Hoa Kỳ”, GS Tới đã đề nghị một kế hoạch vừa và dài hạn. Theo kế hoạch này, việc đầu tiên GS Tới sẽ giúp trường Đại học Bách khoa TPHCM tổ chức một Hội nghị quốc tế về Công nghệ Y sinh, dự kiến sẽ diễn ra vào tháng 07.2005.

Trong những ngày tháng 07.2004 này, GS Tới đã về nước cùng một số giáo sư hàng đầu của Hoa Kỳ và đã làm việc với ĐH Bách khoa TPHCM để lên chương trình Hội nghị, cũng như tìm kiếm nguồn tài trợ. GS Tới hy vọng sẽ có nhiều trường Đại học, Viện nghiên cứu trong nước cùng hợp tác để Hội nghị thành công.

Trong tư cách là thành viên Hội đồng Quản trị Quỹ Giáo dục Việt Nam 2000 (VEF) của Chính phủ Mỹ, GS Tới đã bắt đầu thực hiện kế hoạch lâu dài của mình cho việc phát triển Công nghệ Y sinh ở Việt Nam. Trong đợt tuyển chọn du học sinh VN của VEF trong tháng 4 vừa qua, đã có 3 sinh viên được nhận vào học tại Trường Đại học Tufts nơi GS Tới đang giảng dạy, và với sự giới thiệu của ông, ĐH Tufts cũng đã miễn học phí cho các sinh viên này. GS Tới hồ hởi cho biết, tháng 09.2004, với 3 sinh viên này, Phân khoa ảo về Kỹ thuật Y sinh (gọi tắt là BME) do ông sáng lập dành cho sinh viên VN sẽ bắt đầu hoạt động. Đây chính là nội dung quan trọng trong kế hoạch lâu dài mà GS Tới đưa ra trong việc phát triển Công nghệ Y sinh ở VN.

Là một chuyên gia lớn trong ngành VBME, GS Tới luôn trăn trở với việc làm thế nào để VBME có thể phát triển mạnh mẽ trên quê hương VN của mình. Bởi vì VN rất cần một đội ngũ các nhà giáo dục có năng lực và năng động trong ngành này. VBME là ngành không chỉ liên hệ đến vấn đề nghiên cứu cơ bản, hay thực dụng, mà nó còn liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế, công nghiệp của đất nước. GS Tới đã đề nghị Chính phủ VN đưa các nhà giáo dục, các nghiên cứu sinh sang Mỹ để họ có thể làm việc trong một nhóm từ 5 - 10 người. Họ sẽ được đào tạo để trở thành một thế hệ các nhà giáo mới cho ngành VBME. Nghĩa là, họ sẽ không chỉ am tường về chuyên môn của mình, mà còn hiểu rõ mối quan hệ ràng buộc giữa ba lĩnh vực: giáo dục, nghiên cứu và kinh thương (biến chuyển những sản phẩm tinh thần thành sản phẩm có giá trị tiêu thụ trên thị trường), và họ sẽ có khả năng áp dụng chuyên môn của mình trong cả ba lĩnh vực này.

GS Tới tỏ ra rất tâm đắc với mô hình Phân khoa ảo của mình. Ông nhấn mạnh: Các sinh viên học tập tại Phân khoa ảo này sẽ không chỉ nghiên cứu khoa học hay chỉ sử dụng máy móc thuần túy, mà họ còn phải học cách để tự lực cánh sinh nữa. Có nghĩa là họ phải biến những sáng chế, phát minh của mình thành các sản phẩm bán được trên thị trường, tạo ra một nguồn lợi tức. Cũng có nghĩa họ tạo ra được công cụ. Họ là những hạt nhân có đủ điều kiện để phát triển ở quê nhà, vì tình hình đất nước ta còn thiếu thốn về cơ sở hạ tầng, trong khi chúng ta có nhiều sinh viên giỏi, nhưng khi học tập ở nước ngoài về, họ lại không thể làm việc được vì thiếu điều kiện. Vậy thì Phân khoa ảo - Tự lực cánh sinh sẽ được “nuôi nấng” tại một viện nghiên cứu ở Hoa Kỳ (mà trước mắt là Đại học Tufts) cho đến khi nó trưởng thành và sẽ quay về VN với tri thức mới cùng với trang thiết bị mà họ đã quen sử dụng trong quá trình học tập, nghiên cứu tại Mỹ. Những thành viên của phân khoa này sẽ được trang bị những kiến thức mũi nhọn của Hoa Kỳ để có thể đưa những kỹ thuật mới nhất của quốc tế vào môi trường nước mình một cách hữu hiệu nhất. Như vậy, mô hình này không những tạo nên những sinh viên có năng lực, thuần thục các trang thiết bị khoa học, mà còn giúp họ quen thuộc với một cơ sở hạ tầng vững chắc, để khi quay trở lại VN họ tiếp tục hoạt động hữu hiệu. Đây cũng là cách để giúp VN tránh khỏi tình trạng chảy máu chất xám.

GS Tới mong muốn mô hình do ông sáng lập sẽ thành công và có thể áp dụng cho nhiều ngành học khác, để các du học sinh VN có điều kiện học tập, nghiên cứu và ứng dụng chuyên môn của mình khi trở về quê nhà. Điều gì khiến cho GS Tới, một người Việt xa quê gần 40 năm nay luôn trăn trở với nỗi khao khát không chỉ của một nhà khoa học, mà còn là nỗi niềm của một đứa con đối với quê Cha đất Tổ như vậy?

“Hai tiếng “Quê hương” đã thấm vào xương, tim óc, máu thịt tôi!”

Cuối năm 1968, chàng thanh niên Võ Văn Tới hăm hở đến đất nước Thụy Sĩ du học và lần lượt lấy bằng kỹ sư, tiến sĩ của ngành Công nghệ chuyên về các sản phẩm nhỏ (Micro Engineering). Với chuyên ngành là kỹ thuật Y sinh, chuyên môn về Nhãn khoa, anh đã sáng chế ra những thiết bị dùng để nghiên cứu về mắt, giúp chữa các bệnh như thiên đầu thống, bệnh mắt khô. Trên đất người (Thụy Sĩ và Mỹ), TS Tới đã được cấp 3 bằng sáng chế về Máy đo độ nhạy của mắt với ánh sáng chớp tắt (Thụy Sĩ), Máy có thể tự nhỏ thuốc vào mắt để chữa bệnh khô mắt, thiên đầu thống (Mỹ), Máy kiểm soát sự lưu thông của máu trong võng mạc (Mỹ) vào thời kỳ mà ngành Kỹ thuật Y sinh (BME) còn khá mới mẻ trên thế giới, chưa có một ngành BME cụ thể.

Với năng lực của mình, năm 1983, TS Tới được nhận học bổng của Chính phủ Thụy Sĩ trong chương trình hậu tiến sĩ, anh sang học tại đại học Harvard và Học viện Kỹ thuật Massachusettes (MIT) của Mỹ. Sau một năm rưỡi học tập, anh được nhận vào làm giáo sư tại trường Đại học Tufts và giảng dạy từ đó đến nay.

Có thể nói GSTS Võ Văn Tới là con người của sự sáng tạo. Anh không bao giờ chịu ngừng nghỉ trong tư duy, hoạt động. Ban đầu, khi mới dạy tại Tufts, do trường chưa có khoa Kỹ thuật Y sinh nên GS Tới giảng dạy về chế tạo những thiết bị cơ khí. Trong quá trình này, anh đã hướng dẫn cho sinh viên chế tạo ra chiếc xe hơi 2 chỗ ngồi chạy bằng năng lượng mặt trời, và tác phẩm này đã đoạt giải 3 tại cuộc thi xe chạy bằng năng lượng mặt trời toàn nước Mỹ, trong đó, giải nhất và nhì thuộc về hai công ty sản xuất xe hơi tư nhân.

Khi chuyển sang giảng dạy bộ môn điện tử và tin học, GS Tới đã đứng ra thành lập Chương trình đào tạo về Kỹ thuật Y sinh, đồng thời ông cũng làm Giám đốc Chương trình liên kết giữa Đại học Y khoa và Đại học Bách Khoa. Thông thường, chương trình đào tạo bác sĩ tại Mỹ phải trải qua 4 năm đầu ở một trường đại học nào đó, tiếp theo là 4 năm tại Đại học Y khoa thì mới được cấp bằng bác sĩ. Trong chương trình liên kết của GS Tới, sinh viên sẽ theo học 4 năm đầu tại ĐH Bách Khoa, một năm học thạc sĩ về Kỹ thuật Y sinh và học tiếp 4 năm về Y khoa để lấy bằng bác sĩ. GS Tới cho biết, mục đích của chương trình là đào tạo cho sinh viên có trình độ hiểu biết về chức năng kỹ thuật của ngành y khoa, vì ngành y ngày càng dựa vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật, vì thế bác sĩ cũng phải hiểu rõ về kỹ thuật. Đây là chuyên khoa đào tạo những khoa học gia về lĩnh vực này. Song song đó, GS Tới còn đảm nhiệm vai trò Giám đốc của Chương trình liên kết giữa ĐH Bách khoa và Nha khoa, cũng đào tạo theo chu trình trên cho bằng Nha sĩ.

Những chương trình trên đều do GS Tới đề xuất và đã phát triển rất nhanh. Bắt đầu thực hiện từ năm 1998, đến nay đã có 50 sinh viên tốt nghiệp chương trình này, và ĐH Tufts đã phát triển chương trình thành một phân khoa vào năm 2002. Với những sáng kiến và đóng góp của mình, GSTS Võ Văn Tới đã được trao giải “Giáo sư giỏi nhất năm 2004” về giảng dạy và định hướng cho trường do ĐH Tufts trao tặng.

Trước đó, năm 1990, GS Tới đã có công sáng lập và là Phó Giám đốc của Viện nghiên cứu về Mắt tại Sion, Thụy Sĩ. Cho đến nay, ông vẫn tiếp tục có những nghiên cứu về Mắt. Hiện ông đang nghiên cứu những tác động của từ trường, điện trường trên những tế bào có thể biến chuyển thành những tế bào khác, về khả năng tạo thành tế bào ung thư của chúng hay không.

“Là một người Việt Nam từ trong máu thịt, tim óc”, GS Tới tự nhận như thế, ông cũng là người đồng sáng lập tổ chức gồm các giáo sư gốc Việt ở Mỹ và Canada, nhằm cùng nhau trao đổi, nối kết những thông tin khoa học hoặc bàn bạc về vấn đề giáo dục ở VN… Nói về việc tại sao mình lại mong được góp phần vào việc phát triển ngành Kỹ thuật Y sinh của Việt nam, GS Tới chân thành: “Tôi là một người Việt Nam - điều đó đã thấm sâu vào tận óc, tim, máu thịt tôi rồi”. Có lẽ chính vì điều đó mà sau lần đầu tiên về thăm quê hương năm 1990, thui thủi một mình vì gia đình, bà con và bạn bè thân thiết đều đã định cư ở nước ngoài; buồn và lạc lõng khi cảm thấy “mình là người ngoại quốc” ngay trên chính quê hương mình, lòng thầm tự nhủ “sẽ không bao giờ về VN nữa”, để rồi khi trở lại sống trên xứ người, ông lại trăn trở với bao ray rứt về bổn phận của một người dân Việt. Đôi lúc ông tự trách mình “Ngày xưa sao học môn Giáo dục công dân kỹ quá làm chi, để bây giờ, những gì là trách nhiệm, là bổn phận của một người công dân cứ làm mình ray rứt mãi”! Vậy là ông lại tiếp tục trở về vì “không biết có cái gì đó cứ thúc đẩy tôi phải trở về, phải làm một điều gì đó góp phần xây dựng quê hương”.

Trở về với tư cách cá nhân, ông đến thăm và nói chuyện về nền giáo dục VN, về những suy tư, trăn trở của mình với đồng nghiệp và sinh viên ở các trường ĐH Bách khoa Hà Nội, Bách khoa TPHCM, ĐH Cần Thơ, và bây giờ là xúc tiến thực hiện kế hoạch phát triển ngành Kỹ thuật Y sinh của VN.

Giờ đây, mỗi khi trở về VN, GS Tới lại như thấy mình được trở về quê Cha đất Tổ, như được trở về gia đình mình, vì giờ đây ông đã có nhiều bè bạn chân thành và tin cậy, nhiệt tình, cởi mở, sẵn sàng giúp đỡ ông trong công việc, đưa ông đi thăm những phong cảnh quê hương mình. GS Tới lại được ăn lẩu mắm, cá kho, rau muống, canh chua…những món ăn bình dân thời nhỏ, nhưng với cuộc sống của một kiều bào nơi xứ người đã trở thành một nhu cầu, một nỗi nhớ. Bởi vì như ông nói, quê hương đã thấm sâu vào máu thịt ông rồi. Có lẽ đó cũng là lý do vì sao mà dù xa quê gần 40 năm qua, ông vẫn giữ nguyên được âm sắc đặc trưng trong giọng nói của người dân Sài Thành thứ thiệt. Ông “khoe” hai con mình đều được đặt tên Việt Nam là Xuân Mai và Anh Tuấn. Vợ ông là người Thụy Sĩ nhưng có lẽ yêu chồng, chịu ảnh hưởng từ chồng mà bà rất yêu VN, thích đàn tranh và học tiếng Việt. Thỉnh thoảng, gia đình GS Tới lại tổ chức một buổi hòa nhạc mini, ông thổi sáo đệm cho tiếng đàn tranh thánh thót của vợ mình…

Tố Phương